được đánh giá là một nhà thơ có lối thơ mới mẻ và độc đáo. Qua những bài thơ của ông chúng ta có thể cảm nhận được những nỗi lòng, tâm tư chôn dấu của ông qua những thi phẩm đi vào lòng bạn đọc. Hôm nay, chúng tôi xin dành tặng các bạn những bài thơ dịch của nhà thơ Hungary Petőfi Sándor. Đừng bỏ lỡ nhé!

2

Az idő aközben haladott sietve,
A patak habjain piroslott az este.
Dúlt-fúlt Iluskának gonosz mostohája;
Hol marad, hol lehet oly soká leánya?
A rosz vén mostoha ekképp gondolkodott;
Követték ezek a szók a gondolatot:
(S nem mondhatni, hogy jókedvvel ejtette ki.)
“Megnézem, mit csinál? ha henyél: jaj neki!”
Jaj neked Iluska, szegény árva kislyány!
Hátad mögött van már a dühös boszorkány;
Nagy szája megnyílik, tüdeje kitágul,
S ily módon riaszt föl szerelem álmábul:
“Becstelen teremtés! gyalázatos pára!
Ilyet mersz te tenni világnak csúfjára?
Lopod a napot, és istentelenkedel…
Nézze meg az ember… hogy tüstént vigyen el -“
“Hanem most már elég, hallja-e kend, anyjuk?
Fogja be a száját, vagy majd betapasztjuk.
Ugy merje kend Ilust egy szóval bántani,
Hogy kihullanak még meglevő fogai.”
Reszkető kedvese védelmezésére
Ekkép fakadt ki a nyáj bátor őrzője;
Azután haragos szemmel fenyegetve
Az elmondottakhoz e szavakat tette:
“Ha nem akarja, hogy felgyujtsam a házát,
Meg ne illesse kend ezt a szegény árvát.
Úgyis töri magát, dolgozik eleget,
És mégsem kap száraz kenyérnél egyebet.
Most eredj Iluskám. Megvan még a nyelved,
Hogy elpanaszold, ha roszúl bánik veled. –
S kend ne akadjon fönn azon, mit más csinál,
Hisz kend sem volt jobb a deákné vásznánál.”
Kukoricza Jancsi fölkapta subáját,
S sebes lépésekkel ment keresni nyáját,
Nagy megszeppenéssel most vette csak észre,
Hogy imitt-amott van egy-kettő belőle.

Dịch

Buổi chiều đã vội vàng nghiêng bóng đổ
Bọt sóng ửng hồng chấp chới ánh lửa đêm
Mụ dì gian ác giọng cuồng điên:
“I-lu làm gì? Nó đi đâu mà chậm thế?”
Bụng mụ sôi lên, con mụ dì ghẻ
Trong khi mụ hét tướng mồm loa
(Bạn nghĩ thử xem giọng mụ dễ thương sao):
“Đi xem nào! Nó cứ lề rề, thì liệu!”
Cô hãy dè chừng, cô I-lu côi cút
Sau lưng cô con mẹ phù thủy nổi tam bành
Mồm mụ loe ra, ngực mụ phồng lên
Mụ muốn kéo cô khỏi giấc mơ tình ái:
“Này! cái giống ô danh, loài ngu dại
Mày muốn cho thiên hạ chê cười!
Này cái con đĩ, con ăn cắp, con lười!
Cho quỷ kéo mày đi! Có bao giờ lại thế…”
“- Im đi, này mụ già mồm, nghe ta đây nhé
Câm mồm đi, nếu không ta đập nát xương
Chỉ một tiếng chửi cô I-lu đau thương
Thì cả hàm răng mày ta bẻ nát”
Anh chăn cừu dũng tráng nói dõng dạc
Cô bạn gái dịu dàng anh hết thấy run lo
Giọng phẫn uất, cặp mắt mở to
Anh nhìn con mụ già nói tiếp:
“Nếu mày muốn nhà mày không bị đốt rẹp
Thì đừng có rớ vào cô bé mồ côi đây
Cô làm việc gãy lưng đứt ruột bao ngày
Mày chỉ cho bánh mỳ khô với cháo
Thôi đi đi, em I-lu. Phải mạnh bạo
Nếu người ta dữ ác, bảo anh hay!
Còn mày, bớt ăn bám như từ trước đến nay
Trời không phù hộ mày đâu nhé!”
Rồi Giăng cúi nhặt ngay áo khoác
Chạy nhanh chân đi kiếm đàn cừu
Chao ôi! Còn đâu? Hai con nơi kia
Một con nơi này: cả người anh sợ khiếp

20

János az erdőben mindig beljebb haladt;
Sokszor meg-megállt a csodálkozás miatt,
Mert nem látott minden léptében-nyomában
Olyat, amit látott Óriásországban.
Volt ennek a tájnak sok akkora fája,
Hogy a tetejöket János nem is látta.
Aztán olyan széles volt a fák levele,
Hogy szűrnek is untig elég volna fele.
A szunyogok itten akkorákra nőttek,
Hogy ökrök gyanánt is máshol elkelnének.
Volt is mit aprítni János szablyájának;
Minthogy feléje nagy mennyiségben szálltak.
Hát még meg a varjúk!… hú, azok voltak ám!
Látott egyet űlni egyik fa sudarán,
Lehetett valami két mérföldre tőle,
Mégis akkora volt, hogy felhőnek vélte.
Így ballagott János bámulva mód nélkül.
Egyszerre előtte valami sötétül.
Az óriás király nagy fekete vára
Volt, ami sötéten szeme előtt álla.
Nem hazudok, de volt akkora kapuja,
Hogy, hogy… biz én nem is tudom, hogy mekkora,
Csakhogy nagy volt biz az, képzelni is lehet;
Az óriás király kicsit nem építtet.
Hát odaért János s ekkép elmélkedék:
“A külsejét látom, megnézem belsejét;”
S nem törődve azon, hogy majd megugratják,
Megnyitotta a nagy palota ajtaját.
No hanem, hisz ugyan volt is mit látnia!
Ebédelt a király s tudj’ isten hány fia.
Hanem mit ebédelt, ki nem találjátok;
Gondolnátok-e, mit? csupa kősziklákat.
Mikor János vitéz a házba belépett,
Nemigen kivánta meg ezt az ebédet;
De az óriások jószivü királya
Az ebéddel őt ily szépen megkinálta:
“Ha már itt vagy, jöszte és ebédelj velünk,
Ha nem nyelsz kősziklát, mi majd téged nyelünk;
Fogadd el, különben száraz ebédünket
Ízről porrá morzsolt testeddel sózzuk meg.”
Az óriás király ezt nem úgy mondotta,
Hogy János tréfára gondolhatta volna;
Hát egész készséggel ilyen szókkal felelt:
“Megvallom, nem szoktam még meg ez eledelt;
De ha kivánjátok, megteszem, miért ne?
Társaságotokba beállok ebédre,
Csupán egyre kérlek, s azt megtehetitek,
Számomra előbb kis darabot törjetek.”
Letört a sziklából valami öt fontot
A király, s amellett ily szavakat mondott:
“Nesze, galuskának elég lesz e darab,
Aztán gombócot kapsz, hanem összeharapd.”
“Harapod bizony te, a kínos napodat!
De fogadom, bele is törik a fogad!”
Kiáltott fel János haragos beszéddel,
S meglódította a követ jobb kezével.
A kő úgy a király homlokához koppant,
Hogy az agyveleje azonnal kiloccsant.
“Igy híj meg máskor is kőszikla-ebédre,”
Szólt s kacagott János “ráforrt a gégédre!”
És az óriások elszomorodának
Keserves halálán a szegény királynak,
S szomorúságokban elfakadtak sírva…
Minden csepp könnyök egy dézsa víz lett volna.
A legöregebbik szólt János vitézhez:
“Urunk és királyunk, kegyelmezz, kegyelmezz!
Mert mi téged ime királynak fogadunk,
Csak ne bánts minket is, jobbágyaid vagyunk!”
“Amit bátyánk mondott, közös akaratunk,
Csak ne bánts minket is, jobbágyaid vagyunk!”
A többi óriás ekképen esengett,
“Fogadj el örökös jobbágyidúl minket.”
Felelt János vitéz: “Elfogadom tehát
Egy kikötéssel a kendtek ajánlatát.
Én itt nem maradok, mert tovább kell mennem,
Itt hagyok valakit királynak helyettem.
Már akárki lesz is, az mindegy énnekem.
Kendtektől csupán ez egyet követelem:
Amidőn a szükség úgy hozza magával,
Nálam teremjenek kendtek teljes számmal.”
“Vidd, kegyelmes urunk, magaddal e sípot,
S ott leszünk, mihelyest jobbágyidat hívod.”
Az öreg óriás ezeket mondotta,
S János vitéznek a sípot általadta.
János bedugta a sípot tarsolyába,
Kevélyen gondolva nagy diadalmára,
És számos szerencse-kivánások között
Az óriásoktól aztán elköltözött.

Dịch

Giăng cứ đi mãi vào rừng sâu
Vô cùng ngạc nhiên, anh thường đứng lại
Anh thấy nhiều nơi nhưng trong đời mãi mãi
Không thấy được những cái ở xứ sở khổng lồ
Thân cây ở đó hết sức to
Đến nỗi Giăng không thể nhìn được ngọn
Lá cây thì vô cùng lớn rộng
Chỉ một lá cây đủ làm được hai áo khoác ngoài
Con muỗi cung to lớn làm sao
Ở nơi khác người ta cho đó là bò mộng
Lưỡi kiếm Giăng đập muỗi rừng từng đống
Vì nó lượn quanh anh từng đống từng bầy
Và quạ đen cũng có ở đây
Giăng Dũng sĩ thấy một con trên cây đứng
Dù nó cách xa ít đi là hai dặm
Nó vẫn không bé gì hơn một đám mây mênh mông
Qua bao chuyện thần kỳ cứ đi mãi anh Giăng
Cho đến khi trước mắt anh xuất hiện một cái gì tăm tối
Đây cung điện màu đen của nhà vua trong xứ
Bóng khổng lồ dựng thẳng trước mắt anh
Và cánh cửa cũng to lớn ngang tàng
To lớn quá… tôi không thể nào nói được
Ta cứ biết là nó lớn! Miễn là ta biết
Rằng vua khổng lồ không xây nhà bé bao giờ!
Giăng vào sát cửa, anh nói như sau:
” Đây phía ngoài, đi xem phía trong một chút”
Và cũng không tự hỏi có gì phiền phức
Anh mở cửa cung điện, anh bước vào
Ôi, có gì làm chói mắt làm sao
Vua ngồi bàn ăn với nhiều người con lớn
Còn họ ăn gì, anh thử đoán
Lưỡi mèo chăng? Không, núi đá đây này
Giăng thấy món ăn có vẻ ghê thay
Nhưng đã vào, lui ra thì chậm quá
Và ông vua bọn khổng lồ rộng rãi
Ngỏ lời mời thân ái anh Giăng:
“Anh đã đến thì mời anh cùng ăn
Ăn đi, nếu không chúng mình ăn cậu
Này, nếu bữa tiệc không đủ vị
Thân anh sẽ xé ra làm món trộn ngon lành”
Nhưng vua bọn khổng lồ không nói bông lông
Để người ta có thể tưởng trò đùa cợt
Giăng Dũng sĩ trả lời vua lễ phép:
“Món ăn này, thú thật, tôi không quen
Nhưng vua muốn, sao tôi không thử ăn?
Tôi muốn ăn cùng bàn với các vị
Chỉ mong được phiền các ngươi một tí
Nhờ các ngươi cắn hộ góc núi đá này”
Và cắn rời góc núi đá năm cân
Vua trao thức ăn cho Giăng và nói:
” Chỉ cần ngoạm một miếng to thôi đấy
Nhai kỹ nhé: chúng ta chờ anh”
Chính mày sẽ nhai, đời hết rồi chăng
Tao nhận ăn bữa tiệc này, nhưng để mày chán nó!”
Giăng Dũng sĩ nói giọng đầy giận dữ
Và món ăn cầm chặt trong tay
Anh vứt hòn đá vào trán tên vua
Bắn vọt ra khắp nơi là bộ óc
“Tao chữa cho mày bệnh trao đá ăn cho khách
Mày nuốt đi” Giăng nói rồi cười ồ
Bọn khổng lồ buồn đau như mất cha
Khi thấy vận mệnh ông hoàng hấp hối
Tang thương biểu lộ bằng dòng lệ suối
Mỗi giọt nước mắt đựng đủ một thùng đầy
Đây lời thằng cả bọn con trai:
“Thưa lãnh chúa – xin cúi xin lòng bác ái!
Chúng tôi biết ơn ngài mãi mãi
Nhưng xin tha tội, chúng tôi là dân hiền”
Và cả bọn khổng lồ đều đồng thanh:
“Anh cả chúng tôi nói thay cho tất cả
Xin tha tội, chúng tôi là dân hiền đó
Xin xem chúng tôi như vậy cho đến nghìn đời!”
“Này thôi đồng ý” Giăng trả lời
“Ta nhận câu cầu xin, nhưng ta thêm một khoản
Ta phải đến nơi vận mệnh đòi ta đến
Và ta để lại nơi đây một phó vương
Ai, thì cho các anh đề nghị cho nhanh
Nhưng có một điều ta bắt buộc
Nếu sau đây có việc gì cần thiết
Các anh phải đến trình diện ta nghiêm trang
“Nhớ mang chiếc còi này, xin Quốc vương
Nghe tiếng còi đầu là dân hiền có mặt”
Đó lời nói của khổng lồ già nhất
Và hắn vội trao còi
Khi Giăng bỏ còi vào chiếc túi đeo
Giăng hãnh diện là dễ dàng đã thắng
Rồi khi nhân dân còn yên đứng
Anh rời các khổng lồ và tiếp tục đường đi

21

Nem bizonyos, mennyi ideig haladott,
De annyi bizonyos, mennél tovább jutott,
Annál sötétebb lett előtte a világ,
S egyszerre csak annyit vesz észre, hogy nem lát.
“Éj van-e vagy szemem világa veszett ki?”
János vitéz ekkép kezdett gondolkodni.
Nem volt éj, nem veszett ki szeme világa,
Hanem hogy ez volt a sötétség országa.
Nem sütött az égen itt sem nap, sem csillag;
János vitéz csak úgy tapogatva ballag,
Néha feje fölött elreppent valami,
Szárnysuhogás-formát lehetett hallani.
Nem szárnysuhogás volt az tulajdonképen,
Boszorkányok szálltak arra seprőnyélen.
Boszorkányoknak a sötétség országa
Rég ideje a, hogy birtoka, tanyája.
Ország gyülését őkelmök itt tartanak,
Éjfél idejében idelovaglanak.
Most is gyülekeznek ország gyülésére
A sötét tartomány kellő közepére.
Egy mélységes barlang fogadta be őket,
A barlang közepén üst alatt tűz égett.
Ajtó nyilásakor meglátta a tüzet
János vitéz s annak irányán sietett.
Mikor János vitéz odaért: valának
Egybegyülekezve mind a boszorkányok.
Halkan lábujjhegyen a kulcslyukhoz mene,
Furcsa dolgokon is akadt meg a szeme.
A sok vén szipirtyó benn csak ugy hemzsegett.
Hánytak a nagy üstbe békát, patkányfejet,
Akasztófa tövén nőtt füvet, virágot,
Macskafarkat, kigyót, emberkoponyákat.
De ki tudná sorra mind előszámlálni?
Csakhogy János mindjárt át kezdette látni,
Hogy a barlang nem más, mint boszorkánytanya.
Erre egy gondolat agyán átvillana.
Tarsolyához nyúlt, hogy sípját elővegye,
Az óriásoknak hogy jőjön serege,
Hanem megakadt a keze valamiben,
Közelebb vizsgálta s látta, hogy mi legyen.
A seprők voltak ott egymás mellé rakva,
Miken a boszorkány-nép odalovagla.
Fölnyalábolta és messzire elhordá,
Hogy a boszorkányok ne akadjanak rá.
Ekkor visszatért és sípjával füttyentett
És az óriások rögtön megjelentek.
“Rajta, törjetek be szaporán, legények!”
Parancsolá János, s azok betörének.
No hisz keletkezett cifra zenebona;
A boszorkánysereg gyorsan kirohana;
Keresték a seprőt kétségbeeséssel,
De nem találták, s így nem repülhettek el.
Az óriások sem pihentek azalatt,
Mindenikök egy-egy boszorkányt megragadt,
S ugy vágta a földhöz dühös haragjába’,
Hogy széjjellapultak lepények módjára.
Legnevezetesebb a dologban az volt,
Hogy valahányszor egy-egy boszorkány megholt,
Mindannyiszor oszlott az égnek homálya,
S derűlt lassanként a sötétség országa.
Már csaknem egészen nap volt a vidéken,
Az utolsó banya volt a soron épen…
Kire ismert János ebbe’ a banyába’?
Hát Iluskájának mostohaanyjára.
“De, kiáltott János, ezt magam döngetem.”
S óriás kezéből kivette hirtelen,
Hanem a boszorkány kicsusszant markából,
Uccu! szaladni kezd, és volt már jó távol.
“A keserves voltát, rugaszkodj utána!”
Kiáltott most János egyik óriásra.
Szót fogadott ez, és a banyát elkapta,
És a levegőbe magasra hajtotta.
Igy találták meg az utolsó boszorkányt
Halva, János vitéz faluja határán;
S minthogy minden ember gyülölte, utálta,
Mégcsak a varju sem károgott utána.
Sötétség országa kiderült végképen,
Örökös homálynak napfény lett helyében,
János vitéz pedig rakatott nagy tüzet,
A tűz minden seprőt hamuvá égetett.
Az óriásoktól azután bucsút vett,
Szivükre kötvén a jobbágyi hűséget.
Ezek igérték, hogy hűségesek lesznek,
S János vitéz jobbra és ők balra mentek…

Dịch

Anh cứ đi. Không biết đến bao giờ
Nhưng có điều chắc là càng đi càng thấy
Thế giới chung quanh dần dần cứ tối
Đến nỗi anh thấy… chẳng có thấy gì
Giăng Dũng sĩ nói thầm trong bụng thôi:
“Là đêm chăng, hay mắt ta không nhìn được nữa”
Chẳng phải tối khuya, mắt anh vẫn nhìn thấy rõ
Nhưng đây: anh đi trong xứ sở đêm đen
Không có một ngôi sao trên trời đêm
Giăng Dũng sĩ từng bước đi loạng choạng
Chốc chốc trên đầu anh có cái gì bay đen nhoáng
Anh tưởng nghe rì rào có cánh chim bay
Sự thật không có cánh chim rì rào ở đây
Nhưng anh thấy có nhiều con phù thủy
Tay áo la lết dài như đầu chổi
Từ lâu xem xứ tối tựa quê nhà
Ở đây luôn họp hội nghị các bà cô
Cứ khuya khoắt là họ phi ngựa đến
Đêm nay đúng cũng là có chuyện
Và họ vội vàng kéo đến rốn đêm đen
Các mụ già tụt vào một hốc biệt tăm
Có lửa đỏ soi, trên là cái chão
Khi hé cửa, xa xa Giăng nhìn ngọn lửa
Và anh bước nhanh chân
Vào đến hốc đá, Dũng sĩ Giăng
Đã thấy các bà cô ngồi họp bàn tề chỉnh
Anh đến gần ổ khoá, chân lê đi rón rén
Mắt dán vào lỗ, anh thấy nhiều cảnh lạ lùng
Lộn nhộn một lũ đàn bà cay nghiệt đứng lõm khom
Đổ vào chảo nào cóc đen, nào đầu chuột
Nào cỏ nào hoa hái ở chân giá treo cổ
Nào rắn lục, đuôi mèo, nào xương ống và sọ người
Kể sao hết những cái ghê thay?
“Không nghi ngờ gì nữa, đây là hang động các con phù thuỷ!”
Mắt mới nhìn vào Giăng ngay nhận thấy
Và một ý nghĩ thoáng qua đầu
Mở túi đeo ra, rút chiếc còi
Gọi đoàn quân những người khổng lồ đến
Tay đang làm, anh chạm phải cái gì cưng cứng
Cái gì đây? Anh sờ soạng gần hơn
Đó toàn là chổi sắp ngang hàng
Như những con ngựa của mấy con phù thủy
Giăng tóm cả, anh mang lũ chổi
Giấu một nơi – cho các mụ đi tìm
Làm xong, anh trở lại thổi còi lên
Và ngay tức khắc các khổng lồ xuất hiện
“Nào, cho nhảy xổ vào!” Giăng ra lệnh
Và các người khổng lồ đều nhảy xổ vào
Sau đó, các bạn ơi, huyên náo làm sao
Kẻ thù tan rã và chạy ồ ra cửa
Nhanh ai nấy thoát! Nào chổi đâu! Đâu hết chổi?
Khổ chưa! Nó bay biến mất không chờ ta!
Song các người khổng lồ không để mất thì giờ
Mỗi người tóm cổ luôn một con phù thủy
Và vứt nện mụ ta xuống đất
Hung hăng đến nỗi bẹp dí như miếng nhiễu thao
Nhưng lạ nhất trong câu chuyện hôm nay
Là mỗi lần một con phù thủy chết
Bóng đêm trên trời dần dần tan hết
Và rạng đông lấn vào xứ sở tối tăm
Trời cũng đã sáng tưng bừng
Còn một con mụ nữa, và cũng dễ dàng giải quyết
Nhưng Giăng cũng nhận ra cái con quỷ quyệt
Anh đoán ra không? Mẹ ghẻ I-lu
Giăng nói: ” Ồ! Ta phải giết con này”
Ra khỏi tay người khổng lồ anh kéo mụ
Nhưng con mụ già lọt thỏm qua các ngón
Ối chà chà! mụ chạy trốn rất mau
“Đồ chó cái, rồi sẽ biết! – Đuổi theo sau!”
Một người khổng lồ nghe anh ra lệnh
Chạy khá nhanh bắt được con trời đánh
Vứt mụ lên không, vứt mụ rất cao
Con phù thủy cuối cùng đã bị tiêu
Người ta thấy mụ nằm lăn cuối xóm
Nhưng vì bị người ta khinh ghét tợn
Nên lũ quạ cũng chú ý mụ nhiều
Ban ngày đã thắng xứ sở đêm thâu
Và mặt trời đã đến thay cho bóng tối
Đoạn người anh hùng ta thu vén chổi
Và đốt lửa cho chổi nó cháy bung
Sau đó anh giã từ nhân dân
Không quên khuyên họ trung thành mãi mãi
Các khổng lồ hứa hẹn lòng tin vững chãi
Giăng thẳng phía kia, họ thẳng phía này

22

Vándorolgatott az én János vitézem,
Meggyógyult már szive a bútól egészen,
Mert mikor keblén a rózsaszálra nézett,
Nem volt az többé bú, amit akkor érzett.
Ott állott a rózsa mellére akasztva,
Melyet Iluskája sírjáról szakaszta,
Valami édesség volt érezésében,
Ha János elmerült annak nézésében.
Igy ballagott egyszer. A nap lehanyatlott,
Hagyva maga után piros alkonyatot;
A piros alkony is eltűnt a világról,
Követve fogyó hold sárga világától.
János még ballagott; amint a hold leszállt,
Ő fáradottan a sötétségben megállt,
S valami halomra fejét lehajtotta,
Hogy fáradalmát az éjben kinyugodja.
Ledőlt, el is aludt, észre nem is véve,
Hogy nem nyugszik máshol, hanem temetőbe’;
Temetőhely volt ez, ócska temetőhely,
Harcoltak hantjai a rontó idővel.
Mikor az éjfélnek jött rémes órája,
A száját mindenik sírhalom feltátja,
S fehér lepedőben halvány kisértetek
A sírok torkából kiemelkedtenek.
Táncot és éneket kezdettek meg legott,
Lábok alatt a föld reszketve dobogott;
Hanem János vitéz álmai közepett
Sem énekszóra, sem táncra nem ébredett.
Amint egy kisértet őt megpillantotta,
“Ember, élő ember!” e szót kiáltotta,
“Kapjuk fel, vigyük el! mért olyan vakmerő,
Tartományunkba belépni mikép mer ő?”
És odasuhantak mind a kisértetek,
És körülötte már karéjt képeztenek,
És nyultak utána, de a kakas szólal,
S a kisértet mind eltűnt a kakasszóval.
János is felébredt a kakas szavára,
Testét a hidegtől borzadás átjárta;
Csipős szél lengette a síri füveket,
Lábra szedte magát s utra kerekedett.

Dịch

Anh vẫn lang thang hết đó hết đây
Lành hẳn dần dần những cơn đau khổ
Vì mỗi khi anh ngắm hoa hồng đỏ
Anh cất trong trái tim, anh thấy nguôi dần
Hoa hồng nhặt trên mồ xanh I-lu
Anh đeo luôn trên cúc áo
Và khi anh say ngắm hoa hồng tươi đóa
Anh thấy vô cùng tươi thắm tâm tư
Một chiều anh đi. Đang mặt trời lặn
Khắp chân mây trải một hoàng hôn đỏ đắn
Rồi chạng vạng ráng hồng cũng xoá hẳn
Dưới tia ánh nhạt của vành trăng
Giăng còn đi. Khi trăng tắt đầu non
Anh dừng lại trong bóng đêm và mệt lử
Anh gối đầu lên mô đất cỏ
Cầu xin giấc ngủ cho thêm sức để mai đi
Anh nằm dài, anh thiếp li bì
Không biết chính nơi anh nằm ngủ
Là ngôi mộ vắng tanh, là ngôi mộ
Mà mô đất đã mủn qua thời gian
Khi giờ khuya khoắt đã sang
Mỏm các ngôi mộ hả ra toác hoác
Nhả những bóng mặc áo tang trắng toát
Nhả những con ma con mắt thâm sì
Tức thì chúng nhảy múa, chúng hát ca
Đất dưới chân chúng rầm vang run rẩy
Nhưng say sưa trong giấc mơ Giăng Dũng sĩ
Múa hát không thể làm anh tỉnh giấc mơ
Nhưng một bóng ma bỗng nhìn thấy Giăng ta
Ma thốt: “Một con người ư? Còn sống!
Tốt rồi. Mang nó đi! Tóm họng!
Ai cho phép dám vào đất đai đây? “
Rồi lũ bóng ma chạy đến, sát đất lướt như bay
Xong chúng tụ tập vây quanh Giăng Dũng sĩ
Nó mó người anh, khi con gà gáy
Gà gáy, chúng biến mất trong đêm
Tiếng gà gáy làm tỉnh giấc anh Giăng
Anh run run vì khắp người nghe rét
Rung lá cỏ trên mồ có cơn gió buốt
Giăng liền đứng dậy và lại lên đường

1

Tüzesen süt le a nyári nap sugára
Az ég tetejéről a juhászbojtárra.
Fölösleges dolog sütnie oly nagyon,
A juhásznak úgyis nagy melege vagyon.
Szerelem tüze ég fiatal szivében,
Ugy legelteti a nyájt a faluvégen.
Faluvégen nyája mig szerte legelész,
Ő addig subáján a fűben heverész.
Tenger virág nyílik tarkán körülötte,
De ő a virágra szemét nem vetette;
Egy kőhajtásnyira foly tőle a patak,
Bámuló szemei odatapadtanak.
De nem ám a patak csillámló habjára,
Hanem a patakban egy szőke kislyányra,
A szőke kislyánynak karcsu termetére,
Szép hosszú hajára, gömbölyű keblére.
Kisleány szoknyája térdig föl van hajtva,
Mivelhogy ruhákat mos a fris patakba’;
Kilátszik a vízből két szép térdecskéje
Kukoricza Jancsi gyönyörűségére.
Mert a pázsit fölött heverésző juhász
Kukoricza Jancsi, ki is lehetne más?
Ki pedig a vízben a ruhát tisztázza,
Iluska az, Jancsi szivének gyöngyháza.
“Szivemnek gyöngyháza, lelkem Iluskája!”
Kukoricza Jancsi így szólott hozzája:
“Pillants ide, hiszen ezen a világon
Csak te vagy énnekem minden mulatságom.
Vesd reám sugarát kökényszemeidnek,
Gyere ki a vízből, hadd öleljelek meg;
Gyere ki a partra csak egy pillanatra,
Rácsókolom lelkem piros ajakadra!”
“Tudod, Jancsi szivem, örömest kimennék,
Ha a mosással oly igen nem sietnék;
Sietek, mert másképp velem rosszul bánnak,
Mostoha gyermeke vagyok én anyámnak.”
Ezeket mondotta szőke szép Iluska,
S a ruhákat egyre nagy serényen mosta.
De a juhászbojtár fölkel subájáról,
Közelebb megy hozzá, s csalogatva így szól:
“Gyere ki, galambom! gyere ki, gerlicém!
A csókot, ölelést mindjárt elvégzem én;
Aztán a mostohád sincs itt a közelben,
Ne hagyd, hogy szeretőd halálra epedjen.”
Kicsalta a leányt édes beszédével,
Átfogta derekát mind a két kezével,
Megcsókolta száját nem egyszer sem százszor,
Ki mindeneket tud: az tudja csak, hányszor.

Dịch

Lửa ngày hè chiếu nghìn tia nắng sáng
Từ trời cao xuống anh bạn chăn cừu
Nóng ngày hè có thêm gì đâu
Anh vẫn bức dù cho trời không nắng
Ngọn lửa tình làm lòng anh cháy bỏng
Khi anh cho cừu ăn cỏ ria làng
Anh cho đàn cừu đi đứng lang thang
Trải áo tơi anh nằm trên bãi cỏ
Vỗ người anh một bể hoa đang nở
Nhưng mắt anh không hề muốn nhìn hoa
Anh chăm chú nhìn đôi mắt mở to
Một con suối con dạt dào cuộn chảy
Anh không ngắm làn nước xanh nhấp nháy
Nhưng anh ngắm cô gái đẹp giữa dòng
Và mái tóc dài và tấm lưng thon
Và lồng ngực căng đầy của cô gái
Chiếc váy cô xắn tròn lên đầu gối
Cô giặt áo quần giữa suối trong tươi
Để làm mê mệt Giăng cậu-con-đẻ-rơi
Nước để lộ hai đầu gối cô gái bé
Anh bạn chăn cừu nằm trên bãi cỏ
Chính là Giăng cậu-con-đẻ-rơi đó, chính là Giăng
Và người đến suối giặt giũ áo quần
Chính I-lu-sơ-ca, như hòn ngọc
“Ôi ngọc quý của anh ơi, ôi I-lu-sơ-ca thắm thiết
Giăng tỏ tình như vậy đó với cô
Em nghe anh nói chứ? Trên thế giới bao la
Chỉ có em là anh yêu quý nhất
Đôi mắt đen nhánh hãy nhìn anh một chút
Em rời suối trong, đến giữa tay anh
Em bước lên bờ giây phút, anh gửi cả tâm hồn
Trong một cái hôn trên đôi môi thắm!”
“Giăng của em ơi, em sẽ vui vẻ lắm
Nếu công việc không bận bịu ngày em
Anh nhìn đây: chậm giặt ư? roi sẽ đánh đau mèm
Đợi em ở nhà là một bà dì ghẻ”
Nói xong cô gái da màu hung đẹp đẽ
Lại rũ, lại vò quần áo nhanh tay
Giăng đứng lên rời khỏi chiếc áo tơi
Đến cạnh cô và nói lời tâm sự:
“Đến đây em, con chim câu yêu quý
Ôm ghì nhau hôn, đẹp đẽ bao nhiêu
Dì ghẻ ư? bà ở xa lắc làm sao
Em nỡ nào để cho anh chết vì sầu não?”
Cô gái đã nghe theo lời nói dịu
Ôm chặt người anh. Giăng hôn siết môi cô
Trăm lần? không. Nghìn lần? không. Chừng bao?
Cũng chỉ có Trời cao mới rõ

10

Tudni való, hogy itt a sereg izzadott,
Le is hányt magáról dolmányt, nyakravalót…
Hogyne az istenért? a nap fejök felett
Valami egy óra-járásra lehetett.
Enni nem ettek mást, mint levegőeget;
Ez olyan sürü ott, hogy harapni lehet.
Hanem még italhoz is furcsán jutottak:
Ha szomjaztak, vizet felhőből facsartak.
Elérték végtére tetejét a hegynek;
Itt már oly meleg volt, hogy csak éjjel mentek.
Lassacskán mehettek; nagy akadály volt ott:
Hát a csillagokban a ló meg-megbotlott.
Amint ballagtak a csillagok közepett,
Kukoricza Jancsi ekkép elmélkedett:
“Azt mondják, ahányszor egy csillag leszalad,
A földön egy ember élete megszakad.
Ezer a szerencséd, te gonosz mostoha,
Hogy nem tudom, melyik kinek a csillaga;
Nem kínzanád tovább az én galambomat –
Mert lehajítanám mostan csillagodat.”
Eztán nem sokára lejtősen haladtak,
Alacsonyodtak már a hegyek alattok,
A szörnyű forróság szinte szűnni kezdett,
Mentül beljebb érték a francia földet.

Dịch

Đoàn quân đi, đoàn quân đến nước Ba Lan
Rời Ba Lan đoàn quân sang Ấn Độ
Tuy Pháp và Ấn Độ ở gần nhau đó
Nhưng đường đi cũng khúc khuỷu quanh co
Giữa lòng Ấn Độ Chỉ có núi đồi nhỏ không cao
Nhưng càng đi xa nó càng cao vút
Cao đến nỗi cách ngăn Ấn-Pháp
Là núi ngất ngưởng chọc trời xanh
Nên biết ở đó mồ hôi đổ ướt mèm
Binh lính ta cởi áo ngoài, cởi dây cà-vạt
Biết sao, Trời ơi! Trời có biết
Họ bị nắng chưa đầy một tiếng, đi chân!
Họ chỉ còn có khí trời để ăn
Khí trời nén chặt, cạp vào đó được
Họ cũng có cách lạ lùng để uống nước
Họ vắt mây cho rơi xuống mà thôi
Cuối cùng họ leo lên đỉnh núi rồi
Ở đó thuốc chữa nắng: chỉ là đi trong đêm tối
Nhưng phải chậm bước chân, có nhiều rắc rối
Ngựa không ngừng vấp phải các vì sao
Trong trời sao họ bước vào
Trong bụng mình Giăng nghĩ ngợi:
“Mỗi khi có một ngôi sao băng vút tới
Nhân dân bảo đồng thời cũng tắt nghỉ một đời người
Hỡi người dì ghẻ, cũng may cho mi
Cũng may thuộc về ai các sao kia tao không biết
Vì tao cũng có thể ngắt ngôi sao của mụ dì ác nghiệt
Thế là xong nỗi khổ của em tao!”
Con đường bắt đầu xuống, rời các vì sao
Sườn núi nghiêng mình thâm thấp
Đoàn quân càng đi vào đất Pháp
Khí trời oi bức càng trở dịu dàng đi

11

A franciák földje gyönyörű tartomány,
Egész paradicsom, egész kis Kánaán,
Azért is vásott rá a törökök foga,
Pusztitó szándékkal azért törtek oda.
Mikor a magyarság beért az országba,
A törökök ott már raboltak javába’;
Kirabolták a sok gazdag templom kincsét,
És üresen hagytak minden borospincét.
Látni lehetett sok égő város lángját,
Kivel szemközt jöttek, azt kardjokra hányták,
Magát a királyt is kiűzték várából,
S megfosztották kedves egyetlen lyányától.
Így találta népünk a francia királyt,
Széles országában föl s le bujdosva járt;
Amint őt meglátták a magyar huszárok,
Sorsán szánakozó könnyet hullatának.
A bujdosó király ily szókat hallatott:
“Ugye, barátim, hogy keserves állapot?
Kincsem vetélkedett Dárius kincsével,
S most küszködnöm kell a legnagyobb ínséggel.”
A vezér azt mondá vigasztalására:
“Ne busúlj, franciák fölséges királya!
Megtáncoltatjuk mi ezt a gonosz népet,
Ki ily méltatlanul mert bánni tevéled.
Ez éjjelen által kipihenjük magunk,
Mert hosszú volt az út, kissé elfáradtunk.
De holnap azután, mihelyt fölkel a nap,
Visszafoglaljuk mi vesztett országodat.”
“Hát szegény leányom, hát édes leányom?”
Jajdult föl a király, “őtet hol találom?
Elrabolta tőlem törökök vezére…
Aki visszahozza, számolhat kezére.”
Nagy buzditás volt ez a magyar seregnek;
Minden ember szivét reménység szállta meg.
Ez volt mindenkinek fejében föltéve:
“Vagy visszakerítem, vagy meghalok érte.”
Kukoricza Jancsi tán egymaga volt csak
Meg nem hallója az elmondott dolognak;
Jancsinak az esze más egyeben jára:
Visszaemlékezett szép Iluskájára.

Dịch

Đất nước Pháp mỹ lệ làm sao!
Đúng là một thiên đường nho nhỏ vậy
Vì thế bọn Thổ muốn cắn vào bánh ấy
Nhảy xổ vào để cướp bóc no say
Khi đoàn quân Hung đặt bước vào đây
Bọn Thổ đang tranh nhau cướp phá
Của cải nhà thờ chúng nhét vào bị cả
Và hút không tha rượu quý từng thùng
Bao thành phố bị lửa đốt cháy tung
Gặp ai bọn Thổ cũng đưa kiếm thép
Vua cũng phải rời cung trốn thoát
Để cô con gái một rơi vào tay kẻ thù
Bên Pháp lính ta thấy nhà vua
Đi lang thang khắp nơi không nhà không cửa
Kỵ binh Hung thấy nhà vua như thế
Mà rơi nước mắt thương tình
Nhà vua lang thang tỏ lời với quân Hung:
“Các bạn, hãy nhìn xem: đau khổ chứ?
Đa-ri-út cũng ganh tỵ với tôi tiền của
Thế mà bây giờ tôi bỗng rơi trong sự đói nghèo”
Chỉ huy thốt lời an ủi như sau:
“Nhà vua cao cả, xin đừng buồn nữa
Chúng tôi sẽ giúp người hát bài hát mới
Cho lũ người đi tàn sát đê hèn nghe
Ngươi cho chúng tôi nghỉ sức qua đêm
Đường đi xa làm chúng tôi nhọc lắm
Nhưng sáng sớm mai khi mặt trời mới rạng
Chúng tôi sẽ khôi phục quyền ngươi”
“Ôi, con gái yêu của tôi ở đâu rồi?”
Nhà vua hét lên trong suối đầy nước mắt
Tên tướng Thổ, than ôi, đã cướp mất
Ai cứu con gái tôi, tôi sẽ cho cưới lấy nàng!”
Lời này khích lệ đoàn quân Hung
Trái tim mỗi người lính đều dập dờn mơ ước
“Đem cho được công chúa về hay phải chết!”
Ý ấy xôn xao trong bụng mỗi người
Chỉ một mình Giăng cậu-bé-đẻ-rơi
Là không nghe của nhà vua lời hẹn
Đầu óc anh còn xa xôi mơ tưởng
Ký ức luôn kéo anh về với nàng đẹp I-lu

12

Másnap reggel a nap szokás szerint fölkelt,
De nem lát és nem hall olyat minden reggel,
Mint amilyet hallott, mint amilyet látott
Mindjárt, mihelyest a föld szélére hágott.
Megszólalt a sereg harsány trombitája,
Minden legény talpon termett szózatára;
Jól kiköszörülték acélszablyáikat,
Azután nyergelték gyorsan a lovakat.
A király erőnek erejével rajt volt,
Hogy ő is elmegy, s a többiekkel harcol;
Hanem a huszárok bölcs eszű vezére
A királyhoz ilyen tanácsot intéze:
“Nem, kegyelmes király! csak maradj te hátra,
A te karjaid már gyöngék a csatára;
Tudom, meghagyta az idő bátorságod,
De mi haszna? hogyha erőd vele szállott.
Bízd az isten után mireánk ügyedet;
Fogadást teszünk, hogy mire a nap lemegy,
Országodból tova űzzük ellenséged,
S elfoglalhatd újra a királyi széket.”
Erre a magyarság lóra kerekedett,
S keresni indult a rabló törököket;
Nem soká kereste, mindjárt rájok akadt,
És egy követ által izent nekik hadat.
Visszajött a követ, harsog a trombita,
Rémséges zugással kezdődik a csata;
Acélok csengése, torkok kurjantása
Volt a magyaroknál harci jel adása.
A sarkantyút vágták lovak oldalába,
Dobogott a földön lovak patkós lába,
Vagy talán a földnek dobbant meg a szíve,
E vészt jövendölő zajra megijedve.
Törökök vezére hétlófarkú basa,
Ötakós hordónak elég volna hasa;
A sok boritaltól piroslik az orra,
Azt hinné az ember, hogy érett uborka.
A török csapatnak nagy hasú vezére
Rendbe szedte népét a harcnak jelére;
A rendbe szedett nép ugyancsak megállott,
Amint megrohanták a magyar huszárok.
De nem volt gyerekség ez a megrohanás,
Lett is nemsokára szörnyű rendzavarás;
Izzadott a török véres verítéket,
Tőle a zöld mező vörös tengerré lett.
Hej csinálom-adta! meleg egy nap volt ez,
Heggyé emelkedett már a török holttest.
De a basa még él mennykő nagy hasával,
S Kukoricza Jancsit célozza vasával.
Kukoricza Jancsi nem veszi tréfának;
S ily szóval megy neki a török basának:
“Atyafi! te úgyis sok vagy egy legénynek;
Megállj, én majd kettőt csinálok belőled.”
S akként cselekedett, amint megfogadta,
Szegény török basát kettéhasította,
Jobbra-balra hullott izzadó lováról,
Igy múlt ki őkelme ebből a világból.
Mikor ezt látta a gyáva török sereg,
Uccu! hátat fordít és futásnak ered,
Futott, futott s talán mostanság is futna,
Hogyha a huszárok el nem érték volna.
De bezzeg elérték, le is kaszabolták;
Hullottak a fejek előttök, mint a mák.
Egyetlenegy nyargal még lóhalálába’,
Ennek Kukoricza Jancsi ment nyomába.
Hát a török basa fia vágtatott ott,
Ölében valami fehérféle látszott.
A fehérség volt a francia királylyány;
Nem tudott magáról semmit, elájulván.
Soká nyargalt Jancsi, amíg utolérte,
“Megállj, a hitedet!” kiáltott feléje,
“Állj meg, vagy testeden mindjárt nyitok kaput,
Melyen által hitvány lelked pokolba fut.”
De a basa fia meg nem állott volna,
Ha a ló alatta össze nem omolna.
Összeomlott, ki is fújta ott páráját,
Basa fia ilyen szóra nyitá száját:
“Kegyelem, kegyelem, nemes lelkű vitéz!
Ha semmi másra nem: ifjuságomra nézz;
Ifjú vagyok még, az életet szeretem…
Vedd el mindenemet, csak hagyd meg életem!”
“Tartsd meg mindenedet, gyáva élhetetlen!
Kezem által halni vagy te érdemetlen.
Hordd el magad innen, vidd hírűl hazádnak,
Haramja fiai hogy és mikép jártak.”
Leszállott lováról, királylyányhoz lépe,
És beletekintett gyönyörű szemébe,
Melyet a királylyány épen most nyita ki,
Mialatt ily szókat mondanak ajaki:
“Kedves szabadítóm! nem kérdezem, ki vagy?
Csak annyit mondok, hogy hálám irántad nagy.
Háladatosságból én mindent megteszek,
Hogyha kedved tartja, feleséged leszek.”
Jancsi ereiben nem folyt víz vér helyett,
Szívében hatalmas tusa keletkezett;
De lecsillapítá szíve nagy tusáját,
Emlékezetébe hozván Iluskáját.
Nyájasdadon így szólt a szép királylyányhoz:
“Menjünk, rózsám, elébb az édesatyádhoz.
Ott majd közelebbről vizsgáljuk a dolgot.”
S ló előtt a lyánnyal lassacskán ballagott.

Dịch

Như thường ngày, sáng sớm hôm sau
Mặt trời mọc lên, nó không nghe gì hết
Cũng không thấy cái gì bình minh thường nghe thấy
Khi nó mới hửng ở chân trời
Tiếng còi réo nghe chơi vơi
Nghe tiếng còi các cậu trai đều đứng dậy
Cẩn thận mài thanh kiếm cho sắc lưỡi
Và thắng yên trên lưng ngựa nhanh tay
Vua thấy phải cùng đi và vua đòi
Đi với đoàn quân và tham chiến
Không thể được, vì người chỉ huy quân lính
Đã nói với nhà vua những lời khuyên:
“Tâu Bệ hạ, tôi thấy ở sau thì hơn
Không tham chiến được vì tay Bệ hạ yếu
Nhờ thời gian lòng dũng cảm nhà vua không thiếu
Nhưng năm tháng đã lấy mất sức Bệ hạ rồi
Đặt chính nghĩa vào trong tay chúng tôi
Chúa Trời giúp chúng tôi, mặt trời sẽ không lặn
Nếu chúng tôi không tống được kẻ thù đi hẳn
Nếu chúng tôi không trao lại ngôi báu cho vua”
Kỹ sĩ Hung nhảy lên yên ngựa tức thì
Và xông về phía những thằng côn đồ Thổ
Chúng ở không xa, cũng mau gặp gỡ
Người truyền lệnh gửi cho lính Thổ lời thách của người Hung
Loa Thổ nhận lời và lệnh giáp chiến kèn rung
Cảnh ồn ào ghê gớm báo tin trận đánh
Tiếng hét to vỡ ngực, loang xoang kiếm chạm
Phía người Hung đó là hiệu báo đánh nhau
Họ đạp đinh thúc ngựa vào lưng ngựa cho mau
Đất chuyển mình dưới trăm nghìn móng sắt
Phải chăng móng ngựa xé sâu lòng đất
Khi tiếng ồn ào báo tin những chuyện kinh hồn?
Tên tướng Thổ Nhĩ Kỳ có bảy đuôi sam
Dạ dày hắn ta chứa chừng nửa đấu
Mặt rượu thịt của hắn ta sáng lóa
Tưởng chừng như chín ửng một quả bầu
Tên tướng bụng phệ dàn quân
Thẳng tắp để sắp sửa vào trận đánh
Hắn ra lệnh. Vô ích, vì quân ta xông đến
Bọn thù ta bị cắm đứng giữa trận tiền
Kinh hãi thay khi quân ta hùng dũng tiến lên
Sau đó hàng ngũ rộn ràng khủng khiếp
Bọn Thổ trào mồ hôi huyết
Đồng xanh tràn ngập một biển cả máu đào
Ngày hôm nay nóng bức làm sao
Xác quân thù chất cao thành núi
Tên pa-sa bụng phình sấm sét
Chưa chết: hắn vung lưỡi kiếm về phía anh Giăng
Giăng không còn giữ được tính dịu hiền
Bước đến gần tên pa-sa, anh nói:
“Này, mi tưởng mi to quá, một người không đọ nổi!
Chờ một tí, ta sẽ bổ đôi mi!”
Nói xong Giăng cũng làm tức thì
Anh chặt tên pa-sa Thổ ra thành hai mảnh
Hai bên hông ngựa máu hồng lênh láng
Rơi hai mảnh thân pa-sa. Bẩm quan lớn, kính chào!
Bọn Thổ nhát gan trông thấy tướng rơi đầu
Liền quay ra sau và bỏ chạy
Cố nhiên chúng sẽ còn ở đấy
Nếu quân ta không tóm được cả binh đoàn
Tóm được cả, và cả một đám hoa rất xinh!
Người ta tưởng là trong cánh đồng phù dung vậy
Chỉ còn một thằng phi ngựa bụng kề sát đất
Giăng xộc thẳng vào và buộc trói cánh gà
Tên chạy trốn là con trai tướng Thổ Nhĩ Kỳ
Nhưng có một bóng trắng gì trên tay hắn?
Đó là con gái yêu vua nước Pháp
Cô gái ngất đi, cô chẳng biết gì
Giăng tóm được tên Thổ sau khi giục ngựa phi
Anh hét: “Đứng lại, thằng kia đứng lại!
Ta bổ xác mày nếu mày còn chạy
Mở cho vong hồn mày con đường về thẳng âm ti”
Nhưng tên con thằng pa-sa không vâng lời
Nếu con ngựa hắn đi không quỵu xuống
Ngựa ngã lăn, ngựa chết, ngựa mệt luống
Rồi con thằng pa-sa lên tiếng than van:
“Ôi, thương tôi với, hiêp sĩ anh hùng
Thương cho tuổi tôi còn đang rất trẻ
Tôi còn rất non và cuộc đời tôi, tôi quý
Tiền của, tôi xin dâng, nhưng cho tôi lại cuộc đời!”
“Này tên ngu si hèn nhát, tao đâu cần tiền của mi
Mi không đáng cho tay tao xử chết
Cút cho nhanh và về đất nước
Nói cho thiên hạ hay những trò vừa xảy ra đây”
Giăng xuống ngựa, đến gần công chúa con vua
Anh thấy cặp mắt nàng say đắm
Nàng mở mắt và từ đôi môi thắm
Cùng lúc ấy nàng thổ lộ tâm tình:
“Người giải phóng em, anh là ai? không cần biết phân minh
Chỉ mong anh hiểu, em nợ anh nhiều lắm
Anh có thể đòi em biết ơn anh nồng thắm
Và nếu anh yêu, xin hãy là chồng em”
Giăng là người da thịt, anh đâu phải gỗ săn
Trong lòng anh nổi dậy một cơn bão táp
Nhưng nhớ lại I-lu xinh đẹp
Làm dịu cơn bão táp trong lòng anh
Giọng dịu dàng thương cảm anh nói với nàng
“Hoa hồng ơi, bước lên ngựa đi tìm vua đã
Nói chuyện với nhà vua, ta càng hiểu rõ”
Và cầm dây cương, từng bước chậm ngựa đi

14

“Hogy is kezdjem csak hát?… Mindennek előtte
Hogyan tettem szert a Kukoricza névre?
Kukorica között találtak engemet,
Ugy ruházták rám a Kukoricza nevet.

Egy gazdaember jólelkü felesége
– Amint ő nekem ezt sokszor elmesélte –
Egyszer kinézett a kukoricaföldre,
S ott egy barázdában lelt engem heverve.

Szörnyen sikítottam, sorsomat megszánta,
Nem hagyott a földön, felvett a karjára,
És hazafelé ezt gondolta mentiben:
“Fölnevelem szegényt, hisz ugy sincs gyermekem.”

Hanem volt ám neki haragos vad férje,
Akinek én sehogy sem voltam ínyére.
Hej, amikor engem az ottan meglátott,
Ugyancsak járták a cifra káromlások.

Engesztelte a jó asszony ily szavakkal:
“Hagyjon kend föl, apjok, azzal a haraggal.
Hiszen ott kinn csak nem hagyhattam vesztére,
Tarthatnék-e számot isten kegyelmére?

Aztán nem lesz ez a háznál haszontalan,
Kednek gazdasága, ökre és juha van,
Ha felcsuporodik a kis istenadta,
Nem kell kednek bérest, juhászt fogadnia.”

Valahogy, valahogy csakugyan engedett;
De azért rám soha jó szemet nem vetett.
Hogyha nem ment a dolgom maga rendiben,
Meg-meghusángolt ő amugy istenesen.

Munka s ütleg között ekkép nevelkedtem,
Részesűltem nagyon kevés örömekben;
Az egész örömem csak annyiból állott,
Hogy a faluban egy szép kis szőke lyány volt.

Ennek édesanyja jókor a síré lett,
Édesapja pedig vett más feleséget;
Hanem az apja is elhalt nemsokára,
Így jutott egyedűl mostohaanyjára.

Ez a kis leányzó volt az én örömem,
Az egyetlen rózsa tüskés életemen.
Be tudtam is őt szeretni, csodálni!
Ugy hítak minket, hogy: a falu árvái.

Már gyerekkoromban hogyha őt láthattam,
Egy turós lepényért látását nem adtam;
Örültem is, mikor a vasárnap eljött,
És vele játszhattam a gyerekek között.

Hát mikor még aztán sihederré lettem,
S izegni-mozogni elkezdett a szívem!
Csak úgyis voltam ám, mikor megcsókoltam,
Hogy a világ összedőlhetett miattam.

Sokszor megbántotta gonosz mostohája…
Isten neki azt soha meg ne bocsássa!
És ki tudja, még mit el nem követ rajta,
Ha fenyegetésem zabolán nem tartja.

Magamnak is ugyan kutyául lett dolga,
Belefektettük a jó asszonyt a sírba,
Aki engem talált, és aki, mondhatom,
Mint tulajdon anyám, úgy viselte gondom.

Kemény az én szívem, teljes életemben
Nem sokszor esett meg, hogy könnyet ejtettem,
De nevelőanyám sírjának halmára
Hullottak könnyeim zápornak módjára.

Iluska is, az a szép kis szőke leány,
Nem tettetett bútól fakadt sírva halmán;
Hogyne? az istenben boldogult jó lélek’
Kedvezett, amiben lehetett, szegénynek.

Nem egyszer mondta, hogy: “várakozzatok csak!
Én még benneteket összeházasítlak;
Olyan pár válik is ám tibelőletek,
Hogy még!… várjatok csak, várjatok, gyerekek!”

Hát hiszen vártunk is egyre keservesen;
Meg is tette volna, hiszem az egy istent,
(Mert szavának állott ő minden időbe’)
Ha le nem szállt volna a föld mélységébe.

Azután hát aztán, hogy meghalálozott,
A mi reménységünk végképp megszakadott:
Mindazonáltal a reménytelenségbe’
Ugy szerettük egymást, mint annakelőtte.

De az úristennek más volt akaratja,
Szívünknek ezt a bús örömet sem hagyta.
Egyszer én valahogy nyájam elszalasztám,
Annak következtén elcsapott a gazdám.

Búcsut mondtam az én édes Iluskámnak,
Keserű érzéssel mentem a világnak.
Bujdosva jártam a világot széltére,
Mígnem katonának csaptam föl végtére.

Nem mondtam én neki, az én Iluskámnak,
Hogy ne adja szivét soha senki másnak,
Ő sem mondta nekem, hogy hűséges legyek –
Tudtuk, hogy hűségünk ugysem szegjük mi meg.

Azért szép királylyány ne tarts reám számot;
Mert ha nem bírhatom kedves Iluskámat:
Nem is fogok bírni senkit e világon,
Ha elfelejtkezik is rólam halálom.”

Dịch

“Tôi không biết từ đâu tôi phải bắt đầu?
Tôi phải nói tại sao tên Đẻ-rơi trước nhất
Trên một cánh đồng lúa ngô tôi bị vứt
Do đó tên tôi là Cậu-bé-đẻ-rơi
Vợ một chủ điền đã kể với tôi
Biết bao lần bà ta đã kể
Một hôm ra cánh đồng thăm ngô lúa
Bà thấy tôi đứa con mới đẻ nằm giữa luống cày
Tôi khóc oa oa. Bà bế lên tay
Bà không nỡ lòng để tôi dưới đất
Mang tôi về nhà bà nghĩ: “Khổ thật!
Ta không con, ta sẽ nuôi chú bé này!”
Bà có ông chồng gian ác hay tức đời
Thằng cha thô lỗ chẳng có gì làm vừa ý
Khổ thân tôi! Khi đem tôi về hắn thấy
Hắn lần ra cả một chuỗi tiếng rủa nguyền
Bà vợ can đảm làm dịu lòng ông chồng:
“Nguôi đi, mình ơi, đừng giận dỗi
Nếu tôi bỏ mặc, nó sẽ chết đói
Mà ta còn cầu mong Chúa tha tội mai sau!
Thêm nữa trong nhà nó cũng có ích cho ta
Chúng ta có cừu, cừu con cừu lớn
Nay mai cậu bé sẽ khôn hẳn
Sẽ thành trẻ chăn cừu – tiết kiệm biết bao!”
Cuối cùng ông chủ cũng nhượng chứ sao
Nhưng chẳng hiền lành nhìn tôi bao giờ cả
Cứ chờ tôi có một lỗi nhỏ
Là nện roi vào lưng ngay!
Tôi lớn lên, hết lao động rồi roi
Trong cuộc sống rất ít có gì vui vẻ
Hạnh phúc trong lòng tôi chỉ có
Khi tôi gặp một cô gái đẹp tóc vàng
Từ rất lâu đã mất mẹ nàng
Bố cô lại kết duyên cùng mẹ kế
Nhưng than ôi, bố cô cũng đà quá cố
Nên cô con chỉ sống với bà dì
Cô em gái bé là hạnh phúc đời tôi
Đóa hoa trong bụi cỏ gai cuộc sống
Nếu tôi có thể yêu đương và quý trọng
Người làng sẽ bảo: “Đây hai trẻ mồ côi!”
Ngày còn bé khi tôi nhìn thấy cô
Dù bánh mật cũng không làm tôi lơ cô được
Vui bao nhiêu khi đến ngày chủ nhật
Tôi chơi với cô giữa đám trẻ trong thôn
Thời gian qua, mép trai đã ướm tơ lông
Và trái tim đã bắt đầu đập mạnh
Khi đó nếu tôi ôm hôn nàng đằm thắm
Thì mặt đất có sụt đi tôi cũng chẳng biết gì!
Biết bao lần bà dì ghẻ ác nghiệt đã đánh cô
Cầu xin Chúa Trời đừng quên tôi đó!
Và ai biết nếu không có lời tôi đe dọa
Thì mụ ta còn bao bội tín lỗi lầm!
Tôi cũng thế, số phận cứ xấu dần
Người đàn bà quý nuôi tôi đã mất
Người đàn bà thấy tôi ngoài đồng đã nhặt
Có thể nói đã chăm nom tôi tựa mẹ hiền
Lòng tôi đã chai lại, và suốt tháng năm
Tôi ít khi chảy được một dòng nước mắt
Nhưng khi bà mẹ nuôi tôi chết
Tôi tuôn nhiều thác lệ, chữ nói không sai
I-lu cũng vậy: Cô gái đẹp tóc vàng vai
Khóc lăn trên mộ, nỗi buồn không dứt
Tấm lòng người đàn bà mà Chúa Trời lấy mất
Đã cố gắng làm nhiều việc tốt cho cô em
Nhiều lần bà nói với chúng tôi: “Chờ xem!
Hai con muốn lấy nhau? Mẹ lo tất!
Mẹ nói hai con sẽ thành một cặp
Sẽ thành một cặp – nhưng nên chờ!”
Nhất định chúng tôi chờ, nhưng không phải không lo
Ôi! chúng tôi biết bà sẽ giữ lời hẹn hứa
Tính bà không phải là người nói dối!
Nhưng than ôi! đất sâu đã cướp bà đi
Sau khi, sau khi bà đã qua đời
Niềm mơ ước chúng tôi thật là khó đạt
Trong thất vọng, chúng tôi còn yêu nhau như trước
Chúng tôi còn như trước yêu nhau
Đến vui buồn như thế chúng tôi cũng phải thương đau!
Có thể Trời đã định một điều gì khác
Một ngày kia – sao lại thế, nào ai biết được
Tôi lạc đàn cừu: chủ đuổi tôi đi
Tôi đến vĩnh biệt nàng xinh đẹp I-lu
Tôi đi, lòng tôi đầy cay đắng
Đi lang thang trên quả đất rộng
Đến cuối cùng làm lính – và tôi đây
Tôi không bảo với nàng dịu ngọt I-lu
Đừng gửi trái tim cho cậu trai nào khác
Nàng cũng không bảo tôi phải trung thực
Biết rằng chúng tôi vẫn trung thực với nhau
Mong công chúa đừng mơ ước đến tôi
Nếu tôi không phải chồng của I-lu yêu quý
Thì tôi không là chồng ai trên thế giới
Cho dẫu sự chết có bỏ quên tôi mãi trên trần gian”

15

János vitéz ekkép végzé történetét,
Nem hagyta hidegen a hallgatók szivét;
A királylyány arcát mosta könnyhullatás,
Melynek kútfeje volt bánat s szánakozás.
A király e szókat intézte hozzája:
“Nem erőtetlek hát, fiam, házasságra;
Hanem amit nyujtok hálámnak fejében,
Elfogadását nem tagadod meg tőlem.”
Erre kinyitotta kincstárát a király:
Parancsolatjára egy legény előáll,
S arannyal tölti meg a legnagyobb zsákot,
János ennyi kincset még csak nem is látott.
“Nos hát János vitéz, lyányom megmentője,”
Beszélt a király, “ez legyen tetted bére.
Vidd el mindenestül ezt a teli zsákot,
És boldogítsd vele magadat s mátkádat.
Tartóztatnálak, de tudom, nem maradnál,
Kivánkozol lenni máris galambodnál,
Eredj tehát – hanem társid maradjanak;
Éljenek itt néhány mulatságos napnak.”
Ugy volt biz az, amint mondotta a király,
János vitéz kivánt lenni galambjánál.
Búcsuzott a királylyánytól érzékenyűl;
Aztán a tengerhez ment és gályára űlt.
A király s a sereg elkisérte oda.
Tőlök sok “szerencsés jó utat” hallhata,
S szemeikkel néztek mindaddig utána,
Míg a nagy messzeség ködöt nem vont rája.

Dịch

Đến đó là xong câu chuyện anh Giăng
Người ngồi nghe đều thấy lòng rung cảm
Tâm tư buồn thương dữ lắm
Nét mặt công chúa lệ tràn
Nhà vua nói với Giăng Dũng sĩ: “Này con
Ta không muốn bắt con cưới vợ
Nhưng món quà này, ghi ơn tạc dạ
Mong con nhận lấy, mong con chẳng chối từ”
Nói xong vua vội mở kho
Theo lệnh chủ một người hầu bước đến
Anh nhét vàng đầy bị lớn
Giản dị thôi: Giăng chưa hề thấy nhiều tiền
Vua nói tiếp: ” Bạn ơi, Dũng sĩ Giăng
Ngươi cứu con ta, công lao cao quý
Hãy mang bị đầy: có vàng nhiều trong bị
Để làm sung sướng bạn gái của ngươi
Ta muốn giữ ngươi lại, nhưng để làm gì?
Ta thấy ngươi nóng ruột muốn về tìm người đẹp
Thôi ngươi đi. Các bạn ngươi còn ở lại
Còn ở đây thêm nữa vài ngày”
Đúng như nhà vua nói không sai
Giăng Dũng sĩ nóng lòng về bên người đẹp
Anh nói với công chúa lời dịu dàng từ biệt
Một chiến thuyền sắp đi: anh bạn bước lên
Ra bến tiễn có nhà vua và đoàn quân
Họ hô to nghìn lần: “Đi đường mạnh khỏe”
Và mắt nhìn theo người bạn trẻ
Cho đến khi chân trời xa khuất bóng anh

Trên đây là chùm thơ dịch đặc sắc của Nguyễn Xuân Sanh. Qua bài viết này chúng ta thêm phần cảm phục vốn hiểu biết ngôn ngữ xuất thần của thi sĩ. Mời các bạn đón xem những phần tiếp theo vào một ngày không xa!