Tuyển tập thơ chữ Nôm Nguyễn Khuyến hay đặc sắc phần cuối



Nguyễn Khuyến là người có hồn thơ rất độc đáo. Thêm vào đó ông cũng là người nổi tiếng thanh liêm chính trực và trong sạch. Với tâm hồn rộng mở, giàu cảm xúc trước thiên nhiên Nguyễn Khuyến đã viết nhiều bài thơ giàu cảm xúc bằng chữ Nôm. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu bạn nhé!

Tặng đốc học Hà Nam

Nghĩ rằng ông dại với ông điên,
Điên dại sao ông biết lấy tiền?
Cậy cái bảng vàng treo nhị giáp,
Khoét thằng mặt trắng lấy tam nguyên.
Dấu nhà vừa thoát sừng trâu lỗ,
Phép nước xin chừa móng lợn đen.
Chỉ cốt túi mình cho nặng chặt,
Trăm năm mặc kệ tiếng chê khen.

Than già [Thân già]

Năm nào năm nảo hãy còn ngây,
Sầm sập già đâu đã đến ngay.
Mái tóc phần sâu, phần lốm đốm,
Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay.
Nhập nhèm bốn mắt tranh mờ tỏ,
Khấp khểnh ba chân dở tỉnh say.
Còn một nỗi này thêm chán ngán,
Đi đâu lủng củng cối cùng chày.

Than nghèo

Chẳng khôn cũng biết một hai điều
Chẳng tội gì hơn cái tội nghèo.
Danh giá dường này không nhẽ bán,
Nhân duyên đến thế hãy còn theo.
Tấm lòng nhi nữ không là mấy,
Bực chí anh hùng lúc túng tiêu.
Có lẽ phong trần đâu thế mãi,
Chốn này tình phụ, chốn kia yêu.

Than nợ

Quản chi công nợ có là bao!
Nay đã nên to đến thế nào?
Lãi mẹ lãi con sinh đẻ mãi,
Chục năm chục bảy tính nhiều sao?
Ra đường kẻ cả dừng chân hỏi,
Vào cửa người sang ngửa mặt chào.
Quyết chí phen này trang trải sạch,
Cho đời rõ mặt cái thằng tao.

Thầy đồ mắc lừa gái

Nắng mưa lần lữa tháng ngày,
Cô tiêu đã lắm thầy vay cũng nhiều.
Yêu người, người lại chẳng yêu,
Chiều hoa, hoa lại chẳng chiều mới căm.
Có đêm thanh vắng bóng hằng,
Thầy đương dở chén cô băng vội nằm,
Trời mưa dở trống canh năm,
Vớ đôi áo mỏng với dăm áo dày.
Thầy đương dở giấc nào hay,
Tỉnh ra cô đã bỏ thầy cô đi…

Thơ khuyên học

Đen thì gần mực, đỏ gần son,
Học lấy cho hay, con hỡi con!
Cái bút, cái nghiên là của quý,
Câu kinh, câu sử, ấy mùi ngon!
Vàng mua chứa để, vàng hay hết,
Chữ bán dư ăn, chữ hãy còn.
Nhờ Phật một mai nên đấng cả,
Bõ công cha mẹ mới là khôn.

Thu ẩm [Uống rượu mùa thu; Mùa thu ngồi mát uống rượu; Dạ toạ ngẫu tác]

Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè.
Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt,
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe.
Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt?
Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe.
Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy.
Độ năm ba chén đã say nhè.

Thu điếu [Câu cá mùa thu; Mùa thu ngồi mát câu cá; Thu dạ điếu đĩnh]

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối, ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.

Thú quê [Điền gia tự thán; Điền gia ngữ; Thuật đồ gian phụ nữ tương thoại điền gia kế; Chốn quê; Làm ruộng]

Mấy năm làm ruộng vẫn chân thua,
Chiêm mất đằng chiêm, mùa mất mùa.
Phần thuế quan Tây, phần trả nợ,
Nửa công đứa ở, nửa thuê bò.
Sớm trưa dưa muối cho qua bữa,
Chợ búa trầu chè chẳng dám mua.
Cần kiệm thế mà không khá nhỉ,
Bao giờ cho biết khỏi đường lo?

Thu vịnh [Vịnh mùa thu; Mùa thu ngồi mát ngâm thơ]

Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao,
Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu.
Nước biếc trông như tầng khói phủ,
Song thưa để mặc bóng trăng vào.
Mấy chùm trước giậu hoa năm ngoái,
Một tiếng trên không ngỗng nước nào?
Nhân hứng cũng vừa toan cất bút,
Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào.

Tổng vịnh Kiều

Kiều nhi giấc mộng khéo như cười,
Tỉnh dậy xuân xanh quá nửa rồi,
Số kiếp bởi đâu mà lận đận?
Sắc tài cho lắm cũng lôi thôi!
Cành hoa vườn Thuý duyên còn bén,
Giọt nước sông Tiền nợ chửa xuôi.
Chẳng trách chàng Kim đeo đẳng mãi,
Khăng khăng vớt lấy một phần đuôi.

Trọc đầu

Trải gió, dầm mưa đã lắm rồi,
Phen này cắt tóc để làm tôi.
Trơn tru chẳng có còn ai cứ
Lông lốc tha hồ để mẹ bôi
Cái lược từ đây khôn lối gỡ,
Con đen thôi hẳn hết đường chui;
Cũng toan rắp tiếng làm sư cụ,
Nghĩ lại, song mà chửa chính ngôi.

Trời nói (I)

Chót vót trên này có một tao!
Nào tao có muốn nói đâu nào!
Da tao xanh ngắt, pha đen trắng,
Chỉ tại dì Oa vá váy vào!

Trời nói (II)

Cao cao muôn trượng ấy là tao,
Dẫu pháo thăng thiên chẳng tới nào.
Nhắn nhủ dưới trần cho chúng biết,
Tháng ba, tháng tám tớ mưa rào.

Tự thuật [Hí tác; Ngẫu hứng; Vọng tưởng hí tác]

Tháng ngày thấm thoắt tựa chim bay,
Ông ngẫm mình ông, nghĩ cũng hay!
Tóc bạc bao giờ không biết nhỉ?
Răng long ngày trước hãy còn đây!
Câu thơ chửa được, thưa rằng được,
Chén rượu say rồi, nói chửa say.
Kẻ ở trên đời lo lắng cả,
Nghĩ ra ông sợ cái ông này.

Tự trào [Cảm hứng; Đề ảnh]

Cũng chẳng giàu mà cũng chẳng sang,
Chẳng gầy chẳng béo, chỉ làng nhàng.
Cờ đương dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
Mở miệng nói ra gàn bát sách,
Mềm môi chén mãi tít cung thang.
Nghĩ mình lại ngán cho mình nhỉ,
Mà cũng bia xanh, cũng bảng vàng.

Văn tế mẹ làm hộ người cùng xã

Trước linh sàng khóc mà than rằng:
Bóng câu thấp thoáng, cõi phù sinh tính nát cuộc tang thương!
Hồn bướm bâng khuâng, giấc đại mộng đánh nhào cơn tạo hoá.

Thôi, có không không có cũng là không!
Dẫu chẳng khá, khá chăng sao chẳng khá?

Nhớ từ thuở:
Cung nguyệt trao tơ;
Vườn đào kết lá.

Nhớ tiên ấm sẵn nền phú hữu, nghĩ phận gái giầu ăn khó chịu, không tham phân bạc đồng tiền;
Theo nghiêm quân hết dạ hiếu thành, thờ bề trên sớm viếng tối thăm, chẳng quản mùa đông tháng giá.

Sớm khuya chăm việc cấy cày;
Kim chí đủ đường may vá.

Lúc phong vũ đeo điều tố tụng, mấy độ lên đồn xuống phủ, chín nghé khôn thay ngón thỏ, đường khang trang mà nhớ bước chông gai.
Trong khuê phòng nghĩ đạo nghi gia, một tay ra bể vào ngòi, trăm dâu đổ lại đầu tằm, lúc tân khổ vẫn bền gan sắt đá.

Vững tay co một chút động lay gì;
Khéo bụng nghĩ trăm đường êm đẹp cả.

Quanh gối kể mười dư con cháu, gặp buổi song đường cụ khánh, trên vầng loan, dưới chồi quế đã sum vầy;
Treo gương đều sáu lẻ xuân thu, tưởng rằng bách tuế vi kỳ, mặc áo vẻ, chuốc chén quỳnh cho hể hả.

Nào ngờ:
Sao vụ mây ngang;
Cành dâu bóng ngả!

Cơm cháo không đành;
Thuốc thang chẳng đỡ!

Mây trắng mấy tầng cao thẳm, trông một ngày, một vắng tăm hơi;
Tuổi xanh đôi lũ ngây thơ, kể càng lắm càng thêm buôn bã.

Ngao ngán nhẽ! Nhà đã xác lại gặp năm Quý Tị, nước trong đồng trắng mênh mông;
Chua xót thay! Người về già vừa đúng hội khiên ngưu, hàng lệ hạt châu lã chã!

Kiếp hoá sinh vui ít buồn nhiều;
Nợ hoài bão dễ vay khó trả!

Quán khách trong ba chén rượu, tan cuộc rồi say tỉnh biết về đâu!
Lối trên nên một trận cờ, xong bàn ấy được thua rồi cũng xoá.

Thôi, thôi, thôi!
Xe hạt khơi chừng;
Gương loan nửa phá!

Trông thấy đất vàng một nấm, tưởng đến chữ thuỷ lưu hoạ tạ sẵn trăm năm dài vắn có là chi;
Đoái thương tóc bạc trên nhà, tưởng đến lời hải thệ sơn minh, dẫu trăm mối tơ vò khôn gác quá!

Rầy nhân:
Tiết đến lễ thường;
Lễ theo thói chạ.

Lòng từ nén hương ngọn nến, dâng một lời đã thấu cho chưa?
Nhà thanh đĩa muối lưng dưa, dưới chín suối có hay chăng tá!

Phụng duy thượng hưởng!

Văn tế Ngạc Nhi

Than ôi!
Một phút sa cơ, ra người thiên cổ.

Nhớ ông xưa:
Cái mắt ông xanh, cái da ông đỏ.
Cái tóc ông quăn, cái mũi ông lõ.
Đít ông cưỡi lừa, miệng ông huýt chó.
Ông đeo súng lục liên, ông đi giày có mỏ.
Ông ở bên Tây, ông sang bảo hộ.
Ông dẹp Cờ Đen, để yên con đỏ.

Nào ngờ:
Nó bắt được ông, nó chặt mất sỏ.
Cái đầu ông kia, cái mình ông đó.
Khốn khổ thân ông, đù mẹ cha nó.

Tôi:
Vâng lệnh quan trên, cúng ông một cỗ.
Này chuối một buồng, này rượu một hũ.
Này xôi một mâm, này trứng một rổ.
Ông có linh thiêng, mời ông xơi hộ.
Ăn uống no say, nằm cho yên chỗ.
Ới ông Ngạc Nhi ơi! Nói càng thêm khổ!

Về hay ở [Chim chích choè]

Văng vẳng tai nghe tiếng chích choè
Lặng đi kẻo động khách lòng quê.
Nước non có tớ càng vui vẻ,
Hoa nguyệt nào ai đã đắm mê?
Quyên đã gọi hè quang quác quác,
Gáy từng gáy sáng tẻ tè te.
Lại còn giục giã về hay ở?
Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe.

Vịnh núi An Lão

Mặt nước mênh mông nổi một hòn,
Núi già nhưng tiếng vẫn còn non,
Mảnh cây thưa thớt đầu như trọc,
Ghềnh đá long lay ngấn chửa mòn.
Một lá về đâu xa thẳm thẳm,
Nghìn nhà trông xuống bé con con.
Dẫu già đã hẳn hơn ta chửa?
Chống gậy lên cao bước chửa chồn!

Vịnh nước lụt

Tỵ trước Tỵ này chục lẻ ba,
Thuận dòng nước cũ lại bao la.
Bóng thuyền thấp thoáng dờn trên vách,
Tiếng sóng long bong vỗ trước nhà.
Bắc bậc người còn chờ chúa đến,
Đóng bè ta phải rước vua ra.
Sửa sang việc nước cho yên ổn,
Trời đã sinh ta ắt có ta

Vịnh sư [Vịnh sư chùa Long Hội]

Đầu trọc lốc bình vôi,
Nhảy tót lên chùa ngồi.
Y a kinh một bộ,
Lóc cóc mõ ba hồi.
Cơm chẳng cần cá thịt,
Ăn rặt oản, chuối, xôi.
Không biết câu tình dục,
Đành chịu tiếng bồ côi.

Vịnh tiến sĩ giấy bài 1

Khéo chú hoa man khéo vẽ trò,
Bỡn ông mà lại dứ thằng cu.
Mày râu vẻ mặt vang trong nước,
Giấy má nhà bay đáng mấy xu?
Bán tiếng, mua danh, thây lũ trẻ,
Bảng vàng, bia đá, vẫn nghìn thu.
Hỏi ai muốn ước cho con cháu,
Nghĩ lại đời xưa mấy kiếp tu.

Vịnh tiến sĩ giấy bài 2

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai.
Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng,
Nét son điểm rõ mặt văn khôi.
Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?
Cái giá khoa danh ấy mới hời!
Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,
Nghĩ rằng đồ thật, hoá đồ chơi!

Vũ phu đôi

Hoành lộ phế cửu bất thành lộ
Vũ phu nguy nguy nghiễm như cố.
Lân ấp phụ nữ thường vãng lai
Thiển xứ cập phì, thâm cập cổ.
Vũ phu toạ kiến hoản nhiên tiếu:
“Nhĩ hữu hà vật như hử tố?”
Thương hoàng yểm tế tiềm trí từ:
“Ngẫu nhĩ quai sơ, hạnh vật nộ!”
Ông ngôn: “Ngã hà nộ nhĩ vi?
Nộ nhĩ hà cang ngã dương cụ!
Nhĩ phụ nghi cáo nhĩ hương lân
Tảo lai ông tích nhĩ dận tộ”
Cố kim thử hương sinh xuất nhân,
Khẩu thoại nhất ngôn thiêm loại vũ

Trên đây là những bài thơ Nguyễn Khuyến bằng chữ Nôm mà chúng tôi đã tổng hợp và muốn chia sẻ cùng với bạn. Thông qua bài viết này bạn sẽ có hình dung sâu sắc hơn về cuộc đời của nhà thơ. Cũng như cách nhìn của Nguyễn Khuyến trước thiên nhiên và cuộc sống. Điều này cũng tạo nên chất riêng của nhà thơ này.

so1vn - Tags: