Thề non nước là một sáng tác làm nên tên tuổi của nhà thơ Tản Đà. Bài thơ này được viết năm 1920 và sau đó ông đã viết thành một truyện ngắn có cùng tên là Thề non nước và được in trong tập Tản Đà tùng văn. Bài thơ này được đề lên bức tranh sơn thủy với cô đầu Vân Anh. Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu những nét đặc sắc trong bài thơ Thề non nước và cùng cảm nhận bạn nhé!

Bài thơ Thề non nước

Nước non nặng một nhời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non
Nhớ nhời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng không
Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Giời tây chiếu bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước, nước mà quên non!
Dẫu rằng sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa
Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi!
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi nhời thề

Cảm nhận bài thơ Thề non nước

Bài thơ Thề non nước nói về hình ảnh của cô đào Vân Anh và một du tử ngồi uống rượu, nối lời nhau làm nên bức tranh sơn thủy cổ họa. Bốn câu thơ đầu chính là lời vịnh của du khách, 10 câu tiếp là lời của cô đào Vân Anh và 6 câu tiếp là lời du khách còn những câu cuối chính là tiếng thơ của Vân Anh.

Bức tranh sơn thủy không có “thủy”

Sở dĩ nói đây là một bức tranh sơn thủy không có thỷ bởi câu thơ đầu đã nói rõ: Nước đi đi mãi không về cùng non. Và nó cũng chỉ có núi với cây mai già trơ trụi, có sương tuyết và mây phủ trên đỉnh núi. Để rồi dẫu dưới chân núi ngàn dâu xanh tốt đến đâu cũng không che đi được màu tang thương. Và cả bức tranh như được bao phủ bằng một mảng tà dương.

Non cao những ngóng cùng trông
Suối tuôn dòng lệ chờ mong tháng ngày
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương
Giời tây chiếu bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha

Có thể nói đó là một bưc tranh đẹp nhưng buồn chứa đựng đầy sự thương nhớ, tang thương. Và chính lời thề và non và nước ở trong bài thơ cũng chính là miêu tả về đôi lứa, cho giai nhân và người tình. Lứa đôi hay non và nước đã yêu nhau đã thề nguyền và nặng lời thề và nó cũng vững bền như nước. Tuy nhiên cảnh ngộ thật éo le và đáng thương. Bởi lứa đôi đang phải trải qua những năm tháng dài li biệt.

Sau những năm tháng dài mỏi mòn chờ đợi, giai nhân đã trở thành cô phụ với bao nhiêu nỗi khóc than thảm thiết đến khô cạn. Đó là hình ảnh “Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày”. Để rồi ta cảm nhận về một hình ảnh tiều tụy đáng thương như một gốc mai già xơ xác. Để tình lang mãi chưa về mà chiều tà đã ngả bóng và nhan sắc đang dần phai.

Nỗi buồn, tương tư của giai nhân

Tản Đà thông qua những vần thơ của mình đã thể hiện bài thơ Thề non nước rất hay và đọc đáo. Đó là nét đặc tả nỗi buồn, cô đơn, tương tư của người giai nhân. Và qua các hình ảnh ấy ta có thể cảm nhận được sắc tài và bi kịch trong tình yêu của người giai nhân. Qua từ khô ta có thể cảm nhận điều đó. Để rồi chỉ cần xem bức họa và đọc một vài câu thơ ta cũng cảm nhận sâu sắc sự tương tư ấy.

Và dù sông cạn đá món thì cũng không bao giờ chia lìa, nó như là một niềm tin khẳng định. Dù cho có điều gì xảy ra thì giai nhân vẫn thủy chung một lòng. Đó chính là mối tình son sắt của nàng. Để rồi nước đã đi xa, tình lang cũng đi xa chỉ còn sự vang vọng trong không gian và thời gian thì vẫn còn đó đây những câu thơ.

Non xanh đã biết hay chưa?
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi!

Trên đây là bài thơ Thề non nước – một sáng tác hay của Tản Đà mà chúng tôi muốn giới thiệu với bạn. Thông qua bài thơ này bạn cso thể cảm nhận được cốt cách của một thi sĩ phong tình tài hoa. Hơn nữa đó cũng chính là cả một trời yêu thương, mong nhớ và đợi chờ.