Nhà Thơ Nguyễn Gia Thiều Cùng Những Trang Thơ Đặc Sắc



Nguyễn Gia Thiều là một nhà thơ nổi tiếng cùng những trang thơ vô cùng đặc sắc. Ông nổi tiếng là một người thông minh, học rộng văn võ song toàn. Ông tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật và hội họa. Với ngòi bút tài hoa mà những bài thơ của ông để lại ấn tượng đặc biệt trong lòng độc giả và còn vẹn nguyên giá trị đến ngày nay

Trong sáng tác văn học ông được người ta đánh giá là có phong cách nghệ thuật cao. Ông góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của nền văn học Việt Nam

Ngay bây giờ, các bạn hãy cùng uct.edu.vn cảm nhận những chùm thơ đặc sắc của Nguyễn Gia Thiều nhé!

I. Đôi Nét Về Tác Giả Nguyễn Gia Thiều 

– Nguyễn Gia Thiều 阮嘉韶 sinh năm 1741, không rõ ngày tháng nào, ở làng Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, huyện Siêu Loại, phủ Thuận Thành, xứ Kinh Bắc, nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, trong một gia đình đại quý tộc, có nhiều người làm tướng, làm quan cho triều đình.

– Ông thân sinh của Nguyễn Gia Thiều là Nguyễn Gia Cư, một võ quan cao cấp được phong tước hầu. Mẹ Nguyễn Gia Thiều là quận chúa Quỳnh Liên, con gái An Đô vương Trịnh Cương. Nguyễn Gia Thiều gọi chúa Trịnh Doanh đang cầm quyền lúc bấy giờ là cậu ruột, và là con cô cậu với chúa Trịnh Sâm.

– Vì gia đình bên ngoại thuộc họ nhà chúa, nên từ lúc lên năm lên sáu, Nguyễn Gia Thiều đã được vào học trong phủ chúa. Ông nổi tiếng là người thông minh, học rộng, văn võ kiêm toàn.

– Ông lại còn tinh thông nhiều bộ môn nghệ thuật như âm nhạc, hội hoạ, kiến trúc, trang trí. Về âm nhạc, Nguyễn Gia Thiều sở trường các bài ca, bài tán. Ông là tác giả các bản “Sơn trung âm” và “Sở từ điệu”. Về hội hoạ, ông có bức tranh lớn “Tống sơn đồ”, dâng vua xem được khen thưởng. Về kiến trúc, trang trí, ông là người được chúa Trịnh giao cho trông nom việc trang hoàn phủ chúa và điều khiển xây tháp chùa Thiên Tích.

– Các công trình nghệ thuật của Nguyễn Gia Thiều đến nay không còn một cái nào, nhưng trong sáng tác văn học thì những tri thức về nghệ thuật của ông được phản ánh một cách khá rõ…

– Nguyễn Gia Thiều là một người rất được chúa Trịnh tin dùng. Năm 1759, mười tám tuổi, ông giữ chức Hiệu uý, quản Trung mã tả đội; sau đó ông làm chỉ huy Thiêm sự, năm 1782 thăng Tổng binh coi giữ xứ Hưng Hoá, và vì có quân công ông được phong tước hầu – Ôn Như hầụ Các em ông cũng lần lược được phong tước hầu, tước bá, như Nguyễn Gia Thưởng là Thưởng Vũ bá; Nguyễn Gia Xuyên là Du Lãnh hầu.

– Thời gian làm Tổng binh ở Hưng Hoá, mặc dù có công được khen thưởng, Nguyễn Gia Thiều vẫn thường hay bỏ về nhà riêng ở gần hồ Tây để vui chơi, làm thơ và bàn luận về triết học.

– Ông tự xưng là Hy Tôn tử và Như ý thiền, lấy biệt hiệu là Tân Thi viện tử và Sưu Nhân. Có người bảo giai đoạn này chúa Trịnh không còn tin ông như trước, mới đẩy ông đi trấn giữ Hưng Hoá, và Nguyễn Gia Thiều biết điều đó, nên ông chán nản bỏ về.

–  Năm 1786, khi Tây Sơn kéo quân ra Bắc diệt chúa Trịnh, Nguyễn Gia Thiều trốn lên miền núi xứ Hưng Hoá. Năm 1789, Nguyễn Huệ đánh thắng quân Thanh, lập ra triều Tây Sơn.

– Vua Quang Trung trọng người tài, thu dụng một số quan lại cũ của triều đình Lê – Trịnh, Nguyễn Gia Thiều được mời ra cộng tác, nhưng ông cáo bệnh từ chối. Nguyễn Gia Thiều về lại làng cũ, sống ở đấy cho tới khi mất vài ngày 9 tháng 5 Mậu Ngọ, tức ngày 22 tháng 6 năm 1798, thọ 57 tuổi.

II. Chùm Thơ Đặc Sắc Của Nguyễn Gia Thiều 

Nguyễn Gia Thiều nổi tiếng là một người đa tài, ông sở hữu những bài thơ vô cùng đặc sắc được rất nhiều độc giả quan tâm và tìm kiếm. Với ngòi bút tài hoa mà những bài thơ của ông đi sâu vào trong tiềm thức của những người yêu thơ ca. Nếu bạn là một người có sở thích sưu tầm thơ thì sẽ không thể bỏ lỡ những bài thơ hay này phải không nào?

Sau đây, uct.edu.vn sẽ dành tặng bạn những bài thơ đặc sắc nhất của Nguyễn Gia Thiều. Đừng bỏ lỡ nhé!

Cung oán đề từ 宮怨題辭

Vô đoan Nguyệt Lão oán hồng nhan,
Tịch mịch không khuê bảo triện tàn.
Bán chẩm thư cùng ngâm dạ vĩnh,
Mãn song lương nguyệt toả xuân hàn.
Sầu khiêu tàn chúc liên cô ảnh,
Lãn đối lăng hoa lý bội hoàn.
Nhất phiến u tình nan tận hoại,
Mạn huy thanh lệ khốc châu lan.

Cung oán ngâm khúc

1. Trải bách quế gió vàng hiu hắt
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
Oán chi những khách tiêu phòng
Mà xui phận bạc nằm trong má đào.
5. Duyên đã may cớ sao lại rủi
Nghĩ nguồn cơn dở dói sao đang
Vì đâu nên nỗi dở dang
Nghĩ mình, mình lại thêm thương nỗi mình.

Trộm nhớ thuở gây hình tạo hoá
10. Vẻ phù dung một đoá khoe tươi
Nụ hoa chưa mỉm miệng cười
Gấm nàng Ban đã lạt mùi thu dung.
Áng đào kiểm đâm bông não chúng
Khoé thu ba rợn sóng khuynh thành
15. Bóng gương lấp ló trong mành
Cỏ cây cũng muốn nổi tình mây mưa.
Chìm đáy nước cá lừ đừ lặn
Lửng lưng trời nhạn ngẩn ngơ sa
Hương trời đắm nguyệt say hoa
20. Tây Thi mất vía, Hằng Nga giật mình.
Câu cẩm tú đàn anh họ Lý
Nét đan thanh bậc chị chàng Vương
Cờ tiên rượu thánh ai đang
Lưu Linh, Đế Thích là làng tri âm.
25. Cầm điếm nguyệt phỏng tầm Tư Mã
Địch lầu thu đường gã Tiêu Lang
Dẫu nghề tay múa miệng sang
Thiên tiên cũng xếp nghê thường trong trăng.

Tài sắc đã vang lừng trong nước
30. Bướm ong còn xao xác ngoài hiên
Tai nghe nhưng mắt chưa nhìn
Bệnh Tề Tuyên đã nổi lên đùng đùng.
Hoa xuân nọ còn phong nộn nhị
Nguyệt thu kia chưa hé hàn quang
35. Hồng lâu còn khoá then sương
Thâm khuê còn rấm mùi hương khuynh thành.
Làng cung kiếm rắp ranh bắn sẻ
Khách công hầu ngấp nghé mong sao
Vườn xuân bướm hãy rào rào
40. Thấy hoa mà chẳng lối vào tìm hương.
Gan chẳng đá khôn đường khá chuyển
Mặt phàm kia dễ đến Thiên Thai
Hương trời sá động trần ai
Dẫu vàng nghìn lạng dễ cười một khi.
45. Ngẫm nhân sự có gì ra thế
Sợi xích thằng đâu để vướng chân
Vắt tay nằm nghĩ cơ trần
Nước dương muốn rẩy nguội dần lửa duyên.
Kìa thế cục như in giấc mộng
50. Máy thuyền vi mở đóng khôn lường
Vẻ chi ăn uống sự thường
Cũng còn tiền định khá thương lọ là.
Đòi những kẻ thiên ma bách chiết
Hình thì còn bụng chết đòi nau
55. Thảo nào khi mới chôn nhau
Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra!
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu
Trắng răng đến thuở bạc đầu
60. Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần.
Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc
Lớp cùng thông như đúc buồng gan
Bệnh trần đòi đoạ tâm toan
Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.

65. Gót danh lợi bùn pha sắc xám
Mặt phong trần nắng rám mùi dâu
Nghĩ thân phù thế mà đau
Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mê.
Mùi tục vị lưỡi tê tân khổ
70. Đường thế đồ gót rỗ kỳ khu
Sóng cồn cửa bể nhấp nhô
Chiếc thuyền bào ảnh lô xô mặt ghềnh.
Trẻ tạo hoá đành hanh quá ngán
Chết đuối người trên cạn mà chơi
75. Lò cừ nung nấu sự đời
Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.
Đền vũ tạ nhện giăng cửa mốc
Thú ca lâu dế khóc canh dài
Đất bằng bỗng rấp chông gai
80. Ai đem nhân ảnh nhuốm màu tà dương.
Mồi phú quý dữ làng xa mã
Bả vinh hoa lừa gã công khanh
Giấc Nam Kha khéo bất bình
Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.
85. Sân đào lý mây lồng man mác
Nền đỉnh chung nguyệt gác mơ màng
Cánh buồm bể hoạn mênh mang
Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh.
Quyền hoạ phúc trời tranh mất cả
90. Chút tiện nghi chẳng trả phần ai
Cái quay búng sẵn lên trời
Mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm.
Hình mộc thạch vàng kim ố cổ
Sắc cầm ngư ủ vũ ê phong
95. Tiêu điều nhân sự đã xong
Sơn hà cũng ảo, côn trùng cũng hư.
Cầu thệ thuỷ ngồi trơ cổ độ
Quán thu phong đứng rũ tà huy
Phong trần đến cả sơn khê
100. Tang thương đến cả hoa kia cỏ này.
Tuồng ảo hoá đã bày ra đấy
Kiếp phù sinh trông thấy mà đau
Trăm năm còn có gì đâu
Chẳng qua một nấm cổ khâu xanh rì.
105. Mùi tục luỵ đường kia cay đắng
Vui chi mà đeo đẳng trần duyên
Cái gương nhân sự chiền chiền
Liệu thân này với cơ thiền phải nao.
Thà mượn thú tiêu dao cửa Phật
110. Mối thất tình quyết dứt cho xong
Đa mang chi nữa đèo bòng
Vui gì thế sự mà mong nhân tình.
Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa
Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên
115. Thoắt trần một gót thiên nhiên
Cái thân ngoại vật là tiên trong đời.
Ý cũng rắp ra ngoài đào chú
Quyết lộn vòng phu phụ cho cam
Ai ngờ trời chẳng cho làm
120. Quyết đem dây thắm mà giam bông đào.

Hẳn túc trái làm sao đây tá
Hay tiền nhân hậu quả xưa kia
Hay thiên cũng có điều gì
Xuống trần mà trả nợ đi cho rồi.
125. Kìa điểu thú là loài vạn vật
Dẫu vô tri cũng bắt đèo bòng
Có âm dương, có vợ chồng
Dẫu từ thiên địa cũng vòng phu thê.
Đường tác hợp trời kia run rủi
130. Trốn làm sao cho khỏi nhân tình
Thôi thôi ngoảnh mặt làm thinh
Thử xem con tạo gieo mình nơi nao.
Tay nguyệt lão khờ sao có một
Bỗng tơ tình vương gót cung phi
135. Cái đêm hôm ấy đêm gì
Bóng dương lồng bóng đồ my trập trùng.
Chồi thược dược mơ mòng thuỵ vũ
Đoá hải đường thức ngủ xuân tiêu
Cành xuân hoa chúm chím chào
140. Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai.
Xiêm nghê nọ tả tơi trước gió
Áo vũ kia lấp ló trong trăng
Sênh ca mấy khúc vang lừng
Cái thân Tây Tử lên chừng điên Tô.
145. Đệm hồng thuý thơm tho mùi xạ
Bóng bội hoàn lấp ló trăng thanh
Mây mưa mấy giọt chung tình
Đình trầm hương khoá một cành mẫu đơn.
Tiếng thánh thót cung đàn thuý địch
150. Giọng nỉ non ngón địch đan trì
Càng đàn càng địch càng mê
Càng gay gắt điệu càng tê tái lòng.
Mày ngài lẫn mặt rồng lồ lộ
Sắp song song đôi lứa nhân duyên
155. Hoa thơm muôn đội trời trên
Cam công mang tiếng thuyền quyên với đời.
Trên chín bệ mặt trời gang tấc
Chữ xuân riêng sớm chực trưa chầu
Phải duyên hương lửa cùng nhau
160. Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào.

Khi ấp mận ôm đào gác nguyệt
Lúc cười sương cợt tuyết đền phong
Đoá lê ngon mắt cửu trùng
Tuy mày điểm nhạt nhưng lòng cũng xiêu.
165. Vẻ vưu vật trăm chiều chải chuốt
Lòng quân vương chi chút trên tay
Má hồng không thuốc mà say
Nước kia muốn đổ thành này muốn long.
Vườn Tây Uyển khúc trùng Thanh Dạ
170. Gác Lâm Xuyên điệu ngã Đình Hoa
Thừa ân một giấc canh tà
Tờ mờ nét ngọc lập loè vẻ son.
Trên trướng gấm chí tôn vòi vọi
Những khi nào gần gũi quân vương
175. Dẫu mà tay có nghìn vàng
Đố ai mua được một tràng mộng xuân.
Thôi cười nọ lại nhăn mày liễu
Ghẹo hoa kia lại diễu gót sen
Thân này uốn éo vì duyên
180. Cũng cam một tiếng thuyền quyên với đời.
Lan mấy đoá lạc loài sơn dã
Uổng mùi hương vương giả lắm thay
Gẫm như cân trất duyên này
Cam công đạt cái khăn này tấc ơ.
185. Tranh tỷ dực nhìn ưa chim nọ
Đồ liên chi lần trỏ hoa kia
Chữ đồng lấy đấy làm ghi
Muốn điều thất tịch mà thề bách niên.
Hạt mưa đã lọt miền đài các
190. Những mừng thầm cá nước duyên may
Càng lâu càng lắm điều hay
Cho cam công kẻ nhúng tay thùng chàm.
Ai ngờ bỗng mỗi năm một nhạt
Nguồn ân kia chẳng tát mà vơi
195. Suy di đâu biết cơ trời
Bỗng không mà hoá ra người vị vong.
Đuốc vương giả chí công là thế
Chẳng soi cho đến khoé âm nhai
Muôn hồng nghìn tía đua tươi
200. Chúa xuân nhìn hái một hai bông gần.

Vốn đã biết cái thân cầu chõ
Cá no mồi cũng khó nhử lên
Ngán thay cái én ba nghìn
Một cây cù mộc biết chen cành nào.
205. Song đã cậy má đào chon chót
Hẳn duyên tươi phận tốt hơn người
Nào hay con tạo trêu ngươi
Hang sâu chút hé mặt trời lại râm.
Trong cung quế âm thầm chiếc bóng
210. Đêm năm canh trông ngóng lần lần
Khoảnh làm chi bấy chúa xuân
Chơi hoa cho rữa nhuỵ dần lại thôi.
Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ
Gác thừa lương giấc ngủ thu phong
215. Phòng tiêu lạnh ngắt như đồng
Gương loan bẻ nửa, dải đồng xẻ đôi.
Chiều ủ dột giấc mai khuya sớm
Vẻ bâng khuâng hồn bướm vẩn vơ
Thâm khuê vắng ngắt như tờ
220. Cửa châu gió lọt, rèm ngà sương gieo.
Ngấn phượng liễu chòm rêu lô chỗ
Dấu dương xa đám cỏ quanh co
Lầu Tần chiều nhạt vẻ thu
Gối loan tuyết đóng chăn cù giá đông.
225. Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng
Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền
Lạnh lùng thay giấc cô miên
Mùi hương tịch mịch bóng đèn âm u.
Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ
230. Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu
Một mình đứng tủi ngồi sầu
Đã than với nguyệt lại rầu với hoa.
Buồn một nỗi hồn đà khắc khoải
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ
235. Hoa này bướm nỡ thờ ơ
Để gầy bông thắm để xơ nhuỵ vàng.
Đêm năm canh lần nương vách quế
Cái buồn này ai để giết nhau
Giết nhau chẳng cái lưu cầu
240. Giết nhau bằng cái u sầu độc chưa!
Tay nguyệt lão chẳng xe thì chớ
Xe thế này có dở dang không?
Đang tay muốn dứt tơ hồng
Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!

245. Nào dạo lối vườn hoa năm ngoái
Đoá hồng đào hái buổi còn xanh
Trên gác phượng, dưới lầu oanh
Gối du tiên hãy rành rành song song.
Bây giờ đã ra lòng rẻ rúng
250. Để thân này cỏ úng tơ mành
Đông Quân sao khéo bất tình
Cành hoa tàn nguyệt, bực mình hoài xuân.
Nào lúc tựa lầu Tần hôm nọ
Cành liễu mành bẻ thuở đương tơ
255. Khi trướng ngọc, lúc rèm ngà
Mảnh xuân y hãy sờ sờ dấu phong.
Bây giờ đã ra lòng ruồng rẫy
Để thân này nước chảy hoa trôi
Hoá công sao khéo trêu ngươi
260. Bóng đèn tà nguyệt tẻ mùi ký sinh.
Cảnh hoa lạc nguyệt minh hôm ấy
Lửa hoàng hôn như cháy tấm son
Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng
Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa!
265. Buồn vì nỗi nguyệt tà ai trọng
Buồn vì điều hoa rụng ai nhìn
Tình buồn cảnh lại vô duyên
Tình trong cảnh ấy, cảnh bên tình này.
Khi trận gió lung lay cành bích
270. Nghe rì rầm tiếng mách ngoài xa
Mơ hồ nghĩ tiếng xe ra
Đốt phong hương hả mà hơ áo tàn.
Ai ngờ tiếng dế than ri rỉ
Giọng bi thu gọi kẻ cô phòng
275. Vắng tanh nào thấy vân mòng
Hơi thê lương lạnh ngắt song phi huỳnh.
Khi bóng nguyệt chênh vênh trước ốc
Nghe vang lừng tiếng giục bên tai:
Dè chừng nghĩ tiếng tiểu đòi
280. Nghiêng bình phấn mốc mà nhồi má nheo.
Ai ngờ tiếng quyên kêu ra rả
Điệu thương xuân khóc ả sương khuê
Lạnh lùng nào thấy ỏ ê
Khí bi thu sực nức hè lạc hoa.

285. Tiếng thuý điện cười già ra gắt
Mùi quyền môn thắm rất nên phai
Nghĩ nên tiếng cửa quyền ôi
Thì thong thả vậy cũng thôi một đời.
Vì sớm biết lòng trời đeo đẳng
290. Dẫu thuê tiền cũng chẳng mang tình
Nghĩ mình lại ngán cho mình
Cái hoa đã trót gieo cành biết sao!
Miếng cao lương phong lưu nhưng lợm
Mùi hoắc lê thanh đậm mà ngon
295. Cùng nhau một giấc hoành môn
Lau nhau ríu rít cò con cũng tình.
Ví sớm biết phận mình ra thế
Dải kết điều oẻ oẹ làm chi
Thà rằng cục mịch nhà quê
300. Dầu lòng nũng nịu nguyệt kia hoa này.
Chiều tịch mịch đã gầy bóng thỏ
Vẻ tiêu tao lại võ hoa đèn
Muốn đem ca tiếu giải phiền
Cười nên tiếng khóc, hát nên giọng sầu.
305. Ngọn tâm hoả đốt dàu nét liễu
Giọt hồng băng thấm dáo làn son
Lại buồn đến cảnh con con
Trà chuyên nước nhất, hương đùn khói đôi.
Trong gang tấc mặt trời xa bấy
310. Phận hẩm hiu nhường ấy vì đâu?
Sinh ly đòi rất thời Ngâu
Một năm còn thấy mặt nhau một lần.
Huống chi cũng lạm phần son phấn
Luống năm năm chực phận buồng không
315. Khéo vô duyên bấy cửu trùng
Son nào nhuộm được má hồng cho tươi.
Vườn thượng uyển hoa cười với nắng
Lối đi về ai chẳng chiều ong
Doành Nhâm một dải nông nông
320. Bóng dương bên ấy đứng trông bên này.

Tình rầu rĩ làm ngây nhĩ mục
Chốn phòng không như giục mây mưa
Giấc chiêm bao những đêm xưa
Giọt mưa cửu hạn còn mơ đến rày.
325. Trên chín bệ có hay chăng nhẽ
Khách quần thoa mà để lạnh lùng
Thù nhau ru hỡi đông phong
Góc vườn đãi nắng cầm bông hoa đào.
Tay tạo hoá cớ sao mà độc
330. Buộc người vào kim ốc mà chơi
Chống tay ngồi nghĩ sự đời
Muốn kêu một tiếng cho dài kẻo căm!
Nơi lạnh lẽo nơi xem gần gặn
Há son phai lạt phấn ru mà
335. Trêu ngươi chi bấy trăng già
Trao con chỉ thắm mà ra tơ mành!
Lòng ngán ngẫm buồn tênh mọi nỗi
Khúc sầu tràng bối rối đường tơ
Ngọn đèn phòng động đêm xưa
340. Đài hoa tịnh đế trơ trơ chưa tàn.
Mà lượng thánh đa đoan kíp bấy
Bỗng ra lòng ruồng rẫy vì đâu?
Bõ già tỏ nỗi xưa sau
Chẳng đem nỗi ấy mà tâu ngự cùng.
345. Đêm phong vũ lạnh lùng có một
Giọt ba tiêu thánh thót cầm canh
Bên tường thấp thoáng bóng huỳnh
Vách sương hót gió đèn xanh lờ mờ.
Mắt chưa nhắp đồng hồ đã cạn
350. Cảnh tiêu điều ngao ngán dường bao
Buồn này mới gọi buồn sao?
Một đêm nhớ cảnh biết bao nhiêu tình.
Bóng câu thoáng bên mành mấy nỗi
Những hương sầu phấn tủi bao xong
355. Phòng khi động đến cửu trùng
Giữ sao cho được má hồng như xưa.

Cung oán thi bài 1

Thợ trời giéo giắt ý khôn lường
Rúng rẩy hồng nhan phận lạ nhường
Điện quế há rằng nhơ nhuốc phấn
Cung châu nỡ để thẹn buồn gương
Lót chăn thuý vũ năm canh gió
Dựa gối san hô bốn vách sương
Thỏ thẻ sự mình thêm thắc mắc
Hồng nhan chìm nổi cũng là thường

Cung oán thi bài 2

Sầu thu chưa dứt lại sầu xuân
Một gánh sầu treo nặng mấy cân
Mặt ủ ê hoa xâu thức ngọc
Má sùi sụt phấn ứa da ngân
Phòng tiêu riêng kẻ hơi dương tối
Điện quế dầu ai vẻ nguyệt ngần
Bối rối nỗi mình thêm bối rối
Tủi trăm chiều lại tiếc muôn phần

Cung oán thi bài 3

Lã chã mưa sa dế khóc thềm
Sầu ngày chưa dứt lại sầu đêm
Mưa tan tác liễu trôi ngần mặt
Mốc võ vàng ve tạt bức rèm
Mận chẳng sương đeo mà ủ dột
Đào không nắng táp cũng tơi mềm
Mối sầu này biết ai mà tỏ
Có tỏ cho chăng một bóng thiềm

Cung oán thi bài 4

Vò võ phòng tiêu bấy những nay
Ghềnh khơi khôn giải mạch sầu này
Trăng kề nước giại màn còn xủ
Hoa nở bên tương mắt biếng khuây
Ngơ ngẩn trăm chiều cười nửa miệng
Héo hon chín khúc ủ đôi mày
Trông gương mình lại yêu mình bấy
Còn thức thừa ân cũng có ngày

Cung oán thi bài 5

Nỗi nọ đường kia nghĩ cũng rầu
Hết ngày vắng vẻ lại đêm thâu
Nghiên vừa mở đã mềm gan đá
Mực ướm mài đà lộn hạt châu
Tay chép chữ chân ra chữ thảo
Miệng ngâm thơ cảnh hoá thơ sầu
Cũng mong mượn thế mà khuây khoả
Mượn thế mà khuây khoả được đâu

Cung oán thi bài 6

Trên đài hiu hắt ngọn đèn hoa
Gang tấc xem bằng mấy dặm xa
Một kiếp đã đành rằng để vậy
Chín trùng có thấu đến chăng là
Ỏi tai ngán nỗi đàn ve gảy
Tạn mặt buồn tênh cái nhện sa
Ví biết thân này chi khó bấy
Quyền môn chen chúc chẳng bằng thà

Cung oán thi bài 7

Cũng thì má phấn cũng lưng ong
Kẻ ấm nồng sao kẻ lạnh lùng
Cung quế há rằng đeo phận bạc
Phòng tiêu nỡ để lạnh hơi đồng
Giọt rơi luống trót năm canh nguyệt
Đoạn thảm riêng đau chín khúc lòng
Gang tấc khó toan bề tiến thoái
Trêu ngươi chi mấy hỡi thiên công

Cung oán thi bài 8

Trước ốc hoàng hôn đứng vẩn vơ
Thêm ngao ngán cảnh chạnh lòng thơ
Hài hoa chân bước chiều tha thiết
Mắt phụng trông chừng luống ngẩn ngơ
Trứng bạc những khi hơi bích lọt
Nhà vàng bao thuở thoả ân thừa
Âm thầm luống chịu mình u bế
Đừng trách đời Đường hạn chẳng mưa

Gửi tình nhân

Khạc chẳng ra cho nuốt chẳng vào;
Miếng tình nghẹn mãi biết làm sao?
Muốn kêu một tiếng cho to lắm;
Rằng ối ai ơi khốn thế nào!

Tạ bạn cũ

Mở mắt ra nhìn nước thánh minh,
Xét tài chẳng dám lạm công danh.
Ngửa thân cứ trực trong thời mệnh,
Ẩn tích hằng pha chốn thị thành.
Miệng thấy khói ra câu nọ khí,
Dạ nghe gặn dưới chén kia tình.
Ấy đang vinh buổi anh em thế,
Vì nỗi đa niên liễu phải cành.

Sai thằng Cam

Cam tốc ra thăm gốc hải đường
Hái hoa về để kết làm tràng
Những cành với nhánh đừng vin nặng
Mấy đoá còn xanh chớ bẻ quàng
Xong, lại tây hiên tìm liễn xạ
Rồi sang thư viện lấy bình hương
Mà về cho chóng, đừng thơ thẩn
Kẻo lại rằng chưa dặn kỹ càng

Ra xem vườn sau khi trời mưa

Lỏm chỏm vài hàng tỏi,
Lơ thơ mấy khóm khương.
Vẻ chi tèo tẻo cảnh,
Thế mà cũng tang thương?

Trên đây, uct.edu.vn đã dành tặng bạn những bài thơ ấn tượng của nhà thơ Nguyễn gia Thiều. Hy vọng các bạn có thể cảm nhận được ngòi bút tài hoa của người thi sĩ. uct.edu.vn luôn liên tục cập nhật những bài viết hấp dẫn hằng ngày, đồng hành cùng chúng tôi để theo dõi những bài thơ hay, độc đáo nhất nhé! Thân Ái! 

so1vn - Tags: