Tuyển tập thơ chữ Hán Nguyễn Khuyến hay đặc sắc phần cuối



Thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến được đánh giá rất cao trên văn đàn. Với các sáng tác này đã tạo thành điểm nhấn trong thơ ca của ông. Bởi qua các sáng tác này ông đã thể hiện được chất bình dị, chất tinh tế với các giá trị văn hóa đạo đức sâu sắc. Đó cũng chính là cách tạo nên nét đẹp và chất văn hóa Việt trong thơ ca. Hãy cùng tìm hiểu các bài thơ chữ Hán của Nguyễn Khuyến hay nhất bạn nhé!

Vịnh Nguyễn hành khiển

詠阮行遣
風雲際會效馳驅,
不忍蒼生渴望蘇。
欲試強胡新手段,
盡收大越舊輿圖。
擎天事業光千古,
振世聲名滿九州。
早識功名難善處,
黃山應伴赤松遊

Vịnh Nguyễn hành khiển
Phong vân tế hội hiệu trì khu,
Bất nhẫn thương sinh khát vọng tô.
Dục thí cường Hồ tân thủ đoạn,
Tận thu Đại Việt cựu dư đồ.
Kình thiên sự nghiệp quang thiên cổ,
Chấn thế thanh danh mãn cửu châu.
Tảo thức công danh nan thiện xử,
Hoàng sơn ưng bạn Xích Tùng du.

Dịch nghĩa
Gặp hội gió mây ông đã gắng sức ruổi rong,
Không nỡ để dân đen phải khao khát mong mỏi được sống lại.
Muốn đem phương sách mới để diệt giặc dữ,
Để thu lại hết cơ đồ cũ của nước Đại Việt ta.
Sự nghiệp chống trời, soi sáng ngàn thuở,
Tiếng tăm vang dội lừng lẫy khắp cả chín châu.
Nếu sớm biết công danh là con đường thật khó,
Thì nên lên núi Hoàng Sơn theo ông Xích Tùng đi chơi.

Vịnh Nhạc Vũ Mục

詠岳武穆
數行金字到軍中,
十載雄心一日空。
天地何心留玉檜,
江山有淚到黃龍。
空留人世無窮恨,
枉費沙場幾度功。
到底英雄心自白,
百年誰佞更誰忠。

Vịnh Nhạc Vũ Mục
Sổ hành kim tự đáo quân trung,
Thập tải hùng tâm nhất nhật không.
Thiên địa hà tâm lưu ngọc cối,
Giang sơn hữu lệ đáo Hoàng Long.
Không lưu nhân thế vô cùng hận,
Uổng phí sa trường kỷ độ công.
Đáo để anh hùng tâm tự bạch,
Bách niên thuỳ nịnh cánh thuỳ trung.

Dịch nghĩa
Mấy hàng chữ vàng đưa đến trong quân
Mười năm sự nghiệp anh hùng một ngày mất hết
Trời đất lòng nào lưu cây ngọc
Non sông có nước mắt đến hoàng long
Không giữ lại trên đời mối hận vô cùng
Uổng phí bao nhiêu công lao ở chốn sa trường
Cuối cùng tấm lòng người anh hùng cũng tự sáng tỏ
Trăm năm ai nịnh với ai trung

Vọng Đội sơn

望隊山
無端平地出名山,
樓閣參差落日間。
十里長亭青未了,
半空飛鳥倦知還。
遠村草樹深深見,
病眼風塵步步艱。
遐想山中有佳趣,
雲邊坐外一僧閒。

Vọng Đội sơn
Vô đoan bình địa xuất danh sơn,
Lâu các sâm si lạc nhật gian.
Thập lý trường đình thanh vị liễu,
Bán không phi điểu quyện tri hoàn.
Viễn thôn thảo thụ thâm thâm kiến,
Bệnh nhãn phong trần bộ bộ gian.
Hà tưởng sơn trung hữu giai thú,
Vân biên toạ ngoại nhất tăng nhàn.

Dịch nghĩa
Nơi đất bằng bỗng nổi lên một ngọn núi có danh tiếng
Buổi mặt trời lặn trông thấy lầu gác lô nhô
Trường đình mười dặm mầu xanh chưa nhạt
Chim bay ngang trời mỏi cánh biết bay về
Xóm xa cây cối um tùm như ẩn như hiện
Mắt đau trong gió bụi đi mỗi bước một khó khăn
Xa tưởng ở trên núi cũng có thú vui
Một nhà sư nằm ngồi ở bên mây rất thư thả

Vọng Lão sơn

望老山
老山望望思悠哉,
絕嵿高寒真可哀。
碧草方爭三寸長,
黃花猶見數枝開。
十分春色真無賴,
一片容光不自裁。
日暮途長吾且去,
明朝相抑棹船來。

Vọng Lão sơn
Lão sơn vọng vọng tứ du tai,
Tuyệt đính cao hàn chân khả ai.
Bích thảo phương tranh tam thốn trưởng,
Hoàng hoa do kiến sổ chi khai.
Thập phần xuân sắc chân vô lại,
Nhất phiến dung quang bất tự tài.
Nhật mộ đồ trường ngô thả khứ,
Minh triêu tương ức trạo thuyền lai.

Dịch nghĩa
Ngẩng trông núi An Lão lòng những lan man
Đỉnh chót lạnh lùng nghĩ cũng đáng thương
Cỏ xanh đua nhau lớn hai ba tấc
Hoa vàng còn thấy nở một vài cành
Mười phần xuân sắc thật là trơ trẽn
Một tấm dung quang chẳng sửa sang gì
Ngày đã tối đường còn dài ta hãy về đã
Sáng mai nhớ nhau lại chèo thuyền sang

Vũ hậu xuân tuý cảm thành

雨後春醉感成
去秋定尹拂衣回,
今日春商解組來。
可幸諸君能勇退,
未應一職盡非才。
百年軒駟何為者,
吾邑邱陵亦美哉。
老病無能惟有醉,
浮雲散盡北窗開。

Vũ hậu xuân tuý cảm thành
Khứ thu Định doãn phất y hồi,
Kim nhật Xuân Trường giải tổ lai.
Khả hạnh chư quân năng dũng thoái,
Vị ưng nhất chức tận phi tài.
Bách niên hiên tứ hà vi giả,
Ngô ấp khâu lăng diệc mỹ tai.
Lão bệnh vô năng duy hữu tuý,
Phù vân tán tận bắc song khai.

Dịch nghĩa
Mùa thu năm ngoái ông huyện Trực Định đã rũ áo ra về
Ngày nay ông thương Xuân Trường lại buông giải ấn nghỉ việc
Đáng mừng các bạn biết mạnh dạn lui về
Đâu phải vì đối với chức vụ mình không làm nổi
Cuộc đời trăm năm xe ngựa có là trò gì
Mà ở quê chúng ta gò núi vẫn tươi đẹp lắm
Ta nay già yếu không làm được gì nữa chỉ có chén thôi
Khi mây nổi tan hết thì cửa sổ hướng bắc mở toang ra

Vu sử

Chuông khánh điện ai vẫn bập bồng,
Phụ hồn hiệp tính cũng thần thông.
Có khi bóng gái ra ông quận,
Ai ngỡ hồn trai hoá chúa Sùng.
Ông gặp lúc nhàn vơ bụng chúa,
Chúa ra phép thánh tát hàm ông.
Sóm mai hồn phách về đâu tá?
Đê lại người đời một lũ gông!

Xuân dạ liên nga

春夜憐蛾
羨爾纖纖一羽翰,
投明而死死而安。
若為倘倅臨宜易,
到得逡巡辨亦難。
素賦知能猶未泯,
當前名利不相關。
孤燈殺爾猶憐爾,
到得成灰淚未乾。

Xuân dạ liên nga
Tiện nhĩ tiêm tiêm nhất vũ hàn,
Đầu minh nhi tử tử nhi an.
Nhược vi thảng thốt lâm nghi dị,
Đáo đắc thuân tuần biện diệc nan.
Tố phú tri năng do vị dẫn.
Đương tiền danh lợi bất tương quan.
Cô đăng sát nhĩ do liên nhĩ.
Đáo đắc thành hôi lệ vị can.

Dịch nghĩa
Khen mày là loài có đôi cánh bé nhỏ,
Gieo mình vào chỗ sáng mà chết, chết thế mới an lòng.
Nếu là thảng thốt mà sa vào cái chết thì còn dễ,
Nhưng thong thả mà quyết chết được mới thực là khó
Lương tri, lương năng trời phú cho còn chưa mất,
Nên danh lợi ngay trước mắt cũng không vướng víu gì.
Ngọn đèn cô quạnh giết mày nhưng cũng thương mày,
Cho đến lúc thành tro mà lệ vẫn chưa khô.

Xuân hàn cảm thành

春寒感成
睡起啣杯漫自傷,
春寒初過小風涼。
照顏不覺頭相白,
拍首偏疑項欲強。
朝政喜多賢岳牧,
淳風應入古鴻荒。
幸容一介蓬蒿卧,
缶飲汙尊也不妨。

Xuân hàn cảm thành
Thuỳ khởi hàm bôi mạn tự thương,
Xuân hàn sơ quá tiểu phong lương.
Chiếu nhan bất giác đầu tương bạch,
Phách thủ thiên nghi hạng dục cường.
Triều chính hỷ đa hiền nhạc mục,
Thuần phong ứng nhập cổ hồng hoang.
Hạnh dung nhất giới bồng cao ngoạ,
Phần ẩm ô tôn dã bất phương.

Dịch nghĩa
Sáng ra ngủ dậy nhấp chén rượu mà tự thương mình
Khí xuân lạnh vừa qua lại một luồng gió mát vừa đến
Soi gương chợt thấy đầu đã sắp bạc
Vỗ đầu tưởng như cổ muốn cứng
Chính sự quan trường mừng rằng quan trường lắm hiền tài
Phong tục thuần phác tưởng như trở lại thời hồng hoang
Tấm thân may còn được nằm yên trong túp cỏ
Chum đào nước bốc cũng chẳng hề chi

Xuân nhật hữu cảm kỳ 2

春日有感其二
已分田園十六期,
沉思往事日增悲。
迂疏舊學生何補,
老病殘年死固宜。
風雨晦冥天眼閉,
菊松彫謝哲人萎。
出身幸免隨身衹,
若對先君尚有辭。

Xuân nhật hữu cảm kỳ 2
Dĩ phận điền viên thập lục kỳ,
Trầm tư vãng sự nhật tăng bi.
Vu sơ cựu học sinh hà bổ,
Lão bệnh tàn niên tử cố nghi.
Phong vũ hối minh thiên nhãn bế,
Cúc tùng điêu tạ triết nhân nuy.
Xuất thân hạnh miễn tuỳ thân chỉ,
Nhược đối tiên quân thượng hữu từ.

Dịch nghĩa
Đã yên phận ở nơi vườn ruộng mười sú năm rồi
Ngẫm nghĩ việc đã qua càng ngày càng thêm buồn
Lối học cũ viển vông sống có ích gì?
Tuổi già hay đau ốm chết đi cũng phải
Mưa gió mịt mù tựa như trời nhắm mắt
Cây tùng cây cúc héo rụng người hiền triết suy tàn
May mà xuất thân khoa mục được miễn đeo thẻ tuỳ thân
Có gặp ông cha ở chín suối còn có điều để mà thưa thốt

Xuân nhật kỳ 1

春日其一
霜氣曚曨滿地飛,
晨光飄忽恨熹微。
園金橘核猶藏甲,
盆水仙花未解衣。
曉滴幽篁如自泣,
夜鳴獨鶴自安歸。
畏寒懶欲催衣起,
門外常開客亦稀。

Xuân nhật kỳ 1
Sương khí mông lung mãn địa phi,
Thần quang phiêu hốt hận hy vi.
Viên kim quất hạch do tàng giáp,
Bồn thuỷ tiên hoa vị giải y.
Hiểu trích u hoàng như tự khấp,
Dạ minh độc hạc tự an quy.
Uý hàn lãn dục thôi y khởi,
Môn ngoại thường khai khách diệc hy.

Xuân nhật kỳ 2

春日其二
籬竹橫斜半雨陰,
藤床徙倚坐春深。
鄰童晨起讀三字,
飛鳥偶過遺一音。
詩到窮時無俗骨,
事因醉後有雄心。
老休莫恨賓朋少,
彭澤相知只素琴。

Xuân nhật kỳ 2
Ly trúc hoành tà bán vũ âm,
Đằng sàng tỷ ỷ toạ xuân thâm.
Lân đồng thần khởi độc tam tự,
Phi điểu ngẫu qua di nhất âm.
Thi đáo cùng thời vô tục cốt,
Sự nhân tuý hậu hữu hùng tâm.
Lão hưu mạc hận tân bằng thiểu,
Bành Trạch tương tri chỉ tố cầm.

Xuân nhật kỳ 3

春日其三
望春不知春已歸,
寒雲漠漠雨霏霏。
廷階芽甲有生意,
上下鳥魚無滯機。
塵世有時黃鶴去,
海波何處白鷗飛。
北窗獨酌頹然醉,
一欲穿鞋上翠微。

Xuân nhật kỳ 3
Vọng xuân bất tri xuân dĩ quy,
Hàn vân mạc mạc vũ phi phi.
Đình giai nha giáp hữu sinh ý,
Thượng hạ điểu ngư vô trệ cơ.
Trần thế hữu thời hoàng hạc khứ,
Hải ba hà xứ bạch âu phi.
Bắc song độc chước đồi nhiên tuý,
Nhất dục xuyên hài thượng thuý vi.

Dịch nghĩa
Mong xuân mà chẳng biết xuân đã về
Mây bay man mác mưa bay lấm tấm
Trước thềm ngoài sân cây cối hớn hở nảy lộc đâm chồi
Trên trời dưới nước chim cá bay lặn không ngừng
Cõi trần có lúc hạc vàng bay đi
Ngoài bể khơi chim âu trắng bay lượn nơi nào?
Một mình uống rượu say ngả nghiêng trước cửa sổ hướng bắc
Những toan sỏ chân vào dép mà trèo lên non xanh

Xuân nhật thị chư nhi

春日示諸兒
新歲方來舊歲除,
清貧吾自愛吾廬。
環居不滿九高土,
素業無他一束書。
擁戶煙深山色迥,
傍墻雨淺菊花疏。
兒曹或可承吾志,
筆硯無荒稻菽蔬。

Xuân nhật thị chư nhi
Tân tuế phương lai cựu tuế trừ,
Thanh bần ngô tự ái ngô lư.
Hoàn cư bất mãn cửu cao thổ,
Tố nghiệp vô tha nhất thúc thư.
Ủng hộ yên thâm sơn sắc quýnh,
Bàng tường vũ thiển cúc hoa sơ.
Nhi tào hoặc khả thừa ngô chí,
Bút nghiễn vô hoang đạo thục sơ.

Dịch nghĩa
Năm cũ qua, năm mới vừa đến,
Nhà nghèo, ta tự yêu ngôi nhà đơn sơ của ta.
Bao quanh không đầy chín sào đất,
Nghiệp nhà vốn chỉ có một bó sách.
Quanh cửa, khói trùm che khuất núi xa,
Cạnh tường, hoa cúc thưa thớt vì ít mưa.
Các con nếu biết nối chí cha,
Thì chăm chỉ việc học hành mà không bỏ cày cấy.

Xuân nhật thị gia nhi

春日示家兒
頹乎毛髮漸參參,
不覺年登五十三。
當世詩書何所用,
老來冠帶尚多慚。
亂離春色真無賴,
憂苦人情總不堪。
對此光陰何以慰?
諸兒猶自酒歌酣。

Xuân nhật thị gia nhi
Đồi hồ mao phát tiệm tham tham,
Bất giác niên đăng ngũ thập tam.
Đương thế thi thư hà sở dụng,
Lão lai quan đới thượng đa tàm.
Loạn ly xuân sắc chân vô lại,
Ưu khổ nhân tình tổng bất kham.
Đối thử quang âm hà dĩ uý?
Chư nhi do tự tửu ca hàm.

Dịch nghĩa
Người phờ phạc râu tóc dài dần
Không ngờ đã đến năm mươi ba tuổi
Văn chương đời này còn dùng làm gì nữa
Áo xiêm về già đáng hổ thẹn nhiều
Trước cảnh loạn ly màu xuân thật trơ trẽn
Đau khổ mãi lòng người ta không chịu đựng được
Đối với bóng quang âm ấy lấy gì yên ủi
Thế mà các con hãy còn say sưa đàn hát mãi

Xuân nhật thị nhi

春日示兒
汝父風塵鬢漸斑,
汝年今亦已加冠。
沉思絲粒君恩重,
倍覺詩書世業難。
學海要宜防氾溢,
儒家慎勿厭琦寒。
關山遠跡心仍近,
寄汝燈前仔細看。

Xuân nhật thị nhi
Nhữ phụ phong trần mấn tiệm ban,
Nhữ niên kim diệc dĩ gia quan.
Trầm ân ty lạp quân ân trọng,
Bôi giác thi thư thế nghiệp nan.
Học hải yếu nghi phòng phiếm dật,
Nho gia thận vật yếm cơ hàn.
Quan san viễn tích tâm nhưng cận,
Ký nhữ đăng tiền tử tế khan.

Dịch nghĩa
Cuộc đời gió bụi làm mái tóc cha ngươi bạc dần,
Tuổi con nay cũng đã trưởng thành.
Ơn vua nặng, thầm nhớ từng tơ tóc,
Hiểu nhiều kinh sử thấy nghiệp đời khó.
Bể học cốt yếu nên đề phòng sự thái quá,
Nhà nho thận trọng giữ gìn khí tiết, đói rét cũng chẳng chán.
Dấu chân xa nơi từng giữ việc nước nhưng lòng vẫn gần,
Mong con trước đèn hãy cẩn thận.

Xuân nhật thị tử Hoan

春日示子懽
我已辭官爾做官,
做官能會做為難。
名居過滿憂淩節,
仕有人貧且抱關。
當日事隨當日應,
一分賜是一分寬。
行哉聊借春風贈,
當爾噓和釋躁丹。

Xuân nhật thị tử Hoan
Ngã dĩ từ quan nhĩ tố quan,
Tố quan năng hội tố vi nan.
Danh cư quá mãn ưu lăng tiết,
Sĩ hữu nhân bần thả bão quan.
Đương nhật sự tuỳ đương nhật ứng,
Nhất phần tứ thị nhất phần khoan.
Hành tai liêu tá xuân phong tặng,
Đương nhĩ hư hoà thích táo đan.

Dịch nghĩa
Ta đã từ quan con lại ra làm quan
Làm quan khó ở chỗ biết cách làm
Danh quá lững lẫy e lấn át mất khí tiết
Vì nghèo mà phải ra làm quan thì hãy làm chức giữ cửa
Việc ngày nào thì tuỳ ngày ấy mà ứng phó
Khoan dung một phần tức là dân được ơn nhờ một phần
Con đi thôi! Cha hãy mượn gió xuân để làm quà
Coi như một bài thuốc thổi hơi hoà xua hơi nóng tặng con

Trên đây là các sáng tác thơ chữ Hán cuối cùng của Nguyễn Khuyến mà chúng tôi muốn chia sẻ và giới thiệu với bạn. Thông qua các sáng tác này bạn sẽ hiểu thêm về phong cách sáng tác của nhà thơ này. Cũng như tìm được các dấu ấn thời đại qua các áng văn chương. Tất cả kết lại thành một giá trị to lớn đó chính là giá trị nhân bản trong thơ Nguyễn Khuyến. Và cũng có nhiều đề tài khai thác và tìm hiểu về vấn đề này rất chi tiết và độc đáo.

Tác Giả - Tags: