Phong cách thơ Vũ Hoàng Chương được đánh giá cao, bởi ở đó người ta thấy được sự độc đáo. Với tập thơ Ngồi quán cũng vậy. Ta cảm nhận được một hồn thơ rất riêng. Để rồi thông qua mỗi bài thơ này, điều còn đọng lại trong mỗi chúng ta chính là sự tiếc nuối, có chút gì đó nghẹn ngào. Bởi nhà thơ đã kết phần này bằng bài thơ Ba kiếp lang thang.

Lửa từ bi

Kính dâng lên BỒ-TÁT QUẢNG-ĐỨC

Lửa! Lửa cháy ngất Toà Sen!
Tám chín phương nhục thể trần tâm
hiện thành Thơ, quỳ cả xuống.
Hai Vầng Sáng rưng rưng
Đông Tây nhoà lệ ngọc
Chắp tay đón một Mặt Trời Mới Mọc,
Ánh Đạo Vàng phơi phới
đang bừng lên, dâng lên…

Ôi, đích thực hôm nay Trời có Mặt!
Giờ là giờ Hoàng-Đạo nguy nga.
Muôn vạn khối sân-si vừa mở mắt
Nhìn nhau: tình huynh-đệ bao la.
Nam mô ĐỨC PHẬT DI ĐÀ
Sông Hằng kia bởi đâu mà cát bay?

Thương chúng sinh trầm luân bể khổ,
NGƯỜI rẽ phăng đêm tối đất dày
Bước ra, ngồi nhập định, hướng về Tây
Gọi hết LỬA vào xương da bỏ ngỏ
PHẬT-PHÁP chẳng rời tay…
Sáu ngả luân hồi đâu đó
Mang mang cùng nín thở
Tiếng nấc lên ngừng nhịp Bánh Xe Quay.
Không khí vặn mình theo
khóc oà lên nổi gió
NGƯỜI siêu thăng…
giông bão lắng từ đây.
Bóng NGƯỜI vượt chín tầng mây
Nhân gian mát rợi bóng cây Bồ-Đề.

Ngọc hay đá, tượng chẳng cần ai tạc!
Lụa hay tre, nào khiến bút ai ghi!
Chỗ NGƯỜI ngồi: một thiên thu tuyệt tác
Trong vô-hình sáng chói nét TỪ-BI.

Rồi đây, rồi mai sau, còn chi?
Ngọc đá cũng thành tro
lụa tre dần mục nát
Với Thời-Gian lê vết máu qua đi.
Còn mãi chứ! còn TRÁI TIM BỒ TÁT
Gội hào quang xuống tận ngục A-tỳ.

Ôi ngọn LỬA huyền vi!
Thế giới ba nghìn phút giây ngơ ngác
Từ cõi Vô-Minh
Hướng về Cực-Lạc.
Vần điệu của thi-nhân chỉ còn là rơm rác
và chỉ nguyện được là rơm rác
Thơ cháy lên theo với lời Kinh;
Tụng cho nhân loại hoà bình
Trước sau bền vững tình huynh-đệ này.

Thổn thức nghe lòng Trái Đất
Mong thành Quả Phúc về Cây.
Nam-mô THÍCH CA MẦU NI PHẬT
Đồng loại chúng con
nắm tay nhau tràn nước mắt
tình thương hiện Tháp Chín Tầng xây.

Nhâm Tý khai bút

Giấc mộng trường chinh lửa ngút mây…
Tỉnh ra ngựa đấy với thuyền đây
Nhìn nhau: chuột nhỏ tung tăng dạo,
Vừa uống sông xuân một bụng đầy.

Bản dịch sang chữ Hán của chính tác giả:
Trường chinh mộng hậu tức phong yên,
Thiên lý long câu vạn lý thuyền.
Hốt ngộ tiền thân nhất yến thử,
Ẩm hà mãn phúc tuý xuân thiên.

Hội xuân

Người đi, bóng ở lại cùng
non Hương vách Phật núi Hùng đu Tiên
Bóng chưa nhoà, dễ ai quên
mơ chùa Hương chín mộng đền Hùng xanh
Giờ đây các chị các anh
mộng phai mơ héo cho đành được sao?

Tháng Ba trẩy hội năm nào
đường lên Hùng lĩnh nẻo vào Hương sơn
Mấy vòng đu, mộng chập chờn;
một rừng mơ, gió từng cơn thoát trần.
Còn ai không là cố nhân!
đã quen từ những tiền thân kia rồi,
từ trong ý thức giống nòi,
từ trong tâm tưởng kết lời nam mô,
từ trong mây nước hẹn hò:
Lâm Thao ngược bến, xuôi đò Hà Nam.

Chưa tươi nụ Lạc hoa Đàm,
lá chưa về cội, chưa cam lòng này.
Có ai mặt nước chân mây
cùng ta nhớ bóng, thương ngày hội Xuân?

Tin xuân

Gió mời lên phải may
Trăng dìu lên phải đầy
Trà dâng lên phải là khói
Thơ ngâm lên phải là mây
Đốt đèn lên phải ma hiện
Trời phải vào khuya người phải nằm say.

Ma là Người… kiếp khác,
Người là Trời… đêm nay.
Nghe chừng lửa đã tắt
Hai bờ Con Sông này…
Ờ nhỉ! đâu còn Vết Cắt!
Sao lòng ai vẫn chưa hay?
Nằm kia, Người nín bặt;
Vòng luân hồi đã ngược chiều quay,
Ma thôi vất vưởng, trời thôi lưu đày,

Cần chi nữa gió may!
Tha hồ trăng vơi đầy…
Thơ đang nhập thần, trà nhập đạo;
Xuân đang tràn ra ngoài khói mây.

Tố của Hoàng ơi

Lịch treo giữa ngực kêu thành tiếng,
Chẳng tiếng nào nghe khác tiếng mưa
Rả rích từ hôm con én liệng
Vào lồng son… tủi áng mây đưa.

Thời gian từng giọt buông theo máu
Lại trở về, không gọi cũng thưa.
Còn đó 12, còn tháng 6…
30 năm lẻ vẫn chưa vừa!

Còn khóc trong tim này bất tuyệt;
Chừng như rối loạn cả đường tơ?
Trăng-nhà-ai vẫn là Trăng-khuyết
Đứng sững từ đêm ấy đến giờ!

Ngày mai ngày mốt anh nằm xuống,
Ngọc đọng cơn sầu nửa kiếp Thơ.
Đập nát ra! cho trời đất uống!
Thì em sẽ rụng khỏi Đêm-mờ.

Phút giây Trăng-một-phương tròn lại
Rồi tự hoà tan Rượu-đắng mơ,
Cùng nhịp tim trôi vào tận cõi
Không-ngày-không-tháng-không-bơ-vơ.

12 tháng 6… cung Hồ Xế…
Một mối tình si một mối thù
Giây phút cũng tan thành biển lệ;
Trả cho cát bụi nhé Kiều-Thu!

Bài thơ Hàng Cỏ

Ta còn nói gì bây giờ nữa?
một bến đã không đành nằm chung.
Làm được gì bây giờ? buổi đó
tình chia hai đã tháo rời khung.

Ai dám ngờ đâu khung cũng hư!
nơi em vẫn gọi lầu-Tương-tư,
hay Uyên-ương-các như anh gọi,
đến nay chỉ còn là danh từ.

Một mảnh tàn y vụn… Hỡi ơi,
làm sao mảnh vụn để dành hơi!
làm sao gọi được “lầu” hay “gác”
khi đã là tro bụi giữa đời!…

Tro bụi, từ khuôn kính bức mành
dãy nhà nâu thẫm hàng cây xanh
đến con đường nhựa đường xe điện,
từng phố từng khu nội ngoại thành.

Nói chi những gợn sóng the hồng
nửa khép vùng chăn nhiễu gối bông,
đèn ngủ, lẵng hoa, thư, nhật ký
và – trên tất cả – giấc mơ nồng!

Tất cả một kinh đô nát nhầu,
lửa hằn ngang dọc vết khơi sâu;
bụi nhoà tro xám chôn vùi hết,
ai dễ còn vang bóng mãi đâu!

Lầu gác đi hoang tìm lại tên…
chợ nào kia ngã gục trên nền?
cửa đâu mà mở vào khung được!
ngăn ngắt thời gian áo Lãng-quên.

Nhớ chăng? Áo cỏ, hàng em ưa,
màu “Cỏ-Uyên-ương” say nắng mưa,
hương “Cỏ-Tương-tư” mê sớm tối;
khung Tình, thôi nhé, đã thành xưa!

Vì… bụi vô danh, tro khuyết danh
một Sông hai Bến ấy đang thành;
nằm trong Hàng Cỏ em đang mất
và cuối Bài Thơ cũng mất anh.

Kích thước chưa từng

Cát khô vừa mọc lên Nàng,
Cũng vừa rơi xuống một Chàng ngoài mây.
Nhìn nhau, cười…
Gặp nhau đây
Nào ai biết được nơi này là đâu!
Hẳn không là trái Địa-cầu
Già nua…
Ta hãy bắt đầu cuộc chơi
Kể bằng tim, diễn bằng môi,
Chuyện-vô-tích, Kịch-vô-hồi:
Yên-đương!
Chẳng ai là Hậu, là Vương;
Danh-từ xưa, quá khiêm nhường tối tăm.
Không-gian vừa có trung tâm
Ở môi hôn… vượt mọi tầm cao xa.
Thời gian chẳng đến, chẳng qua;
Luôn luôn nhắc lại
– màu hoa bóng lồng
Giữa hai gương-phẳng-song-song –
Một giây bất tuyệt trốn vòng hoá sinh!
Trăm, ngàn, muôn, ức triệu hình
Tự nhân lên…
Một hành-trình-kín-bưng
Tự vào sâu mãi không ngừng,
Làm ra Kích-thước-chưa-từng:
Lứa đôi!

Chuyện-vô-tích Kịch-vô-hồi
Kể bằng tim diễn bằng môi, tự đầy.

Chàng rơi xuống từ ngoài mây
Có là thiên-thể lạc bầy không trung?
Mọc lên từ cát trập trùng,
Hay Nàng là bụi của thung-lũng nào?
Hỏi làm chi! Hãy nhìn cao,
Đếm cho hết những vì Sao trên trời,
Nhân-gian sẽ được trả lời!

Có gì ở trong

Phật rằng: trong Lửa có hoa sen.
Lửa mách người: trong Nước có tiên.
Nước réo: trong Cây đều có quỷ
Làm yêu làm quái… để tìm quên.

Lời yêu: quên được đã quên rồi!
Thánh vẫn than trong Vàng đấy thôi.
Uổng có miệng thêu lòng nở gấm,
Dao vung lên cũng đứt làm đôi.

– Còn trong Đất, chẳng có gì sao?
Nghe hỏi, Cây-trên-bến nghẹn ngào.
Cuội chợt khóc vang… người chợt tỉnh:
Có mầm Đau rắc tự trời cao!

Mừng Phật đản 2516

Hoa-nghiêm chợt tỉnh kiếp nào xưa
cho tấm lòng Xuân đẹp mấy bờ!
Chuông khánh Hàn-san đêm Nhiệt đới
thuyền vào… tay ngọc rắc như mưa.

Cây bên sông đứng hai hàng chữ
in xuống Thời-gian nghĩa bất ngờ.
Vành vạnh trăng lên từ đáy nước,
hải triều vang dội hướng mây đưa.

Mây phong nếp áo ngàn xưa
mở tung hương sắc hội Mưa-hoa này.
Tròn duyên, Thiên-nữ chắp tay;
chúng sinh bao kiếp đoạ đày sạch trơn.

Sang? Chưa sang?

Hoá thân từ Đá-ba-sinh;
Nửa hồn trăng, nửa tâm tình nước mây.
Lời-thơ xoã tóc sầu vây,
Tiếng-ca giông bão về đầy từng đêm…

Sang Sông rồi ư, cô em?
Bờ-bên-đây sóng chưa chìm cơn mê;
Còn rung nát cỏ chân đê,
Còn gây thương tích sáu bề giác-quan.

Hay là cô em chưa sang?
Bên-kia-bờ vẫn đảo-hoang-ngàn-đời…
Thì Sông, thì Bến… hỡi ơi!
Cỏ đau càng giợn chân trời âm thanh.

Sang? chưa sang?
Đành, sao đành
Tin Hoa lẩn mãi sau vành nón Thơ?
Bướm-xuân liệng đến bao giờ?

Kết cuộc

Ngày xưa dựng cuộc để làm quan,
Chiếm được người yêu rồi mộng tàn.
Một cuộc trải qua… không đất đứng,
Ôm chân tượng đá gửi hồn oan.

Ngày nay nhập cuộc để làm lính,
Hạ kẻ thù rồi thua cuộc luôn.
Máu lặn mặt trời đêm bất hạnh,
Ôm lưng hũ rượu sưởi cơn buồn.

Ngày mai bỏ cuộc để làm người,
Ôm cuộc tình ra khỏi chuyện đời.
Cuộc chiến cũng giao hoàn đứa trẻ
Từ lâu bày đặt những trò chơi.

Ba kiếp lang thang

Chúng ta đánh mất cả rồi sao?
Cả đến âm thanh một thuở nào…
Da trống, tơ đàn, ôi trúc phách!
Đều khô như tiếng hát gầy hao.

Đàn mang tên Đáy mà không đáy
Rút hết rồi chăng sợi nhớ thương?
Hay phách, từ lâu rồi lạc phách,
Không còn dựng nổi bến Tầm-Dương?

Hơi ca hồng đã tan thành huyết
Để tiếp vào cho má đỡ xanh?
Bạc mệnh, hỡi ơi, hoàn mệnh bạc,
Đâu còn ấm nữa rượu tàn canh!

Hay là đêm ấy Ngưu lìa Chức?
Xé nát da mình lau mắt ai?
Còn được gì đâu cho mặt trống;
Đập lên, hoang vắng đến ghê người!

Âm thanh trống rỗng, còn chi nữa,
Gắng gượng chi cho hồn Nhạc đau!
Ba kiếp lang thang, ngồi chụm lại,
Chúng ta mất hết, chỉ còn nhau.

Trên đây là những bài thơ Vũ Hoàng Chương viết trong tập Ngồi quán phần Chúng ta mất hết chỉ còn nhau. Đây là một tập thơ được viết từ năm 1974. Đọc nó ta có cảm nhận về một con người tài hoa nhưng cũng rất nhiều suy tư và chiêm nghiệm về cuộc sống này. Và đó cũng chính là lý do người ta nhấn mạnh phong cách thơ Vũ Hoàng Chương mang đậm dấu ấn Đông phương.