Nhà thơ Hồ Chí Minh và Tập thơ chữ Hán nổi tiếng Phần cuối



Hồ Chí Minh là một nhà thơ lớn được biết đến với nhiều bài thơ chữ Hán hay đặc sắc. Ở đó ta có thể thấy được nội dung phong phú, tinh thâm mà uyên bác. Ta cũng dễ dàng cảm nhận được tình cảm mãnh liệt yêu Tổ quốc, yêu nhân dân cũng như ý chí của người cách mạng bất khuất và không sợ cường bạo. Dưới đây hãy cùng chúng tôi tìm hiểu những bài thơ chữ Hán hay của Hồ Chí Minh để cùng cảm nhận bạn nhé!

Phỏng Khúc Phụ

訪曲父
五月十九訪曲父
古松古廟兩依稀
孔家勢力今何在
只剩斜陽照古碑

Phỏng Khúc Phụ
Ngũ nguyệt thập cửu phỏng Khúc Phụ,
Cổ tùng, cổ miếu lưỡng y hy.
Khổng gia thế lực kim hà tại?
Chỉ thặng tà dương chiếu cổ bi.

Dịch nghĩa
Ngày mười chín tháng năm đến thăm Khúc Phụ,
Thông xưa, miếu cũ vẫn còn y nguyên.
Thế lực họ Khổng nay đâu rồi?
Chỉ còn ánh chiều tà chiếu bia cũ.

Quá Hồ Bắc

過湖北
我去田間都白雪,
我來田陌已青青。
明天機械替木械,
億兆農家樂太平。

Quá Hồ Bắc
Ngã khứ điền gian đô bạch tuyết,
Ngã lai điền mạch dĩ thanh thanh.
Minh thiên cơ giới thế mộc giới,
Ức triệu nông gia lạc thái bình.

Dịch nghĩa
Khi ta đi ngoài đồng toàn là tuyết trắng,
Nay ta về lúa mạch ngoài đồng đã xanh xanh.
Ngày mai có cày máy thay thế cho cày gỗ,
Ức triệu gia đình nông dân vui hưởng cảnh thái bình.

Quế Lâm phong cảnh

桂林風景
桂林風景甲天下,
如詩中畫畫中詩。
山中樵夫唱,
江上客船歸。
奇!

Quế Lâm phong cảnh
Quế lâm phong cảnh giáp thiên hạ,
Như thi trung hoạ hoạ trung thi.
Sơn trung tiều phu xướng,
Giang thượng khách thuyền quy.
Kỳ!

Dịch nghĩa
Phong cảnh Quế Lâm đẹp bậc nhất trong thiên hạ,
Khác nào tranh vẽ trong thơ, thơ trong tranh vẽ.
Trên núi, những người hái củi ca hát.
Dưới sông, thuyền khách trở về…
Thật kỳ lạ.

Tặng Bùi công

贈裴公
看書山鳥棲窗扦,
批札春花照硯池。
捷報頻來勞驛馬,
思公即景贈新詩。

Tặng Bùi công
Khán thư sơn điểu thê song hãn,
Phê trát xuân hoa chiếu nghiễn trì.
Tiệp báo tần lai lao dịch mã,
Tư công tức cảnh tặng tân thi.

Dịch nghĩa
Khi xem sách, chim rừng đậu ở song cửa sổ,
Lúc phê công văn, đoá hoa xuân soi bóng trong nghiên mực.
Luôn luôn phải về báo tin thắng trận, con ngựa trạm cũng vất vả,
Nhớ cụ, vừa tức cảnh thành bài thơ gửi tặng cụ.

Tặng Trần Canh đồng chí

贈陳賡同志
香檳美酒夜光杯,
欲飲琵琶馬上催。
醉臥沙場君莫笑,
敵人休放一人回。

Tặng Trần Canh đồng chí
“Hương tân” mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi.
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu,
Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.

Dịch nghĩa
Rượu ngọt “sâm banh” trong chén ngọc dạ quang,
Sắp uống, tỳ bà trên ngựa đã giục giã.
Say sưa nằm lăn nơi sa trường, anh đừng cười nhé!
Chớ để cho một tên địch nào trở về.

Tặng Võ công

贈武公
千里公尋我,
百感一言中。
事民願盡孝,
事國願盡忠。
公來我欣喜,
公去我思公。
贈公只一句,
抗戰必成功。

Tặng Võ công
Thiên lý công tầm ngã,
Bách cảm nhất ngôn trung.
Sự dân nguyện tận hiếu,
Sự quốc nguyện tận trung.
Công lai ngã hân hỉ,
Công khứ ngã tư công.
Tặng công chỉ nhất cú:
“Kháng chiến tất thành công”.

Dịch nghĩa
Đường xa, nghìn dặm cụ đến tìm tôi,
Biết bao tình cảm ngụ trong một lời nói!
Thờ dân mong sao hết đạo hiếu,
Thờ nước mong sao hết đạo trung.
Cụ đến, tôi mừng rỡ,
Cụ về, tôi lại nhớ cụ.
Chỉ xin tặng cụ một câu này:
“Kháng chiến nhất định thành công”.

Tầm hữu vị ngộ

尋友未遇
百里尋君未遇君,
馬蹄踏碎領頭雲。
歸來偶過山梅樹,
每朵黃花一點春。

Tầm hữu vị ngộ
Bách lý tầm quân vị ngộ quân,
Mã đề đạp toái lĩnh đầu vân.
Quy lai ngẫu quá sơn mai thụ,
Mỗi đoá hoàng hoa nhất điểm xuân.

Dịch nghĩa
Trăm dặm tìm anh mà chẳng gặp anh,
Vó ngựa dẫm vỡ những áng mây trên đầu núi.
Trở về, tình cờ qua một cây mai rừng,
Mỗi đoá hoa vàng là một điểm xuân.

Tân xuất ngục học đăng sơn

新出獄學登山
雲擁重山山擁雲
江心如鏡淨無塵
徘徊獨步西風岭
遙望南天憶故人

Tân xuất ngục học đăng sơn
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
Giang tâm như kính, tịnh vô trần.
Bồi hồi độc bộ Tây Phong lĩnh,
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.

Dịch nghĩa
Mây ôm dẫy núi, núi ôm mây,
Lòng sông như gương, không chút bụi;
Một mình bồi hồi dạo bước trên đỉnh núi Tây Phong
Trông về phía trời Nam xa xăm nhớ bạn cũ.

Thập tam tảo quá Trường Sa

十三早過長沙
長沙過去是沙長,
一塊樓臺一點傷。
中國而今已解放,
長沙此後免桑蒼。

Thập tam tảo quá Trường Sa
Trường Sa quá khứ thị sa trường,
Nhất khối lâu đài nhất điểm thương.
Trung Quốc nhi kim dĩ giải phóng,
Trường Sa thử hậu miễn tang thương.

Dịch nghĩa
Trường Sa ngày trước là bãi sa trường,
Mỗi toà lâu đài kia là một vết thương.
Ngày nay Trung Quốc đã được giải phóng,
Trường Sa từ nay về sau sẽ thoát khỏi cảnh đổi dời dâu bể.

Thất cửu

七九
人未五旬常嘆老,
我今七九正康強。
自供清淡精神爽,
做事從容日月長。

Thất cửu
Nhân vị ngũ tuần thường thán lão,
Ngã kim thất cửu chính khang cường.
Tự cung thanh đạm tinh thần sảng,
Tố sự thung dung nhật nguyệt trường.

Dịch nghĩa
Thường người ta chưa đến năm mươi tuổi đã tự than già,
Mình nay sáu mươi ba tuổi vẫn đang khoẻ mạnh.
Sống cách thanh đạm tinh thần sáng suốt,
Làm việc thong dong, ngày tháng dài.

Thu dạ

秋夜
籌劃更深漸得閒,
秋風秋雨報秋寒。
忽聞秋笛山前響,
遊擊歸來酒未殘。

Thu dạ
Trù hoạch canh thâm tiệm đắc nhàn,
Thu phong thu vũ báo thu hàn.
Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng,
Du kích quy lai tửu vị tàn.

Dịch nghĩa
Bàn tính công việc, mãi đến canh khuya mới tạm được nghỉ ngơi,
Mưa gió mùa thu báo tin tiết thu lạnh đã đến.
Chợt nghe tiếng sáo thu từ phía trước núi vọng lại,
Bộ đội, du kích vừa về, cuộc rượu chưa tàn

Thướng sơn

上山
六月二十四
上到此山來
舉頭紅日近
對岸一枝梅

Thướng sơn
Lục nguyệt nhị thập tứ,
Thướng đáo thử sơn lai.
Cử đầu hồng nhật cận,
Đối ngạn nhất chi mai.

Dịch nghĩa
Ngày hai mươi bốn tháng sáu,
Lên đến núi này.
Ngẩng đầu thấy mặt trời đỏ gần lại,
Bờ bên kia có một nhành mai.

Toàn dân cảo dược tiến

全民搞躍進
全民搞躍進,
滿地插紅旗。
農業共產化,
就是太平時。

Toàn dân cảo dược tiến
Toàn dân cảo dược tiến,
Mãn địa sáp hồng kỳ.
Nông nghiệp cộng sản hoá,
Tựu thị thái bình thì.

Dịch nghĩa
Toàn dân cùng tiến vọt
Cờ đỏ cắm khắp nơi
Nông nghiệp cộng sản hoá
Đó là thời thái bình

Tư chiến sĩ

思戰士
更深露急如秋雨,
晨早霜濃似海雲。
快送寒衫給戰士,
陽光和暖報新春。

Tư chiến sĩ
Canh thâm lộ cấp như thu vũ,
Thần tảo sương nùng tự hải vân.
Khoái tống hàn sam cấp chiến sĩ,
Dương quang hoà noãn báo tân xuân.

Dịch nghĩa
Đêm khuya, móc rơi dồn dập như mưa thu,
Sáng sớm, sương dày đặc như mây mặt biển.
Mau mau gửi áo rét cho chiến sĩ,
Ánh mặt trời ấm áp đã báo trước tin xuân mới sắp về.

Vịnh Thái Hồ

詠太湖
西湖不比太湖美,
太湖更比西湖寬。
漁舟來去朝陽暖,
桑稻滿田花滿山。

Vịnh Thái Hồ
Tây Hồ bất tỷ Thái Hồ mỹ,
Thái Hồ cánh tỷ Tây Hồ khoan.
Ngư chu lai khứ triêu dương noãn,
Tang đạo mãn điền, hoa mãn san.

Dịch nghĩa
Tây Hồ không sánh được với Thái Hồ đẹp,
Thái Hồ so với Tây Hồ còn rộng hơn nhiều.
Thuyền đánh cá đi lại dưới nắng sớm ấm,
Dâu lúa đầy đồng, hoa đầy núi.

Vịnh Vạn Lý Trường Thành

詠萬里長城
聽說長城萬里長,
頭連東海尾西疆。
幾千百萬勞動者,
建築斯城鎮一方。

Vịnh Vạn Lý Trường Thành
Thính thuyết Trường Thành vạn lý trường,
Đầu liên Đông hải vĩ Tây Cương.
Kỷ thiên bách vạn lao động giả,
Kiến trúc tư thành trấn nhất phương.

Dịch nghĩa
Nghe nói Trường Thành dài vạn dặm,
Đầu từ biển Đông, đuôi tới Tây Cương.
Hàng bao nhiêu trăm vạn người lao động,
Xây dựng nên thành này trấn một phương.

Vọng Thiên San

望天山
遙望天山風景好,
紫霞白雪抱青山。
朝陽初出赤如火,
萬道豪光照世間。

Vọng Thiên San
Dao vọng Thiên San phong cảnh hảo,
Tử hà, bạch tuyết bão thanh san.
Triêu dương sơ xuất xích như hoả,
Vạn đạo hào quang chiếu thế gian.

Dịch nghĩa
Xa ngắm ngọn Thiên San phong cảnh thật đẹp,
Ráng tía, tuyết trắng ôm ngọn núi xanh.
Mặt trời mới ló đỏ như lửa,
Muôn ánh hào quang chiếu thế gian.

Vô đề (II)

無題
山徑客來花滿地,
叢林軍到鳥衝天。
軍機國計商談了,
攜桶皆童灌菜園。

Vô đề (II)
Sơn kính khách lai hoa mãn địa,
Tùng lâm quân đáo điểu xung thiên.
Quân cơ quốc kế thương đàm liễu,
Huề dũng giai đồng quán thái viên.

Dịch nghĩa
Lúc khách lại, trên đường mòn bên núi, hoa nở đầy mặt đất,
Khi bộ đội đến, trong rừng rậm, đàn chim bay vút lên trời.
Việc nước, việc quân bàn bạc xong,
Xách thùng cùng chú bé ra vườn tưới rau.

Vô đề (III)

無題
三年不吃酒吹煙,
人生無病是真仙。
喜見南方連大勝,
一年四季都春天。

Vô đề (III)
Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đổ xuân thiên.

Dịch nghĩa
Đã ba năm rồi không uống rượu, không hút thuốc lá,
Ở đời không ốm đau chính là tiên thật sự!
Mừng thấy miền Nam thắng lớn liên tiếp,
Một năm cả bốn mùa đều là xuân.

Xuân tiết tặng đậu cấp La Quý Ba

春節贈豆給羅貴波
白豆三斤重,
質甘而味香。
青年增產得,
請你嚐一嚐。

Xuân tiết tặng đậu cấp La Quý Ba
Bạch đậu tam cân trọng,
Chất cam nhi vị hương.
Thanh niên tăng sản đắc,
Thỉnh nhĩ thưởng nhất thưởng.

Dịch nghĩa
Có ba cân đậu trắng,
Chất ngọt, vị lại thơm.
Thanh niên (chỗ tôi) tăng gia được,
Mời anh thưởng thức xem thế nào!

Xuân tiết tặng ngư cấp Trung Quốc cố vấn đoàn

春節贈魚給中國顧問團
桃符萬戶迎新,
爆竹一聲除舊。
奉送海味數條,
聊供賞春下酒。

Xuân tiết tặng ngư cấp Trung Quốc cố vấn đoàn
Đào phù vạn hộ nghinh tân,
Bộc trúc nhất thanh trừ cựu.
Phụng tống hải vị sổ điều,
Liêu cung thưởng xuân há tửu.

Dịch nghĩa
Đào giúp cho vạn nhà đón năm mới đến,
Pháo kêu một tiếng tiễn năm cũ đi.
Gửi tặng mấy món hải sản này,
Để dùng tạm uống rượu thưởng xuân!

Xuân tiết tặng tửu cấp Trung Quốc cố vấn đoàn

春節贈酒給中國顧問團
迎春無別饋,
唯有酒數樽。
請你們一醉,
共慶勝利春。

Xuân tiết tặng tửu cấp Trung Quốc cố vấn đoàn
Nghinh xuân vô biệt quỹ,
Duy hữu tửu sổ tôn.
Thỉnh nhĩ môn nhất tuý,
Cộng khánh thắng lợi xuân.

Dịch nghĩa
Đón xuân, không có gì đặc biệt tặng,
Chỉ có mấy chén rượu này.
Xin các anh hãy say một cuộc,
Cùng mừng xuân thắng lợi!

Tập thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh nổi tiếng với số lượng bài lớn. Tuy nhiên một phần lớn trong số đó là các bài thơ thuộc tập Nhật ký trong tù. Với tập thơ đó chúng tôi sẽ giới thiệu với bạn trong những bài viết kế tiếp. Đừng quên đón đọc bạn nhé! Qua các bài thơ này ta có thể hiểu thêm về thời gian, bối cảnh cũng như những sự kiện mà Hồ Chí Minh đã từng trải qua. Như vậy bạn sẽ hiểu thêm về cuộc đời của nhà thơ, người anh hùng giải phóng dân tộc vĩ đại này nhé!

so1vn - Tags: