được ví như một luồng gió mới thổi mát vào nền thơ ca Việt Nam. Ở ông có một tâm hồn thi sĩ đầy lãng mạn cùng khát khao đổi mới phong cách thơ của mình. Ông cũng như nhiều nhà thơ khác sở hữu một chùm thơ dịch vang danh của những nhà thơ nổi tiếng trên thế giới. Đến nay, những thi phẩm của ông vẫn vẹn nguyên giá trị đến ngày nay

16

Ment János vitézzel a megindult gálya,
Szélbe kapaszkodott széles vitorlája,
De sebesebben ment János gondolatja,
Utjában semmi sem akadályozhatta.
János gondolatja ilyenforma vala:
“Hej Iluskám, lelkem szépséges angyala!
Sejted-e te mostan, milyen öröm vár rád?
Hogy hazatart kinccsel bővelkedő mátkád.
Hazatartok én, hogy végre valahára
Sok küszködés után legyünk egymás párja.
Egymás párja leszünk, boldogok, gazdagok;
Senki fiára is többé nem szorulok.
Gazduram ugyan nem legszebben bánt velem;
Hanem én őneki mindazt elengedem.
S igazság szerint ő oka szerencsémnek:
Meg is jutalmazom, mihelyt hazaérek.”
Ezt gondolta János s több ízben gondolta,
Mialatt a gálya ment sebes haladva;
De jó messze volt még szép Magyarországtól,
Mert Franciaország esik tőle távol.
Egyszer János vitéz a hajófödélen
Sétált föl s alá az est szürkületében.
A kormányos ekkép szólt legényeihez:
“Piros az ég alja: aligha szél nem lesz.”
Hanem János vitéz nem figyelt a szóra,
Feje fölött repült egy nagy sereg gólya;
Őszre járt az idő: ezek a madarak
Bizonyosan szülőföldéről szálltanak.
Szelíd epedéssel tekintett utánok,
Mintha azok neki jó hírt mondanának,
Jó hírt Iluskáról, szép Iluskájáról,
S oly régen nem látott kedves hazájáról.

Dịch

Thuyền chở Giăng Dũng sĩ cứ lênh đênh
Buồm căng to bám vào sức gió
Nhưng tâm trí Giăng còn đi nhanh hơn thuyền đó
Không có gì ngăn cản bước anh đi
Tâm trí Giăng suy nghi thế này:
” I-lu-sơ-ca, I-lu, thiên thần tuyệt mĩ
Em làm gì? Hạnh phúc ta em có thấy?
Em có biết người yêu em về nước, đầy vàng?
Anh trở về nước một lần cuối cùng
Chúng ta có nhau sau bao nỗi khổ
Chúng ta là của nhau, tâm đồng, hạnh phúc, giàu có
Vì anh là chủ nhân các việc tốt anh làm
Ông chủ anh có thể đối với anh tốt hơn
Anh là nạn nhân của ông ta, nhưng anh tha thứ
Ta nên thật thà: nhờ ông ta mà anh có vận khá
Ông ta sẽ được thưởng khi anh về”
Đó những điều Giăng nghĩ lại nghĩ đi
Khi thuyền lướt nhanh trên sóng
Nhưng cũng không về nước Hung được chóng
Vì nước Pháp xinh đẹp ở cách khá xa
Một hôm Giăng Dũng sĩ trên sân tàu
Đi dọc đi ngang khi bóng chiều rơi xuống
Người quản thuyền nói: “Các con ơi, chân trời đỏ óng
Nếu ta không nhầm thì sẽ có gió to”
Giăng Dũng sĩ không chú ý nghe
Anh đứng nhìn đàn sếu
Sắp đến thu và đàn chim ấy
Chắc bay từ đất nước quê hương
Nhìn sếu bay, anh thở ra nhẹ nhàng
Như đàn chim mang đến nhiều tin sung sướng
Tin của I-lu, của I-lu xinh xắn
Và tin quê nhà cách biệt từ lâu

17

Másnap, amint az ég alja jövendölte,
Csakugyan szél támadt, mégpedig nem gyönge.
Zokogott a tenger hánykodó hulláma
A zugó fergeteg korbácsolására.
Volt a hajó népe nagy megijedésben,
Amint szokott lenni olyan vad szélvészben.
Hiába volt minden erőmegfeszítés,
Nem látszott sehonnan érkezni menekvés.
Sötét felhő is jön; a világ elborúl,
Egyszerre megdördül az égiháború,
Villámok cikáznak, hullnak szanaszerte;
Egy villám a hajót izről porrá törte.
Látszik a hajónak diribje-darabja,
A holttesteket a tenger elsodorja.
Hát János vitéznek milyetén sors jutott?
Őt is elsodorták a lelketlen habok?
Hej biz a haláltól ő sem volt már messze,
De mentő kezét az ég kiterjesztette,
S csodálatos módon szabadította meg,
Hogy koporsója a habok ne legyenek.
Ragadta őt a víz magasra, magasra,
Hogy tetejét érte már a felhő rojtja;
Ekkor János vitéz nagy hirtelenséggel
Megkapta a felhőt mind a két kezével.
Belekapaszkodott, el sem szalasztotta,
S nagy erőlködéssel addig függött rajta,
Mígnem a felhő a tengerparthoz ére,
Itten rálépett egy szikla tetejére.
Először is hálát adott az istennek,
Hogy életét ekkép szabadította meg;
Nem gondolt vele, hogy kincsét elvesztette,
Csakhogy el nem veszett a kinccsel élete.
Azután a szikla tetején szétnézett,
Nem látott mást, csupán egy grifmadár-fészket.
A grifmadár épen fiait etette,
Jánosnak valami jutott az eszébe.
Odalopózkodott a fészekhez lassan
És a grifmadárra hirtelen rápattan,
Oldalába vágja hegyes sarkantyúját,
S furcsa paripája hegyen-völgyön túlszállt.
Hányta volna le a madár nyakra-főre,
Lehányta volna ám, ha bírt volna véle,
Csakhogy János vitéz nem engedte magát.
Jól átszorította derekát és nyakát.
Ment, tudj’ az isten hány országon keresztül;
Egyszer, hogy épen a nap az égre kerül:
Hát a viradatnak legelső sugára
Rásütött egyenest faluja tornyára.
Szent isten! hogy örült ennek János vitéz,
Az öröm szemébe könnycseppeket idéz;
A madár is, mivel szörnyen elfáradt már,
Vele a föld felé mindinkább közel jár.
Le is szállott végre egy halom tetején,
Alig tudott venni lélekzetet szegény,
János leszállt róla és magára hagyta,
És ment, elmerűlve mély gondolatokba.
“Nem hozok aranyat, nem hozok kincseket,
De meghozom régi hűséges szívemet,
És ez elég neked, drága szép Iluskám!
Tudom, hogy nehezen vársz te is már reám.”
Ily gondolatokkal ért a faluvégre,
Érintette fülét kocsiknak zörgése,
Kocsiknak zörgése, hordóknak kongása;
Szüretre készűlt a falu lakossága.
Nem figyelmezett ő szüretre menőkre,
Azok sem ismertek a megérkezőre;
A falu hosszában ekképen haladott
A ház felé, ahol Iluskája lakott.
A pitvarajtónál be reszketett keze,
S mellében csakhogy el nem állt lélekzete;
Benyitott végtére – de Iluska helyett
Látott a pitvarban idegen népeket.
“Tán rosz helyen járok” gondolta magában,
És a kilincs megint volt már a markában…
“Kit keres kegyelmed?” nyájasan kérdezte
János vitézt egy kis takaros menyecske.
Elmondotta János, hogy kit és mit keres…
“Jaj, eszem a szívét, a naptól oly veres!
Bizony-bizony alighogy reáismértem,”
Szólott a menyecske meglepetésében.
“Jőjön be már no, hogy az isten áldja meg,
Odabenn majd aztán többet is beszélek.”
Bevezette Jánost, karszékbe ültette,
S így folytatta ismét beszédét mellette:
“Ismer-e még engem? nem is ismer talán?
Tudja, én vagyok az a kis szomszédlány,
Itt Iluskáéknál gyakran megfordúltam…”
“Hanem hát beszéljen csak: Iluska hol van?”
Szavaiba vágott kérdezőleg János,
A menyecske szeme könnytől lett homályos.
“Hol van Iluska, hol?” felelt a menyecske,
“Szegény Jancsi bácsi!… hát el van temetve.”
Jó, hogy nem állt János, hanem űlt a széken,
Mert lerogyott volna kínos érzésében;
Nem tudott mást tenni, a szívéhez kapott,
Mintha ki akarná tépni a bánatot.
Igy űlt egy darabig némán merevedve,
Azután szólt, mintha álmából ébredne:
“Mondjatok igazat, ugye hogy férjhez ment?
Inkább legyen férjnél, mintsem hogy odalent.
Akkor legalább még egyszer megláthatom,
S édes lesz nekem e keserű jutalom.”
De a menyecskének orcáján láthatta,
Hogy nem volt hazugság előbbi szózata.

Dịch

Như trời đã báo trước, hôm sau
Gió thổi lên không phải cơn gió nhẹ
Nghe xôn xao tiếng gầm sóng bể
Bão to quất mạnh lên đại dương

Như thường khi có gió thổi tung
Thủy thủ trên thuyền vô cùng sợ sệt
Cố gắng bao nhiêu cũng là bỏ hết
Quay về đâu, cũng hết cả ước mong

Ngày xám xịt dưới mây đen
Bão đến. Rập rờn sấm dội
Cả bốn bề dọc ngang chớp lóe
Một cơn sét phang gãy nát cột buồm

Đó đây trôi những mảnh thuyền
Trên sóng biển bập bềnh xác chết
Nhưng Giăng ra sao trong cơn bão thét?
Anh phải chăng là mồi lũ sóng bất nhân?

Ta có thể nói anh thấy cái chết rất gần
Nhưng trời chìa cho anh bàn tay cứu vớt
Và kỳ diệu kéo anh ra ngoài cái chết
Không muốn anh bị sóng biển bọc vải tang

Lên cao, lên cao, lên cao biển dâng
Đám mây viền cũng không xa đầu ngọn sóng
Thấy là làm, anh Giăng anh dũng
Bám chắc hai tay vào một đám mây

Anh cố bám anh không buông tay
Lấy hết sức mình đeo mây cho chắc
Cuối cùng thì mây về mặt đất
Anh thả tay rơi xuống ngọn núi đá xanh

Anh vội cám ơn Chúa Trời đã cứu anh
Nhờ cách đó giữ cho anh cuộc sống
Vàng bạc đã mất đi anh không cần lắm
Đẹp nhất là không mất cuộc sống quý hơn bạc vàng

Rồi dạo mắt trên ngọn núi đá xanh
Anh không thấy gì khác ngoài con đại bàng trong ổ
Chim đại bàng đang nhả mồi cho con nó
Một kế mới nảy mầm trong óc anh Giăng

Anh leo nhẹ nhàng lên ổ đại bàng
Nhảy xổ lên lưng chim không nói
Gót sắt thúc vào lưng chim dữ dội
Và con chim kỳ lạ bay qua núi qua thung

Con chim muốn làm sao đổ bộ anh Giăng
Hắn muốn đổ bộ anh Giăng xuống lắm
Nhưng đâu dễ thế. Anh Giăng ngăn hắn
Ôm không rời lưng khỏe với cổ chim

Và đi như thế, qua bao nước bao miền
Đến một ngày kia, tia nắng sáng
Mặt trời bình minh chân mây chói rạng
Trên làng anh lanh lảnh tiếng chuông nhà thờ

Đức Chúa Trời! Giăng Dũng sĩ vui sao!
Đến nỗi hai mắt anh rơi lệ
Con chim đại bàng ta mệt lả
Rơi tầng cao và đưa xuống đất anh Giăng

Hết cả hơi, gần chết, con vật đáng thương
Hạ cánh giữa một khu đồi trên đỉnh
Giăng đứng xuống đất, bỏ chim cho số phận
Và rời xa, suy nghĩ miên man

“Anh vẫn nghèo không, anh không đem bạc vàng
Nhưng đem về cho em trái tim trung thành hứa hẹn
Em I-lu thân yêu, thế là đủ lắm
Em chờ anh lâu mới nhìn thấy lại anh!”

Nghĩ như vậy, anh vừa đến những ngôi nhà đầu tiên
Xe cộ ồn ào, tai anh nghe rõ
Và tiếng vang vang những thùng đựng rượu
Trong làng sắp sửa gặt mùa nho

Nhưng Giăng không chú ý những kẻ đi làm mùa
Không một ai làm anh mới về chú ý
Anh đi theo đường dài khắp xã
Và đến nhà ngày xưa đã ở I-lu

Đây cái cổng. Run run anh đặt tay
Và ngập ngừng anh thấy hơi khó thở
Anh nhất quyết, anh bước vào; không phải
Không phải I-lu mà toàn những khuôn mặt không quen

Anh tự nhủ: “Có lẽ tôi nhầm”
Anh đưa tay vặn cửa
Một người đàn bà trẻ đẹp hỏi Giăng lễ độ:
“Xin anh cho biết anh muốn tìm ai?”

Giăng Dũng sĩ cho biết anh muốn kiếm gì
Người đàn bà trẻ ngạc nhiên bỗng nói:
“Ôi Giăng thân mến, người anh đen lại!
Tôi nhận ra anh cũng rất khó khăn

Mời anh vào, mong Chúa ban phép lành cho anh
Vào đây! Tôi sẽ nói với anh nhiều chuyện
Chị đưa Giăng vào và ngồi đối diện
Chị tiếp tục câu chuyện như sau:

“Anh nhớ tôi không? Chắc chẳng nhớ nào!
Anh nhìn tôi, tôi con gái nhà bên cạnh
Ngày nào tôi cũng đến đây, với I-lu người bạn”
“Được rồi, nhưng I-lu đâu, chị nói đi!”

Anh vừa nóng nảy thốt mấy lời
Cô bạn trẻ hai mắt bỗng đầy nước mắt
Cô bạn trả lời: “Anh hỏi I-lu đâu mất?
Ôi, anh Giăng, chị đã nằm mồ!”

Giăng đang ngồi. Tốt lắm, vì nghe lời cô
Nếu anh đứng thế nào anh cũng ngã
Anh chỉ có thể đưa lên ngực bàn tay co lạnh giá
Như để bứt nỗi đau thương

Anh đứng lặng giây lâu, mắt ngắm trừng trừng
Rồi anh nói, như mới vừa tỉnh mộng:
“Giấu làm chi? Cô lấy chồng rồi, cô đúng?
Tôi thích thế hơn, và mong cô sống ở đời

Tôi có thể thăm lại cô, một lần nữa thôi!
Ôi phần thưởng đắng cay! Ôi nỗi đau quý giá!”
Nhưng nét mặt cảm thương người bạn trẻ
Đủ chứng tỏ cô nói không sai

18

János reáborult az asztal sarkára,
S megeredt könnyének bőséges forrása,
Amit mondott, csak úgy töredezve mondta,
El-elakadt a nagy fájdalomtól hangja:
“Miért nem estem el háború zajában?
Miért a tengerben sírom nem találtam?
Miért, miért lettem e világra, miért?
Ha ily mennykőcsapás, ilyen gyötrelem ért!”
Kifáradt végre őt kínozni fájdalma,
Mintha munkájában elszenderűlt volna,
“Hogy halt meg galambom? mi baj lett halála?”
Kérdé, s a menyecske ezt felelte rája:
“Sok baja volt biz a szegény teremtésnek;
Kivált mostohája kinzása töré meg.
De meg is lakolt ám érte a rosz pára,
Mert jutott inséges koldusok botjára.
Aztán meg magát is szörnyen emlegette,
Jancsi bácsi; ez volt végső lehellete:
Jancsikám, Jancsikám, az isten áldjon meg.
Másvilágon, ha még szeretsz, tied leszek.
Ezek után kimult az árnyékvilágból;
A temetőhelye nincsen innen távol.
A falu népsége nagy számmal kisérte;
Minden kisérője könnyet ejtett érte.”
Kérelemszavára a szíves menyecske
Jánost Iluskája sírjához vezette;
Ottan vezetője őt magára hagyta,
Lankadtan borúlt a kedves sírhalomra.
Végiggondolta a régi szép időket,
Mikor még Iluska tiszta szive égett,
Szíve és orcája – s most a hideg földben
Hervadtan, hidegen vannak mind a ketten.
Leáldozott a nap piros verőfénye,
Halovány hold lépett a napnak helyébe,
Szomorún nézett ki az őszi homályból,
János eltántorgott kedvese hantjától.
Még egyszer visszatért. A sírhalom felett
Egyszerű kis rózsabokor nevelkedett.
Leszakította a virágszálat róla,
Elindult s mentében magában így szóla:
“Ki porából nőttél, árva kis virágszál,
Légy hűséges társam vándorlásaimnál;
Vándorlok, vándorlok, a világ végeig,
Míg kivánt halálom napja megérkezik.”

Dịch

János reáborult az asztal sarkára,
S megeredt könnyének bőséges forrása,
Amit mondott, csak úgy töredezve mondta,
El-elakadt a nagy fájdalomtól hangja:
“Miért nem estem el háború zajában?
Miért a tengerben sírom nem találtam?
Miért, miért lettem e világra, miért?
Ha ily mennykőcsapás, ilyen gyötrelem ért!”
Kifáradt végre őt kínozni fájdalma,
Mintha munkájában elszenderűlt volna,
“Hogy halt meg galambom? mi baj lett halála?”
Kérdé, s a menyecske ezt felelte rája:
“Sok baja volt biz a szegény teremtésnek;
Kivált mostohája kinzása töré meg.
De meg is lakolt ám érte a rosz pára,
Mert jutott inséges koldusok botjára.
Aztán meg magát is szörnyen emlegette,
Jancsi bácsi; ez volt végső lehellete:
Jancsikám, Jancsikám, az isten áldjon meg.
Másvilágon, ha még szeretsz, tied leszek.
Ezek után kimult az árnyékvilágból;
A temetőhelye nincsen innen távol.
A falu népsége nagy számmal kisérte;
Minden kisérője könnyet ejtett érte.”
Kérelemszavára a szíves menyecske
Jánost Iluskája sírjához vezette;
Ottan vezetője őt magára hagyta,
Lankadtan borúlt a kedves sírhalomra.
Végiggondolta a régi szép időket,
Mikor még Iluska tiszta szive égett,
Szíve és orcája – s most a hideg földben
Hervadtan, hidegen vannak mind a ketten.
Leáldozott a nap piros verőfénye,
Halovány hold lépett a napnak helyébe,
Szomorún nézett ki az őszi homályból,
János eltántorgott kedvese hantjától.
Még egyszer visszatért. A sírhalom felett
Egyszerű kis rózsabokor nevelkedett.
Leszakította a virágszálat róla,
Elindult s mentében magában így szóla:
“Ki porából nőttél, árva kis virágszál,
Légy hűséges társam vándorlásaimnál;
Vándorlok, vándorlok, a világ végeig,
Míg kivánt halálom napja megérkezik.”

19

János vitéznek volt utjában két társa:
Egyik a búbánat, amely szívét rágta,
Másik a kardja volt, bedugva hüvelybe,
Ezt a török vértől rozsda emésztette.
Bizonytalan úton ezekkel vándorolt.
Már sokszor telt s fogyott a változékony hold,
S váltott a téli föld szép tavaszi ruhát,
Mikor így szólítá meg szíve bánatát:
“Mikor unod már meg örökös munkádat,
Te a kínozásban telhetetlen bánat!
Ha nem tudsz megölni, ne gyötörj hiába;
Eredj máshova, tán akadsz jobb tanyára.
Látom, nem te vagy az, ki nekem halált hoz,
Látom, a halálért kell fordulnom máshoz.
Máshoz fordulok hát; ti viszontagságok!
Ohajtott halálom tán ti meghozzátok.”
Ezeket gondolta s elhagyta bánatát.
Ez szívéhez vissza most már csak néha szállt,
Hanem ismét eltünt; (mert be volt az zárva,
S csak egy könnycseppet tett szeme pillájára.)
Utóbb a könnyel is végkép számot vetett,
Csupán magát vitte a megunt életet,
Vitte, vitte, vitte egy sötét erdőbe,
Ott szekeret látott, amint belelépe.
Fazekasé volt a szekér, melyet látott;
Kereke tengelyig a nagy sárba vágott;
Ütötte lovait a fazekas, szegény,
A szekér azt mondta: nem mozdulok biz én.
“Adj’ isten jó napot” szólott János vitéz;
A fazekas rútul a szeme közé néz,
S nagy bosszankodással im ezeket mondja:
“Nem nekem… van biz az ördögnek jó napja.”
“Be rosz kedvben vagyunk” felelt neki János.
“Hogyne? mikor ez az út olyan posványos.
Nógatom lovamat már reggeltől kezdve;
De csak ugy van, mintha le volna enyvezve.”
“Segíthetünk azon… de mondja meg kend csak,
Ezen az úton itt vajjon hova jutnak?”
Kérdé János vitéz egy útra mutatva,
Mely az erdőt jobbra végighasította.
“Ezen az úton itt? dejsz erre ne menjen,
Nem mondok egyebet;… odavesz különben.
Óriások lakják ott azt a vidéket,
Nem jött ki még onnan, aki odalépett.”
Felelt János vitéz: “Bízza kend azt csak rám.
Mostan a szekérhez lássunk egymás után.”
Így szólott, aztán a rúd végét megkapta,
S csak tréfamódra a sárból kiragadta.
Volt a fazekasnak jó nagy szeme, szája,
De mégis kicsiny volt az álmélkodásra;
Amire föleszmélt, hogy köszönjön szépen,
János vitéz már jól benn járt az erdőben.
János vitéz ment és elért nemsokára
Az óriásföldnek félelmes tájára.
Egy vágtató patak folyt a határ mellett:
Hanem folyónak is jóformán beillett.
A pataknál állt az óriásföld csősze;
Mikor János vitéz a szemébe néze,
Oly magasra kellett emelnie fejét,
Mintha nézné holmi toronynak tetejét.
Óriások csősze őt érkezni látta.
S mintha mennykő volna, igy dörgött reája:
“Ha jól látom, ott a fűben ember mozog; –
Talpam úgyis viszket, várj, majd rád gázolok.”
De az óriás amint rálépett volna,
János feje fölött kardját föltartotta,
Belelépett a nagy kamasz és elbődült,
S hogy lábát felkapta: a patakba szédült.
“Éppen úgy esett ez, amint csak kivántam.”
János vitéznek ez járt gondolatában;
Amint ezt gondolta, szaladni is kezdett,
S az óriás felett átmente a vizet.
Az óriás még föl nem tápászkodhatott,
Amint János vitéz a túlpartra jutott,
Átjutott és nekisuhintva szablyáját,
Végigmetszette a csősz nyaka csigáját.
Nem kelt föl többé az óriások csősze,
Hogy a rábizott tájt őrző szemmel nézze;
Napfogyatkozás jött szeme világára,
Melynek elmulását hasztalanul várta.
Keresztülfutott a patak vize testén;
Veres lett hulláma vértől befestetvén. –
Hát Jánost mi érte, szerencse vagy inség?
Majd meghalljuk azt is, várjunk csak kicsinnyég.

Dịch

Giăng Dũng sĩ đem theo hai bạn cùng đi
Một là nỗi sầu đang gặm mòn tâm tưởng
Một là thanh kiếm tốt nằm trong bao đựng
Thanh kiếm mà máu Thổ đang rỉ hoen
Anh đi trên những con đường chưa quen
Hơn một lần trăng đã đầy và đã mất
Thiên nhiên tháng tư đã từng thay áo mặc
Khi anh nói chuyện với nỗi buồn đau:
“Khi nào mi chán một công việc dài lâu
Hỡi nỗi buồn mà thương đau ta không thỏa được?
Tra khảo làm chi nếu mi không thể làm ta chết?
Đi đi, nơi khác mi được việc hơn nhiều
Không, có phải mi làm ta chết được đâu
Không, nếu muốn chết, ta phải tìm nơi khác
Nhưng đâu? Ở đâu cũng đều gian khổ hết!
Có thể ta tìm nơi chúng bay cái chết ngọt ngào”
Giăng lại đi, anh để đấy nỗi buồn đau
Lâu lâu nó cũng có cơ bay mất
Nhưng nhắc làm chi, cửa đà đóng chặt
Nỗi đau ứa lệ trên mi mắt, và tránh đi
Rồi đến lượt Giăng thu xếp cho hạt lệ trên mi
Anh chỉ còn kéo lê tấm thân vô tội
Cho đến lúc gặp bờ khu rừng tối
Ở đấy anh gặp một chiếc xe
Đó là xe của người lò gốm. Trong bùn lê mê
Bánh xe ngập vào đến trục
Ông thợ lò gốm vỗ lưng con ngựa giục
Cái xe lần khân nói: “Tôi ở đây, tôi đứng đây”
Giăng Dũng sĩ: “Chúa Trời chào các ngươi!”
Ông thợ lò gốm nhìn anh cáu kỉnh
Ông nói thêm lòng chưa hết giận:
“Chào ư? Chẳng phải chào ta! mà chào cái xe hư”
Giăng Dũng sĩ: “Tính nết ta tồi”
“Này! đất ở đây sao bùn sũng thế?
“Từ rạng đông tôi ở đây lôi con ngựa
Nhưng hình như nó bị trết vào đó rồi”
“Chúng tôi sẽ đến giúp anh một tay
Nhưng trước hết cho hay đường này đi đâu đó nhỉ”
Giăng hỏi và anh đưa tay chỉ
Con đường đâm thẳng đến lòng rừng
“Đường này? Đi vào đó không yên
Vì… Không nói nữa: vào đây hỏng mất
Đường dẫn vào nơi những người khổng lồ cao ngất
Ai vào đó không còn biết đường về”
Giăng trả lời: “Tôi làm việc của tôi
Giờ đây anh né người qua một chút!”
Anh nói rồi nắm càng xe hất ngược
Anh đẩy bánh xe ra khỏi đống bùn
Ông thợ lò gốm trố mắt há mồm
Nhưng bụng ông lấy làm thỏa mãn
Khi ông muốn ngỏ lời cảm ơn anh bạn
Thì Giăng Dũng sĩ đã mất hút trong rừng xa
Và Giăng đi tìm xứ sở người khổng lồ
Anh đến những vùng núi sông kinh khủng
Ngọn suối trào lên làm biên giới vững
Nhưng với mắt người nên gọi đó con sông
Một khổng lồ đứng sát bên dòng
Giăng Dũng sĩ muốn nhìn người tận mặt
Anh ngẩng đầu lên cao ngất
Như để nhìn một mái đỉnh tháp cao
Người đứng cạnh to lớn nhìn thấy Giăng ta
Và tiếng hắn gọi hung như tiếng sấm:
Trong cỏ ta thấy gì? Một bóng người lay động!
Này! ta ngứa chân đây: chờ ta đạp chà mi!”
Khi thấy người khổng lồ hất bàn chân to
Hai tay Giăng lên trời vung lưỡi kiếm
Đâm người khổng lồ: như con bò con nó rống
Nó quần lên, nó hỏng chân rồi lộn ngược nó rơi
Nhưng nó rơi trong suối mới đáng đời
Người anh hùng nói: “Đó là điều tôi muốn”
Nói xong anh leo lên cái xác lớn
Vượt qua dòng trên chiếc cầu kiểu mới tinh
Người khổng lồ chưa cất được mình
Thì Giăng Dũng sĩ đã qua được bên kia bờ suối
Từ đó phất thanh kiếm dài sáng chói
Anh chặt đứt hẳn cổ tên chó má đáng thương
Hắn không còn dậy được nữa, tên lính canh
Để kiểm soát nơi giao hắn ta kiểm soát
Mắt bị mờ đi không còn như ngọn đuốc
Như một đêm nguyệt thực không hết bao giờ
Nước sông chảy băng qua tấm xác cứng đờ
Máu vẫy, nước sông biến thành đỏ lựng
Dữ hay may số phận của Giăng anh dũng?
Ta rồi sẽ biết: xin cứ đợi chờ

23

János vitéz egy nagy hegy tetején jára,
Hogy a kelő hajnal rásütött arcára.
Gyönyörűséges volt, amit ekkor látott,
Meg is állt, hogy körülnézze a világot.
Haldoklófélben volt a hajnali csillag,
Halovány sugára már csak alig csillog,
Mint gyorsan kiröppent fohász, eltünt végre,
Mikor a fényes nap föllépett az égre.
Föllépett aranyos szekeren ragyogva,
Nyájasan nézett a sík tengerhabokra,
Mik, ugy tetszett, mintha még szenderegnének,
Elfoglalva térét a végtelenségnek.
Nem mozdult a tenger, de fickándoztanak
Sima hátán néha apró tarka halak,
S ha napsugár érte pikkelyes testöket,
Tündöklő gyémántnak fényeként reszketett.
A tengerparton kis halászkunyhó álla;
Öreg volt a halász, térdig ért szakálla,
Épen mostan akart hálót vetni vízbe,
János odament és tőle ezt kérdezte:
“Ha szépen megkérem kendet, öreg bátya,
Átszállít-e engem tenger más partjára?
Örömest fizetnék, hanem nincsen pénzem,
Tegye meg kend ingyen, köszönettel vészem.”
“Fiam, ha volna, sem kéne pénzed nékem,”
Felelt a jó öreg nyájasan, szelíden.
“Megtermi mindenkor a tenger mélysége,
Ami kevésre van éltemnek szüksége.
De micsoda járat vetett téged ide?
Az óperenciás tenger ez, tudod-e?
Azért semmi áron által nem vihetlek,
Se vége, se hossza ennek a tengernek.”
“Az óperenciás?” kiáltott fel János,
“Annál inkább vagyok hát kiváncsiságos;
De már igy átmegyek, akárhová jutok.
Van még egy mód hátra… a sípomba fuvok.”
És megfújta sípját. A sípnak szavára
Egy óriás mindjárt előtte is álla.
“Át tudsz-e gázolni ezen a tengeren?”
Kérdi János vitéz “gázolj által velem.”
“Át tudok-e?” szól az óriás és nevet,
“Meghiszem azt; foglalj a vállamon helyet.
Így ni, most kapaszkodj meg jól a hajamba.”
És már meg is indult, amint ezt kimondta.

Dịch

Trên núi cao Giăng rẽ một lối mòn
Khi bình minh ửng sáng chiếu vào khuôn mặt
Một cảnh mê hồn đập vào con mắt
Giăng dừng chân để ngắm nghía xung quanh
Sao mai sắp lặn trên trời xanh
Nó chỉ còn lờ mờ tia sáng nhỏ
Và khi mặt trời lên cao rực đỏ
Sao mai thở dài và cũng dần phai
Mặt trời tiến lên như đi trên một chiếc xe chói ngời
Mặt trời nhìn quanh bằng cặp mắt thôn dã
Nó dịu dàng như sợ phá tan giấc ngủ
Của biển sóng lặng nhấp nhô
Trên lưng chấp chới của biển xa
Lâu lâu nhảy nhót đàn cá nhiều màu sắc
Mỗi chiếc vảy con khi mặt trời chiếu sát
Là một viên ngọc chói sáng tươi trong
Trên bờ biển là lều một ngư ông
Một người đánh cá già: râu phết gối
Ông già ta sắp tung mảnh lưới
Giăng đến gần và nhờ giúp qua khơi
“Thưa cha, cha có muốn làm cho con vui
Chở con sang bên kia bờ bể
Muốn trả công cha, nhưng không tiền của
Cha giúp không công, lòng mãi ơn cha”
Ông lão bỗng nói êm dịu ngọt ngào:
“Nếu con có tiền thì con cứ giữ
Sóng biển này thường cho cha đầy đủ
Để cha sống thanh bạch cuộc đời
Nhưng sao con đưa chân đến bến này?
Con biết chăng biển này là Biển Phúc
Cha không đưa con qua cho dù giá đắt
Vì lý do là biển rộng không cùng”
Giăng kêu lên: “À! Biển Phúc đây chăng?
Ta lại còn tò mò muốn biết
Phải đi! Dù chưa biết thế nào số kiếp
Ta vẫn còn một cách: thổi còi”
Và Giăng thổi còi. Mới tiếng đầu thôi
Tức khắc một người khổng lồ đã đến
Giăng hỏi: “Anh có thể đi qua biển
Lội chân? Nếu được, mang ta vượt khơi cùng”
Người khổng lồ trả lời: “Có được không?”
Và cười: “Tin là được! Ngồi vai cho vững
Được rồi. Ôm lấy tóc tôi, ngón tay cho cứng”
Nói xong người khổng lồ lội xuống đại dương

24

Vitte az óriás János vitézünket;
Nagy lába egyszerre fél mérföldet lépett,
Három hétig vitte szörnyü sebességgel,
De a tulsó partot csak nem érhették el.
Egyszer a távolság kékellő ködében,
Jánosnak valami akad meg szemében.
“Nini, ott már a part!” szólt megörvendezve.
“Biz az csak egy sziget,” felelt, aki vitte.
János ezt kérdezte: “És micsoda sziget?”
“Tündérország, róla hallhattál eleget.
Tündérország; ott van a világnak vége,
A tenger azon túl tűnik semmiségbe.”
“Vigy oda hát engem, hűséges jobbágyom,
Mert én azt meglátni fölötte kivánom.”
“Elvihetlek,” felelt az óriás neki,
“De ott életedet veszély fenyegeti.
Nem olyan könnyű ám a bejárás oda,
Őrizi kapuját sok iszonyú csoda…”
“Ne gondolj te azzal, csak vigy el odáig;
Hogy bemehetek-e vagy nem, majd elválik.”
Szófogadásra igy inté az óriást,
Aki tovább nem is tett semmi kifogást,
Hanem vitte őtet és a partra tette,
És azután utját visszafelé vette.

Dịch

Và cõng theo anh dũng sĩ. Anh bước phăng
Vượt biển xa mỗi bước hàng nửa dặm
Cứ lối đi kỳ ảo ấy cuối cùng một tháng
Hai người còn xa vẫn chưa đến được bờ kia
Một ngày, trong sương mù xanh xám phía xa
Một cái gì đập vào mắt Giăng Dũng sĩ
Anh sung sướng la to: “Đất! Đất!”
Người cõng anh nói: “Mới chỉ là đảo, một hòn”
Anh Giăng hỏi: “Hòn đảo gì thế anh?”
“Ngươi có nghe nói về chỗ tận cùng đất?
Đây là xứ sở các nàng tiên, trước mắt
Và biển muôn trùng rơi mất trong hư vô”
“Đem ta đến đó, anh bạn khổng lồ
Đó là cái mà lòng ta muốn thấy”
Người dân trung thành đáp lại:
“Mang Anh đến đó. Nhưng cái chết đợi trên bờ
Đến xứ ấy đâu phải chuyện con thơ
Vì có lũ quỷ kinh hồn canh cửa”
“Ta đã bảo, anh mang ta đến đó
Còn lại là việc ta, có phải việc anh đâu”
Đành phải tuân lệnh trên, anh khổng lồ
Cho đã nói là làm, không bàn nữa
Anh bước lên, đặt Giăng trên bãi bể
Anh quay lưng và anh lui chân

25

Tündérország első kapuját őrzötte
Félrőfös körmökkel három szilaj medve.
De fáradságosan János keze által
Mind a három medve egy lett a halállal.
“Ez elég lesz mára,” János ezt gondolta,
Nagy munkája után egy padon nyugodva.
“Ma ezen a helyen kissé megpihenek,
Holnap egy kapuval ismét beljebb megyek.”
És amint gondolta, akkép cselekedett,
Második kapuhoz másnap közeledett.
De már itt keményebb munka várt ám rája,
Itt őrzőnek három vad oroszlán álla.
Hát nekigyűrközik; a fenevadakra
Ráront hatalmasan, kardját villogtatva;
Védelmezték azok csunyául magokat,
De csak mind a három élete megszakadt.
Igen feltüzelte ez a győzedelem,
Azért, mint tennap, most még csak meg sem pihen,
De letörölve a sűrü verítéket,
A harmadik kapu közelébe lépett.
Uram ne hagyj el! itt volt ám szörnyű strázsa;
Vért jéggé fagyasztó volt rémes látása.
Egy nagy sárkánykígyó áll itt a kapuban;
Elnyelne hat ökröt, akkora szája van.
Bátorság dolgában helyén állott János,
Találós ész sem volt őnála hiányos,
Látta, hogy kardjával nem boldogúl itten,
Más módot keresett hát, hogy bemehessen.
A sárkánykígyó nagy száját feltátotta,
Hogy Jánost egyszerre szerteszét harapja;
S mit tesz ez, a dolog ilyen állásába’?
Hirtelen beugrik a sárkány torkába.
Sárkány derekában kereste a szívet,
Ráakadt és bele kardvasat merített.
A sárkány azonnal széjjelterpeszkedett,
S kinyögte magából a megtört életet.
Hej János vitéznek került sok bajába,
Míg lyukat fúrhatott sárkány oldalába.
Végtére kifurta, belőle kimászott,
Kaput nyit, és látja szép Tündérországot.

Dịch

Có ba con gấu dữ ở ngưỡng cửa đầu tiên
Móng chúng dài như một cánh chỏ
Sau một trận đánh nhau hùng hổ
Giăng để chúng nằm chết ngoẻo trên thềm
“Hôm nay thế là vừa” tự nhủ anh Giăng
Anh ngồi ghế dài sau khi xong việc lớn
“Ta ngồi nơi đây cho đỡ bận
Ngày mai ta sẽ tới cửa thứ hai
Anh nói, anh làm. Hôm sau ngay
Giăng Dũng sĩ bước đến gần cửa tiếp
Nhưng khỉ thay, ở đây còn rất nhọc
Ba con sư tử ác đứng canh
Giăng cởi áo ngoài, nhảy nhót rất xinh
Vút Thanh kiếm sáng lên đầu thú dữ
Ba con vật quặn mình giãy giụa
Nhưng cuối cùng cũng bị chặt phanh thây
Làm xong việc Giăng Dũng sĩ mừng vui
Thôi nghỉ ngơi làm chi hôm qua nữa?
Anh vội vàng lau mồ hôi tuôn đổ
Và nhanh chân bước đến cửa thứ ba ngay
Nhưng trời, lần sau, kẻ canh cửa ghê thay
Nhìn thấy hắn máu trong người đông lại
Đứng trước cửa một con rồng vĩ đại
Mõm nhe to có thể ngoạm sáu con bò
Khi cần thì Giăng cũng vững chí không lo
Nhưng đầu anh cũng dồi dào mưu mẹo
Anh thấy có thanh kiếm trong tay cũng là chưa đủ
Nhưng phải vào. Anh sẽ nghĩ kế sau
Đây con rồng đang há mồm to
Để nuốt một miếng cả anh Giăng Dũng sĩ
Lúc này đây người anh hùng sẽ làm chi đó?
Anh nhảy tót vào cổ họng con rồng
Trong thân quái vật anh tìm trái tim
Anh đâm vào đó toàn thân kiếm thép
Ngay tức khắc von rồng ngã rẹp
Nó thoát vong linh
Anh bạn ta còn muốn làm hơn
Muốn đâm thủng một lỗ vào thân quái vật
Cuối cùng chính anh Giăng đã làm được
Anh ra mở cửa, thấy xứ đẹp các người tiên

26 

Tündérországban csak híre sincs a télnek,
Ott örökös tavasz pompájában élnek;
S nincsen ott nap kelte, nap lenyugovása,
Örökös hajnalnak játszik pirossága.
Benne tündérfiak és tündérleányok
Halált nem ismerve élnek boldogságnak;
Nem szükséges nekik sem étel, sem ital,
Élnek a szerelem édes csókjaival.
Nem sír ott a bánat, de a nagy örömtül
Gyakran a tündérek szeméből könny gördül;
Leszivárog a könny a föld mélységébe,
És ennek méhében gyémánt lesz belőle.
Szőke tündérlyányok sárga hajaikat
Szálanként keresztülhúzzák a föld alatt;
E szálakból válik az aranynak érce,
Kincsleső emberek nem kis örömére.
A tündérgyerekek ott szivárványt fonnak
Szemsugarából a tündérleányoknak;
Mikor a szivárványt jó hosszúra fonták,
Ékesítik vele a felhős ég boltját.
Van a tündéreknek virágnyoszolyája,
Örömtől ittasan heverésznek rája;
Illatterhes szellők lanyha fuvallatja
Őket a nyoszolyán álomba ringatja.
És amely világot álmaikban látnak,
Tündérország még csak árnya e világnak.
Ha a földi ember először lyányt ölel,
Ennek az álomnak gyönyöre tölti el.

Dịch

Ở đây, không biết có tên mùa đông
Người ta sống trong mùa xuân vĩnh viễn
Ở đây, không có mặt trời lên, không có lặn
Một bình minh vĩnh viễn làm thấy tất cả là màu hồng
Những cậu trai-tiên, những cô gái-tiên
Hít thở cái vui, không biết bì cái chết
Không cần thức ăn, không cần nước mát
Họ chỉ sống có tình yêu và đằm thắm hôn nhau
Không có lệ đau thương. Nhưng thường một tiên nga
Vì sung sướng quá nên rơi nước mắt
Hạt lệ thấm sâu vào lòng đất
Được ủ lâu ngày và hoá kim cương
Các tiên nga để từng sợi tóc vàng
Từng sợi tóc dài luồn sâu dưới đất
Mỗi sợi thành một vỉa kim khí vàng giá đắt
Làm vui vẻ biết bao người tham
Các cậu trai-tiên thắt một cầu vồng
Với tia mắt trong của bao cô gái
Và khi đã thắt chiều dài vừa phải
Các cậu lấy cầu vồng trang trí trời mây
Trên những lớp hoa, trong lúc vui say
Các người tiên nghỉ ngơi thoải mái
Và gió biển thơm nồng ru êm ái
Đưa họ vào giấc ngủ thần tiên
Song xứ thần tiên cũng chỉ là bóng đêm
Bên cạnh thế giới mà các tiên mơ ước thấy
Và lần đầu được ôm riết người đàn bà yêu quý
Người đàn ông hưởng hạnh phúc vô giá dưới trần gian

Nguyễn Xuân Sanh là một gương mặt nổi bật của làng văn học Việt Nam. Qua bài viết chúng ta chiêm ngưỡng những thi phẩm đặc sắc của ông để rồi hiểu thêm lý do vì sao ông được mọi người đánh giá cao như vậy. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

Xem Thêm: