Nhà thơ Nam Trân và những bài thơ dịch của Đỗ Phủ hấp dẫn nhất phần 1



là một nhà thơ nổi bật trong nền văn học Việt Nam. Những điệu thơ cũng như ý thơ, ở Nam Trân, đều là kết quả của sự đắn đo kỹ lưỡng, sự suy tính siêng năng. Ông luôn luôn tự chủ ngòi bút của mình một cách chắc chắn, không bao giờ phóng cho nó đi theo những nhạc điệu âm thầm một đôi khi vẫn thao thức trong lòng ta. Bên cạnh đó ông còn có những bài dịch vang danh để lại dấu ấn đặc sắc trong lòng bạn đọc qua những tác phẩm dịch Đỗ Phủ. Hãy đón xem và cảm nhận nhé!

Bần giao hành 貧交行

翻手作雲覆手雨,
紛紛輕薄何須數?
君不見管鮑貧時交,
此道今人棄如土。

Bần giao hành

Phiên thủ tác vân, phúc thủ vũ,
Phân phân khinh bạc hà tu sổ ?
Quân bất kiến Quản, Bão bần thì giao,
Thử đạo kim nhân khí như thổ.

Dịch nghĩa

Lật bàn tay làm ra mây, trở bàn tay làm ra mưa
Hằng hà sa số những người khinh bạc
Bạn có thấy chăng chuyện giao du giữa Quản Trọng và Bão Thúc Nha lúc bần hàn
Đạo bằng hữu ấy thời này người ta ném như đất cát

Dịch

Sấp ngửa bàn tay bao tráo trở,
Bọn người khinh bạc kẻ vô số.
Thấy chăng? Quản, Bão bạn thuở nghèo,
Đạo ấy chừ coi như đất thó.

Bi Trần Đào 悲陳陶

孟冬十郡良家子,
血作陳陶澤中水。
野曠天清無戰聲,
四萬義軍同日死。
群胡歸來血洗箭,
仍唱胡歌飲都市。
都人回面向北啼,
日夜更望官軍至。

Bi Trần Đào

Mạnh đông thập quận lương gia tử,
Huyết tác Trần Đào trạch trung thuỷ.
Dã khoáng thiên thanh vô chiến thanh,
Tứ vạn nghĩa quân đồng nhật tử.
Quần Hồ quy lai huyết tẩy tiễn,
Nhưng xướng Hồ ca ẩm đô thị.
Đô nhân hồi diện hướng bắc đề,
Nhật dạ cánh vọng quan quân chí.

Dịch

Đông sang, mười quận trai tài,
Máu tuôn thành nước đỏ tươi ròng ròng.
Im lìm trời vắng, đồng không,
Bốn muôn quân nghĩa chết trong một ngày.
Giặc Hồ, tên tẩm máu đầy,
Hát câu hát mán, uống say phố phường.
Ngày đêm khóc ngóng Bắc phương,
Quan quân đâu tá, dân đương đợi chờ!

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 1 

有客有客字子美,
白頭亂髮垂過耳;
歲拾橡栗隨狙公,
天寒日暮山谷里。
中原無書歸不得,
手腳凍皴皮肉死。
嗚呼一歌兮歌已哀,
悲風為我從天來。

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 1

Hữu khách, hữu khách tự Tử Mỹ
Bạch đầu loạn phát thuỳ quá nhĩ
Tuế thập tượng lật tuỳ thư công
Thiên hàn nhật mộ sơn cốc lý
Trung Nguyên vô thư quy bất đắc
Thủ cước đống thuân, bì nhục tử
Ô hô! Nhất ca hề, ca dĩ ai,
Bi phong vị ngã tòng thiên lai.

Dịch nghĩa

Có người, có người tên chữ là Tử Mỹ
Đầu bạc phơ, tóc bù xù rũ xuống quá tai
Quanh năm lượm hạt dẻ, đi theo người nuôi vượn
Trời rét, buổi chiều ở trong hang núi
Trung Nguyên bặt tin, không về được
Chân tay cóng buốt, da thịt tê dại
Hỡi ôi! Bài hát thứ nhất, tiếng hát đã xót xa
Gió buồn vì ta từ trên trời thổi xuống…

Dịch

Người khách… người khách tên Tử Mỹ,
Tóc bù, bạc, quá hai tai trễ.
Ngày chiều, trời lạnh, giữa hang sâu,
Theo lũ thư công tìm hạt dẻ.
Quê nhà đắm tin không lối về,
Da tê, thịt chết, chân tay nẻ!
Thương ơi! Ca một khúc chừ, biết kêu ai?
Vì ta, gió thảm nổi phương trời!

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 2 

長鑱長鑱白木柄,
我生托子以為命。
黃獨無苗山雪盛,
短衣數挽不掩脛。
此時與子空歸來,
男呻女吟四壁靜。
嗚呼二歌兮歌始放,
閭里為我色惆悵。

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 2

Trường sàm, trường sàm bạch mộc bính
Ngã sinh thác tử dĩ vi mệnh
Hoàng độc vô miêu, sơn tuyết thịnh
Đoản y sác vãn bất yểm hĩnh
Thử thì dữ tử không quy lai
Nam thân tứ ngâm tứ bích tĩnh
Ô hô! Nhị ca hề, ca thuỷ phóng,
Lư lý vị ngã sắc trù trướng!

Dịch nghĩa

Thuổng dài, thuổng dài cán gỗ trắng
Đời ta cậy nhờ ngươi mà sống
Khoai hoàng tinh không nẩy mầm, tuyết đầy núi
Áo ngắn kéo xuống không che nổi chân
Lúc này, ta và ngươi đều về không
Trai than thở, gái rên rỉ, bốn vách lặng lẽ
Hỡi ôi! Bài hát thứ hai vừa cất lên
Hàng xóm vì ta mà vẻ mặt thảm thiết.

Dịch

Chiếc thuổng cán dài thân gỗ trắng
Đời ta sống thác phú cho trời
Khoai vàng núi tuyết mầm không nẩy
Áo ngắn kéo che cẳng ló ngoài
Thuổng vác vai về thôi bụng trống
Bốn bề lặng lẽ thấm lòng trai.
Hỡi ôi! khúc nhị vừa cao giọng
Hàng xóm vì ta đã cảm hoài.

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 3 

有弟有弟在遠方,
三人各瘦何人強。
生別展轉不相見,
胡塵暗天道路長。
東飛鴐鵝後鶖鶬,
安得送我置汝旁。
嗚呼三歌兮歌三發,
汝歸何處收兄骨。

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 3

Hữu đệ, hữu đệ tại viễn phương
Tam nhân các sấu, hà nhân cường
Sinh biệt triển chuyển bất tương kiến
Hồ trần ám thiên đạo lộ trường
Tiền phi giá nga, hậu thu thương
An đắc tống ngã tại nhữ bàng?
Ô hô! Tam ca hề, tam ca phát,
Nhữ quy hà xứ thu huynh cốt?

Dịch nghĩa

Có em trai, có em trai ở chốn xa xôi
Ba người đều gầy, có ai khoẻ mạnh đâu!
Sống chia lìa, trằn trọc vì không gặp nhau
Bụi Hồ mù trời, đường sá vời vợi.
Chim giá nga bay trước, chim thu thương bay sau
Làm sao đưa ta đến bên các em?
Hỡi ôi! Bài hát thứ ba, tiếng hát trỗi ba lần
Các em về, biết nhặt xương anh chốn nào?

Dịch

Ba em… ba em xa bấy nay,
Biết đứa nào lớn, đứa nào gầy?
Bụi giặc mù trời, đường khuất nẻo,
Sống mà không gặp xiết chua cay!
Trước sau mòng, két theo nhau bay,
Đưa hộ ta sang với chúng mày!
Than ơi! Ca ba khúc chừ, đã thất thanh,
Mày về, nào chốn lượm xương anh?

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 4 

有妹有妹在鐘離,
良人早沒諸孤痴。
長淮浪高蛟龍怒,
十年不見來何時。
扁舟欲往箭滿眼,
杳杳南國多旌旗。
嗚呼四歌兮歌四奏,
林猿為我啼清晝。

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 4

Hữu muội, hữu muội tại Chung Ly,
Lương nhân tảo một, chư như si.
Trường Hoài lãng cao, giao long nộ,
Thập niên bất kiến lai hà thì?
Biên chu dục vãng, tiễn mãn nhãn,
Diễu diểu Nam quốc đa tinh kỳ.
Ô hô! Tứ ca hề, tứ ca tấu,
Lâm viên vị ngã đề thanh trú.

Dịch nghĩa

Có em gái, có em gái ở Chung Ly
Chồng chết sớm, các con còn thơ dại
Sông Hoài sóng lớn, thuồng luồng dữ
Mười năm chẳng thấy em về lần nào.
Muốn vượt thuyền thăm em, tên đầy trước mắt,
Cõi nam bao nhiêu cờ xí thấp thoáng.
Hỡi ôi! Hát bài thứ tư, tiếng hát bốn phen cất lên
Vượn rừng vì ta kêu buồn giữa ban ngày.

Dịch

Em gái… em gái xa bấy chầy,
Chồng thì chết sớm, con thơ ngây!
Sông dài, sóng lớn thuồng luồng dữ,
Năm năm không gặp, biết sao đây?
Thuyền con muốn tới, tên đầy mắt!
Mịt mù miền nam cờ rợp bay!
Thương ơi! Ca bốn khúc chừ, gan ruột xót,
Vượn núi vì ta lên tiếng hót.

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 5 

四山多風溪水急,
寒雨颯颯枯樹濕。
黃蒿古城雲不開,
白狐跳梁黃狐立。
我生何為在窮谷?
中夜起坐萬感集。
嗚呼五歌兮歌正長,
魂招不來歸故鄉。

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 5

Tứ sơn đa phong, khê thuỷ cấp
Hàn vũ táp táp, khô thụ thấp
Hoàng cao cổ thành vân bất khai
Bạch hồ khiêu lương, hòng hồ lập
Ngã sinh hà vị tại cùng cốc ?
Trung dạ khởi toạ, vạn cảm tập.
Ô hô! Ngũ ca hề, ca chính trường,
Hồn chiêu bất lai, quy cố hương.

Dịch nghĩa

Núi bốn bề lộng gió, nước suối đổ dồn dập
Mưa lạnh ào ào, cây khô ướt đẫm
Thành xưa đầy cỏ vàng, mây không tan
Chồn trắng nhảy lên cầu, chồn vàng đứng sững
Đời ta vì sao lại ở nơi hang cùng ?
Nửa đêm ngồi dậy, muôn mối cảm xúc dồn tới
Hỡi ôi! Bài hát thứ năm, lời hát còn dài
Hồn gọi không lại, đang mải về quê cũ.

Dịch

Gió núi đập quanh khe chảy xô,
Lâm râm mưa lạnh ướt cây khô.
Cáo vàng đứng sững, cáo trắng nhảy,
Thành cổ bỏ hoang, mây mịt mù!
Đời ta sao lại ở xó núi?
Nửa đêm ngồi dậy muôn mối lo!
Thương ơi! Hát năm khúc chừ, hát đường trường,
Gọi hồn về chẳng tới quê hương!

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 6 

南有龍兮在山湫,
古木巃嵸枝相樛。
木葉黃落龍正蟄,
蝮蛇東來水上遊。
我行怪此安敢出,
拔劍欲斬且復休。
嗚呼六歌兮歌思遲,
溪壑為我回春姿。

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 6

Nam hữu long hề tại sơn thu
Cổ mộc lung tung chi tương cù
Mộc diệp hoàng lạc long chính trập
Phục xà đông lai thuỷ thượng du
Ngã hàng quái thử, an cảm xuất
Bạt kiếm dục trảm thả phục hưu.
Ô hô! Lục ca hề, ca tứ trì,
Khê hác vị ngã hồi xuân tư

Dịch nghĩa

Phương nam có con rồng ở đầm trên núi
Cây cổ thụ cao vút, cành chằng chịt xen nhau
Giữa lá rụng úa vàng, rồng nằm cuộn khúc
Loài rắn miền đông tới lượn lờ trên mặt nước
Ta đến xứ sở lạ lùng này, không dám ra
Tuốt gươm toan chém nhưng lại thôi.
Hỡi ôi! Bài hát thứ sáu, tiếng hát có vẻ chậm,
Núi khe vì ta đưa dáng xuân về.

Dịch

Rồng nam hiện ở suối bên đồi,
Gộc gạc cây lớn mọc liền chồi.
Lá cây vàng rụng, rồng đương náu,
Rắn độc đông sang, giỡn nước chơi!
Ta đi thấy đó dừng chân bước,
Tuốt gươm toan chém, đành lại thôi!
Thương ơi! Ca sáu khúc chừ, dạ phân vân,
Vì ta, sông núi nổi màu xuân!

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 7 

男兒生不成名身已老,
三年饑走荒山道。
長安卿相多少年,
富貴應須致身早。
山中儒生舊相識,
但話宿昔傷懷抱。
嗚呼七歌兮悄終曲。
仰視皇天白日速。

Càn Nguyên trung ngụ cư Đồng Cốc huyện tác ca kỳ 7

Nam nhi sinh bất thành danh thân dĩ lão
Tam niên cơ tẩu hoang sơn đạo.
Trường An khanh tướng đa thiếu niên,
Phú quý ưng tu trí thân tảo.
Sơn trung nho sinh cựu tương thức,
Đãn thoại túc tích thương hoài bão.
Ô hô! Thất ca hề, tiễu chung khúc,
Ngưỡng thị hoàng thiên bạch nhật tốc…

Dịch nghĩa

Làm trai sinh ra chưa nên danh thân đã già
Ba năm đói chạy khắp nẻo núi hoang.
Bọn khanh tướng ở Trường An đa phần còn trẻ
Nên sớm đem thân vào chốn giàu sang.
Bọn làng nho quen biết cũ đều ở núi non
Thường bàn chuyện xưa, thương cho chí lớn.
Hỡi ôi! Hát bài thứ bảy, tiếng hát buồn đã dứt,
Ngẩng trông trời cao, mặt trời trắng đi qua nhanh…

Dịch

Tài trai đời đã già rồi nguyên chịu lỗi!
Ba năm đói chạy miền rừng núi!
Giàu sang cần phải sớm nên thân,
Khanh, tướng Trường An trai trẻ ối!
Bạn quen trong núi: mấy nhà nho,
Nhắc lại chuyện xưa đành nuốt tủi!
Thương ơi! Ca bảy khúc chừ, xiết thương đau,
Ngửa mặt nhìn trời: ngày hết mau!

Dã vọng (Thanh thu vọng bất cực) 野望(清秋望不极)

清秋望不极,
迢遞起層陰。
遠水兼天淨,
孤城隱霧深。
葉稀風更落,
山迥日初沈。
獨鶴歸何晚?
昏鴉已滿林。

Dã vọng (Thanh thu vọng bất cực)

Thanh thu vọng bất cực,
Thiều đệ khởi tằng âm.
Viễn thuỷ kiêm thiên tĩnh,
Cô thành ẩn vụ thâm.
Diệp hi phong cánh lạc,
Sơn quýnh nhật sơ trầm.
Độc hạc quy hà vãn?
Hôn nha dĩ mãn lâm.

Dịch nghĩa

Bầu thu trong vắt khôn cùng
Xa xôi bao lớp bóng râm nổi lên
Nước xa lẫn vòm trời quang đãng
Thành cô quạnh nấp trong sương dày
Lá thưa thớt gió thổi cứ rụng dần
Núi tít mù mặt trời vừa lặn
Hạc lẻ bầy buổi chiều bay về đâu?
Quạ hoàng hôn xao xác khắp rừng

Dịch

Cảnh thu nhìn bát ngát
Mây ủ tít phương xa
Nước thẳm soi trời biếc
Thành đơn lấp khói mờ
Lá thưa cơn gió rụng
Núi điệp bóng dương tà
Chim hạc sao về muộn
Đen cây cánh quạ sà

Đăng cao 登高 

風急天高猿嘯哀,
渚清沙白鳥飛回。
無邊落木蕭蕭下,
不盡長江滾滾來。
萬里悲秋常作客,
百年多病獨登臺。
艱難苦恨繁霜鬢,
潦倒新停濁酒杯。

Đăng cao

Phong cấp, thiên cao, viên khiếu ai,
Chử thanh, sa bạch, điểu phi hồi.
Vô biên lạc mộc tiêu tiêu há,
Bất tận trường giang cổn cổn lai.
Vạn lý bi thu thường tác khách,
Bách niên đa bệnh độc đăng đài.
Gian nan khổ hận phồn sương mấn,
Lạo đảo tân đình trọc tửu bôi.

Dịch nghĩa

Gió thổi gấp, trời cao, vượn kêu buồn,
Bến nước trong, cát trắng, chim bay lượn vòng.
Vô vàn lá xào xạc rụng xuống,
Dòng sông dài cuồn cuộn chảy vô tận.
Xa nhà vạn dặm, vẻ thu hiu hắt, mãi vẫn làm khách xứ người,
Cuộc đời lắm bệnh, một mình lên đài cao.
Gian nan, khổ hận, tóc mai dày nhuốm màu sương gió,
Thân già ốm yếu nên mới phải thôi cạn chén rượu đục.

Dịch

Gió gấp trời cao vượn nỉ non,
Bến trong cát trắng, lượn chim cồn.
Rào rào lá trút rừng cây thẳm,
Cuồn cuộn sông về sóng nước tuôn.
Thu quạnh nghìn khơi lòng khách não,
Đài cao trăm bệnh chiếc thân mòn.
Gian nan khổ hận đầu thêm bạc,
Quặt quẹo đành kiêng chén giải buồn.

Đăng Nhạc Dương lâu 登岳陽樓

昔聞洞庭水,
今上岳陽樓。
吳楚東南坼,
乾坤日夜浮。
親朋無一字,
老病有孤舟。
戎馬關山北,
憑軒涕泗流。

Đăng Nhạc Dương lâu

Tích văn Động Đình thuỷ,
Kim thướng Nhạc Dương lâu.
Ngô Sở đông nam sách,
Càn khôn nhật dạ phù.
Thân bằng vô nhất tự,
Lão bệnh hữu cô chu.
Nhung mã quan san bắc,
Bằng hiên thế tứ lưu.

Dịch nghĩa

Xưa nghe nói nước hồ Động Đình,
Nay được lên lầu Nhạc Dương.
Đất Ngô, đất Sở chia tách ở hai phía đông nam,
Trời đất suốt ngày đêm dập dềnh nổi.
Bà con bạn hữu không có một chữ (thư từ qua lại)!
Thân già yếu lênh đênh trong chiếc thuyền côi quạnh.
Quan san phía bắc đang nhộn binh đao,
Tựa hiên, ròng ròng nước mắt, nước mũi!

Dịch

Động Đình nghe tiếng từ xưa
Mà đây lầu Nhạc bây giờ mới lên
Đông nam Ngô Sở tách miền
Mênh mang trời đất ngày dêm bềnh bồng
Bạn bè một chữ vẫn không
Thân già ma bệnh chiếc bồng lẻ loi
Bắc phương giặc giã rối bời
Bên hiên đứng tựa sụt sùi lệ sa

Giai nhân 佳人 • Người đẹp

絕代有佳人,
幽居在空谷。
自云良家子,
零落依草木。
關中昔喪亂,
兄弟遭殺戮。
官高何足論,
不得收骨肉。
世情惡衰歇,
萬事隨轉燭。
夫婿輕薄兒,
新人美如玉。
合昏尚知時,
鴛鴦不獨宿。
但見新人笑,
那聞舊人哭。
在山泉水清,
出山泉水濁。
侍婢賣珠迴,
牽蘿補茅屋。
摘花不插髮,
采柏動盈掬。
天寒翠袖薄,
日暮倚修竹。

Giai nhân

Tuyệt đại hữu giai nhân,
U cư tại không cốc.
Tự vân lương gia tử,
Linh lạc y thảo mộc.
Quan Trung tích táng loạn,
Huynh đệ tao sát lục.
Quan cao hà túc luận,
Bất đắc thu cốt nhục.
Thế tình ố suy yết,
Vạn sự tuỳ chuyển chúc.
Phu tế khinh bạc nhi,
Tân nhân mỹ như ngọc.
Hợp hôn thướng tri thời,
Uyên ương bất độc túc.
Ðãn kiến tân nhân tiếu,
Ná văn cựu nhân khốc.
Tại sơn tuyền thuỷ thanh,
Xuất sơn tuyền thuỷ trọc.
Thị tỳ mãi châu hồi,
Khiên la bổ mao ốc.
Trích hoa bất sáp phát,
Thái bách động doanh cúc.
Thiên hàn thuý tụ bạc,
Nhật mộ ỷ tu trúc.

Dịch nghĩa

Có người con gái đẹp tuyệt trần,
Sống âm thầm trong núi non vắng vẻ.
Nàng kể lể vốn con nhà đàng hoàng,
Mà nay phiêu dạt cùng với cỏ cây.
Vào buổi Quan Trung loạn lạc xa xưa,
Anh em đều bị sát hại.
Quan quyền cao sang mà kể làm gì,
Chết chẳng nhặt nhạnh được thịt xương.
Tình đời vốn rẻ rúng, ghét bỏ sự suy vi.
Muôn việc tuỳ cho ngọn đèn nhấp nháy.
Anh chồng là phường bạc bẽo,
Ðem về người mới xinh như ngọc.
Cây hợp hôn còn biết nở đúng lúc,
Chim uyên ương không sống đơn độc.
Chỉ thấy nụ cười của người mới,
Mà không nghe tiếng khóc của người cũ.
Ở trong núi, nước suối được trong sạch,
Ra khỏi núi, nước suối bị vẫn đục.
Người hầu gái đi bán ngọc trở về,
Bứt dây dại che chắn cho mái tranh.
Ngắt đoá hoa mà không cài lên tóc,
Hái lá bách vốc đầy một bụm tay.
Trời buốt giá, tay áo màu xanh mong manh,
Chiều chiều đứng tựa khóm trúc dài.

Dịch

Người đẹp nhất trần gian
Náu mình nơi hang hốc
Rằng thiếp vốn con nhà
Lạc loài nơi sim móc
Quan Trung thuở giặc tràn
Anh em bị giết chóc
Quyền quí nói mà chi
Thịt xương đành bỏ mục
Thói đời ghét vận suy
Đời chao như ngọn đuốc
Ông chồng bạc như vôi
Vợ mới đẹp như ngọc
Uyên ương đậu có đôi
Hợp hoan biết nhớ lúc
Chỉ thấy người mới cười
Nào nghe người cũ khóc
Ở núi, nước khe trong
Khỏi núi, nước khe đục
Hầu gái bán ngọc về
Bứt dây chèn mái nóc
Hái hoa chẳng cài đầu
Nhặt quả cho đầy vốc
Trời rét áo phong thanh
Chiều hôm tựa khóm trúc

Chùm thơ dịch của Nam Trân giàu giá trị được bạn đọc yêu thích và tìm kiếm. Qua những tác phẩm này chúng ta thêm phần yêu mến và hiểu hơn về phong cách thơ ông. Ông đóng góp một phần không nhỏ cho sự nghiệp phát triển văn học. Cảm ơn quý độc giả đã theo dõi bài viết này của chúng tôi!

so1vn - Tags: