Bệnh do Vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)

Cập nhật ngày 18/08/2022 bởi mychi

Bài viết Bệnh do Vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) thuộc chủ đề về Giải Đáp thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://vietvan.vn/hoi-dap/ tìm hiểu Bệnh do Vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS) trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài viết : “Bệnh do Vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)”

Đánh giá về Bệnh do Vi rút gây ra Hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS)



_

BỆNH DO VI RÚT GÂY RA HỘI CHỨNG SUY GIẢM MIỄN DỊCH MẮC PHẢI Ở NGƯỜI (HIV/AIDS)(Acquis immunideficientis syndromi)

ICD-10 B20-B24: Acquired immunodeficiency syndromeBệnh do vi rút gây ra ra hội chứng suy yếu miễn dịch mắc phải ở người thuộc nhóm B trong Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm.

1. Đặc điểm của bệnh:1.1. Định nghĩa ca bệnh:

– Ca bệnh lâm sàng: Nhiễm HIV được chia làm 4 giai đoạn, phụ thuộc vào các bệnh lý liên quan đến HIV như tình trạng sụt cân, các nhiễm trùng cơ hội, các bệnh ác tính, mức độ vận hành về thể lực. Người nhiễm HIV có các bệnh lý lâm sàng giai đoạn IV được coi là AIDS, các bệnh lý cụ thể là:Với người lớn và vị thành niên trên 15 tuổi:+ Hội chứng suy mòn do HIV (sụt > 10% trọng lượng cơ thể, cộng với tiêu chảy mạn tính không rõ căn nguyên > 1 tháng, hoặc mệt mỏi và sốt kéo dài không rõ căn nguyên > 1 tháng).+ Có biểu hiện bệnh nhiễm khuẩn cơ hội.+ Và/hoặc vận hành mức độ 4: Nằm liệt giường trên 50% số ngày trong tháng trước đó.      Với trẻ em:+ Suy mòn nặng hoặc suy dinh dưỡng nặng không rõ tác nhân không đáp ứng thích hợp với điều trị thông thường+ Có bệnh nhiễm khuẩn cơ hội.- Ca bệnh xác định:+ Xác định trường hợp nhiễm HIV: Một người được xác định nhiễm HIV khi mẫu huyết thanh của người đó dương tính cả ba lần xét nghiệm bằng ba loại sinh phẩm với các nguyên lý, kháng  nguyên khác nhéu và do những phòng xét nghiệm đạt tiêu chuẩn được Bộ Y tế cho phép khẳng định kết quả xét nghiệm HIV dương tính.+ Xác định ca bệnh AIDS: Người nhiễm HIV có TCD4 ≤ 200 tế bào/mm3được coi là suy yếu miễn dịch nặng. Nếu không có xét nghiệm TCD4, tổng số tế bào Lympho có thể sử dụng thay thế. Người nhiễm HIV có tổng số Lympho ≤ 1200 tế bào/mm3và các triệu chứng liên quan đến HIV cũng được coi là suy yếu miễn dịch nặng. Tình trạng suy giảm miễn dịch của trẻ nhiễm HIV được đánh giá qua số tế bào TCD4 theo lứa tuổi và tỷ lệ TCD4/ tế bào Lympho.1.2. Chẩn đoán phân biệt với một số bệnh tương tự:Người nhiễm HIV có thời gian nhiều năm khoẻ mạnh như người bình thường mà không có bất cứ biểu hiện gì. Ngay cả khi hệ thống miễn dịch bị suy yếu hoặc người nhiễm ở giai đoạn cuối của quy trình nhiễm HIV (AIDS), trên lâm sàng thường được biểu hiện bằng các nhiễm khuẩn cơ hội của rất nhiều cơ quan như viêm phổi, viêm não, tiêu chảy, nhiễm nấm hoặc ung thư v.v… Do vậy, chỉ có xét nghiệm HIV mới có thể xác định chắc chắn một người có nhiễm HIV hay bị AIDS hay không.1.3. Xét nghiệm– Loại mẫu bệnh phẩm: Mẫu bệnh phẩm hiện nay được dùng là máu. một vài loại xét nghiệm dùng các mẫu bệnh phẩm là nước bọt hoặc nước tiểu cũng đang được thống kê.- Phương pháp xét nghiệm: Cho đến nay có rất thường xuyên phương pháp xét nghiệm HIV, có khả năng tóm tắt một vài phương pháp chủ yếu sau:+Xét nghiệm phát hiện kháng thể: Hầu hết các xét nghiệm HIV Hiện tại là xét nghiệm huyết thanh dựa trên nguyên lý phát hiện kháng thể. Có rất thường xuyên loại xét nghiệm phát hiện kháng thể như kỹ thuật ngưng kết hạt vi lượng SERODIA-HIV, kỹ thuật miễn dịch gắn men ELISA, thử nghiệm chấm – thấm (thử nghiệm nhénh), thử nghiệm miễn dịch điện di Western blot, thử nghiệm miễn dịch huỳnh quang (IFA) v.v… ưu điểm của các xét nghiệm phát hiện kháng thể là nhanh, kỹ thuật trong vòng khó, giá thành vừa phải. mặc khác, nhược điểm là độ nhạy và độ đặc hiệu của một vài sinh phẩm Giảm, do vậy phải kết hợp các chiến lược khác nhéu khi cần chẩn đoán xác định nhiễm HIV.+ Xét nghiệm phát hiện kháng nguyên HIV: Sinh phẩm phát hiện kháng nguyên Hiện tại chủ yếu là phát hiện kháng nguyên p24 tự do. Ưu điểm của xét nghiệm này là phát hiện trực tiếp kháng nguyên nên chỉ ra được tình trạng nhiễm HIV ngay cả khi chưa có phục vụ kháng thể. mặc khác, đây cũng là xét nghiệm khó và tốn kém.+ Nuôi cấy HIV: Người ta cũng đã có khả năng nuôi cấy được HIV trong môi trường PHA có yếu tố tăng sinh tế bào. Việc nuôi cấy HIV có thể có ích trong việc giám sát sử dụng thuốc điều trị. tuy nhiên hạn chế của nuôi cấy HIV là tốn kém, cần thường xuyên thời gian và nguy cơ tiếp xúc với nồng độ cao HIV.+ Kỹ thuật lai ghép phân tử hoặc sử dụng phản ứng chuỗi men polimeraza (PCR). Ưu điểm của phương pháp này là có thể chẩn đoán sớm nhiễm HIV qua việc phát hiện ARN hoặc ADN của HIV. mặc khác, phương pháp này khó về kỹ thuật, độ nhạy cũng như độ đặc hiệu của nó chưa rõ và giá thành cũng khá đắt.- Chiến lược/phương cách xét nghiệm: Các phương cách xét nghiệm HIV phụ thuộc vào mục đích xét nghiệm và tỷ lệ nhiễm HIV ở từng nhóm đối tượng:+ Phương cách I (áp dụng cho công tác an toàn truyền máu): Mẫu huyết thanh được coi là dương tính với phương cách I khi mẫu đó dương tính với một trong các thử nghiệm như: ELISA, SERODIA hay thử nghiệm nhénh. Trong truyền máu, mẫu máu được xét nghiệm với phương cách I nếu dương tính hay nghi ngờ đều phải loại bỏ.+ Phương cách II (áp dụng cho giám sát trọng điểm): Mẫu huyết thanh được coi là dương tính với phương cách II khi mẫu đó dương tính cả 2 lần xét nghiệm bằng 2 loại sinh phẩm với nguyên lý và chuẩn bị kháng nguyên khác nhau.+ Phương cách III (áp dụng cho khẳng định các trường hợp nhiễm HIV): Mẫu huyết thanh được coi là dương tính với phương cách III khi mẫu đó dương tính cả 3 lần xét nghiệm bằng 3 loại sinh phẩm với nguyên lý và chuẩn bị kháng nguyên khác nhéu.2. tác nhân gây ra bệnh– Tên nguyên nhân: nguyên nhân gây ra bệnh là do vi rút gây suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV – Human immunodeficiency virus). Đây là loại vi rút có men sao chép ngược. Hiện tại, người ta xác định có hai loại HIV-1 và HIV-2. HIV-1 là nguyên nhân chính gây ra AIDS trên toàn thế giới. HIV-2  tìm thấy chủ yếu ở Tây Phi và khả năng lây truyền cũng như gây ra bệnh ít hơn so với HIV-1.- Hình thái: HIV thuộc họRetroviridae, có dạng hình cầu, kích thước khoảng từ 80-120 nm. Cấu tạo gồm 3 lớp:+ Lớp vỏ ngoài là màng lipit kép. Gắn lên trên màng này có các gai nhú là phân tử glucoprotein gồm gp120 và các yếu tố xuyên màng gp41.+ Lớp vỏ trong: Gồm 2 lớp protein là p17 và protein lõi p24. Đây là kháng nguyên quan trọng để chẩn đoán nhiễm HIV.+ Lõi gồm 2 sợi ARN có các men gắn kết, men tổng hợp và men sao chép ngược. Nhờ men sao chép ngược nên khi xâm nhập vào tế bào, vi rút có thể tổng hợp ADN 2 vòng. Đoạn cuối hai đầu của AND mới tạo này có thể gắn được ổn định vào nhiễm sắc thể ADN của tế bào và trở thành 1 tiền vi rút. Tiền vi rút này sẽ như một gen của tế bào bị nhiễm vi rút và có thể tồn tại thầm lặng không phát triển và truyền sang cho thế hệ tế bào sau khi có phân bào. Nó cũng có khả năng nhờ men ribonuclease của tế bào nhiễm để tạo ra ARN truyền tin giúp tạo ra các protein của vi rút hoàn chỉnh. Đây là một đặc trưng của HIV và gây ra khó khăn cho việc sản xuất các thuốc để tiêu diệt HIV khi nó trong tế bào và lại gắn vào ADN của tế bào. Tính biến đổi gien của HIV là rất lớn và cũng là một đặc trưng quan trọng. Do vậy, nó gây điều kiện cho việc phát triển vắc xin phép phòng HIV tương đương sản xuất thuốc điều trị.- khả năng tồn tại trong môi trường bên ngoài: HIV là vi rút dễ bị tiêu diệt bởi các tác nhân lý hoá ở môi trường bên ngoài cơ thể. các thống kê của Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ đã cho thấy, trong giọt máu hoặc dịch cơ thể khô, HIV chỉ có khả năng tồn tại được từ vài phút đến vài giờ tuỳ thuộc vào môi trường. HIV cũng rất dễ bị tiêu diệt bởi ảnh hưởng của nhiệt độ và chất sát khuẩn, nó bị tiêu diệt sau 30 phút ngâm trong cồn 70 độ, dung dịch Cloramin 1%, nước Javen 1%. Trong bơm kim tiêm có chứa máu không bị khô, chúng có khả năng tồn tại thậm chí đến vài ngày, trong xác chết bệnh nhân AIDS, chưa rõ HIV có thể tồn tại bao lâu nhưng một số thống kê cho rằng chúng tồn tại không quá 24 giờ. mặc khác, ở nhiệt độ dưới 00C, tia X, tia cực tím không giết được HIV.3. Đặc điểm dịch tễ học3.1. Trên thế giới- Những ca bệnh đầu tiên được phát hiện vào tháng 6 năm 1982 tại Los Angeles (Mỹ) trên 5 người tình dục đồng giới nam bị nhiễm trùng Pneumocytis Carini do suy giảm miễn dịch mắc phải. Sau đó nhiều nơi cũng lần lượt công bố các ca bệnh lâm sàng liên quan đến dấu hiệu suy yếu miễn dịch mắc phải. Đặc biệt từ khi phát triển ra các phương pháp xét nghiệm HIV, người ta thấy HIV có mặt ở mọi quốc gia trên thế giới.- Theo báo cáo của Chương trình phối hợp liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS), cuối năm 2007 toàn thế giới có khoảng 33,2 triệu người nhiễm HIV đang còn sống, với khoảng 30,8 triệu là ngưòi lớn và khoảng 2,5 triệu trẻ em. Tổng số người nhiễm HIV được chia đều đặn cho cả nam và nữ với tỷ lệ là 50:50. Vùng cận Sahara (Châu Phi) có số người hiện nhiễm HIV cao nhất khoảng 24,5 triệu người, tiếp đến là vùng Đông Nam Á khoảng 4 triệu người. Các vùng còn lại trên thế giới đều đặn có người nhiễm HIV nhưng với số lượng và tỷ lệ thấp. Những năm gần đây, tỷ lệ người nhiễm HIV trên tổng dân số có chiều hướng không tăng do số nhiễm mới có chiều hướng chững lại, số người được tiếp cận và điều trị thuốc kháng vi rút thường xuyên hơn và tuổi thọ bình quân trên đầu người chung toàn thế giới có xu hướng tăng lên.3.2. Tại Việt Nam- Ca nhiễm HIV đầu tiên được phát Hiện tại Việt Nam vào tháng 12 năm 1990. Tính đến ngày 31/12/2007 số người nhiễm HIV còn sống được báo cáo trên toàn quốc là 121.734 người; có 27.669 bệnh nhân AIDS và 34.476 trường hợp đã tử vong do HIV/AIDS. Nhiễm HIV trên đối tượng nghiện chích ma tuý vẫn chiếm đa số (44%) và đường lây HIV chủ yếu vẫn là đường máu chiếm tới 75,9%. Người nhiễm HIV theo báo cáo chủ yếu vẫn là phái mạnh chiếm tới 82,7%. Đã có 100% số tỉnh thành phố, 96,4% số huyện/quận/thị xã và 65,8% số xã/phường báo cáo có người nhiễm HIV- Hình thái dịch HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn trong giai đoạn tập trung. Các tr­ường hợp nhiễm HIV chủ yếu tập trung trong nhóm có hành vi nguy cơ cao nh­ư nghiện chích ma tuý, hoạt động mại dâm. mặc khác, qua giám sát trọng điểm trong những năm gần đây cho thấy dịch đã có dấu hiệu lan ra cộng đồng.4. Nguồn truyền nhiễm– Ổ chứa: Người là ổ chứa duy nhất.- Thời gian ủ bệnh: Thời gian ủ bệnh rất khác nhéu giữa người này với người khác. Thời gian từ khi nhiễm HIV đến khi phát hiện được kháng thể kháng vi rút thông thường từ 1-3 tháng nhưng thời gian từ khi nhiễm HIV đến khi được chẩn đoán là AIDS rất khác nhéu. Khoảng một nửa số người nhiễm HIV sẽ phát triển thành AIDS trong vòng 10 năm nếu không được điều trị bằng thuốc kháng HIV. Thời gian chuyển thành AIDS của trẻ em nhiễm HIV ngắn hơn của người lớn.- Thời kỳ lây truyền: Người ta cho rằng, một người có khả năng làm lây truyền HIV cho người khác rất sớm ngay sau khi nhiễm HIV và kéo dài suốt đời. Các bằng chứng về dịch tễ học cho thấy khả năng lây nhiễm HIV cao nhất trong những tháng đầu sau khi nhiễm HIV và những người nhiễm HIV ở giai đoạn cuối.5. Phương thức lây truyền5.1. Lây truyền HIV qua đường máu: HIV có thường xuyên trong máu toàn phần tương đương trong các thành phần của máu như hồng cầu, tiểu cầu, huyết tương, các yếu tố đông máu. do đó, HIV có thể lây truyền qua máu và các chế phẩm của máu có nhiễm HIV.- Lây truyền HIV từ người này sang người khác qua các dụng cụ xuyên chích qua da như trong các trường hợp sau:+  sử dụng chung bơm kim tiêm, nhất là với người tiêm chích ma túy;+  dùng chung những loại kim xăm trổ, kim châm cứu, các dụng cụ xăm lông mi, xăm mày, lưỡi dao cạo râu…;+  dùng chung hoặc dùng khi chưa được tiệt khuẩn đúng cách các dụng cụ phẫu thuật, dụng cụ khám chữa bệnh… có xuyên cắt qua da.- Lây truyền qua các vật dụng có khả năng dính máu của người khác trong các trường hợp như sử dụng chung bàn chải đánh răng.- Lây truyền qua các tiếp xúc trực tiếp với máu khác, như bị dính máu của người nhiễm HIV vào nơi có các vết thương hở hoặc da, niêm mạc bị xây sát;- Lây truyền qua truyền máu và các sản phẩm của máu hoặc ghép các mô, các tạng… bị nhiễm HIV hoặc qua các dụng cụ truyền máu, lấy máu… không được tiệt trùng đúng cách.5.2. Lây truyền HIV qua đường quan hệ tình dục- Sự lây truyền HIV qua đường quan hệ tình dục xảy ra khi các dịch thể (máu, dịch sinh dục) nhiễm HIV (của người nhiễm HIV) xâm nhập vào cơ thể bạn tình không nhiễm HIV. – Tất cả các hình thức quan hệ tình dục (bộ phận sinh dục nam – hậu môn; dương vật –  âm đạo; bộ phận sinh dục nam – miệng) với một người nhiễm HIV đều có nguy cơ lây nhiễm HIV. mặc khác, mức độ nguy cơ là khác nhau, nguy cơ cao nhất là qua đường hậu môn, rồi tiếp đến là qua đường âm đạo và cuối cùng là qua đường miệng. Người nhận tinh dịch có nguy cơ lây nhiễm HIV cao hơn.5.3. Lây truyền HIV từ mẹ sang con. Người mẹ nhiễm HIV có khả năng truyền HIV cho con:- Khi mang thai: HIV từ máu của mẹ nhiễm HIV qua rau thai để vào cơ thể thai nhi.- Khi sinh: HIV từ nước ối, dịch tử cung, dịch âm đạo của mẹ xâm nhập vào trẻ khi sinh (qua niêm mạc mắt, mũi, hậu môn hoặc da xây sát của trẻ trong quá trình đẻ). Khi sinh HIV cũng có khả năng từ trong máu mẹ thông qua các vết loét ở bộ phận sinh dục mẹ mà dính vào cơ thể (niêm mạc) của trẻ sơ sinh.- Khi cho con bú: HIV có khả năng lây qua sữa hoặc qua các vết nứt ở núm vú người mẹ, nhất là khi trẻ đang có tổn thương ở niêm mạc miệng.6. Tính cảm nhiễm và miễn dịch:Cho đến nay người ta vẫn chưa tìm thấy mối liên quan giữa tính cảm nhiễm HIV với chủng tộc. Những người mắc các nhiễm khuẩn lây qua đường tình dục, đặc biệt có loét cơ quan sinh dục hoặc những người có chít hẹp bao quy đầu có tính cảm nhiễm với HIV cao hơn. Đến nay cũng chưa có kết luận nào về khả năng miễn dịch với HIV.7. Các biện pháp phòng, chống dịch7.1. Biện pháp dự phòng– Tuyên truyền giáo dục sức khoẻ: Do đến nay vẫn chưa có thuốc điều trị đặc hiệu và vắc xin phép dự phòng, việc tuyên truyền giáo dục sức khoẻ cho mọi người dân đặc biệt những người có hành vi nguy cơ cao về các nguy cơ và biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV là quan trọng nhất.- Vệ sinh phòng bệnh: Tránh tiếp xúc trực tiếp với máu, dịch cơ thể và dịch sinh dục là nguyên tắc chủ đạo trong dự phòng lây nhiễm HIV. Khi phải tiếp xúc với  máu, dịch tiết hoặc dịch sinh dục, cần áp dụng các biện pháp dự phòng như sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, dùng vật ngăn cách như kính bảo hộ, găng tay, áo choàng khi chăm sóc, ngâm tất cả các đồ sử dụng có dính máu, dịch cơ thể trong dung dịch nước sát trùng trước khi xử lý là các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV có hiệu quả.7.2. Biện pháp chống dịch– Tổ chức:+ rất cần thiết lập hệ thống phòng, chống HIV từ Trung ương đến địa phương để đảm bảo cho mọi người dân được tiếp cận với thông tin và các dịch vụ dự phòng lây nhiễm HIV một cách hiệu quả.+ Song song với các biện pháp dự phòng chủ động, công tác giám sát phát hiện, giám sát trọng điểm, giám sát hành vi và tổ chức báo cáo dịch theo quy định của Bộ Y tế cũng giúp cho công tác phòng, chống HIV/AIDS có hiệu quả.- Chuyên môn:+ Thu dung, cách ly, điều trị bệnh nhân: Người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS không cần phải cách ly khỏi cộng đồng. Phần lớn, các công việc chăm sóc và điều trị cho người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS đều đặn thực Hiện tại gia đình và cộng đồng. Người nhiễm HIV chỉ điều trị tại các bệnh viện khi có biểu hiện nhiễm khuẩn cơ hội hoặc đến khám và điều trị bằng thuốc kháng vi rút theo hẹn của thày thuốc.+ Quản lý người lành mang vi rút, người tiếp xúc: HIV không lây qua các giao tiếp thông thường như bắt tay, ôm hôn xã giao, cùng làm việc, cùng học, ở cùng nhà, cùng ngồi trên phương thuận tiện giao thông, cùng đi chợ, ngồi trong rạp hát, rạp chiếu bóng, ho, hắt hơi, sử dụng chung nhà vệ sinh, buồng tắm, bể bơi công cộng hoặc muỗi và côn trùng khác đốt không làm lây nhiễm HIV. Do vậy, người nhiễm HIV vẫn sinh hoạt và làm việc bình thường. mặc khác, người nhiễm HIV cũng cần áp dụng các biện pháp dự phòng tránh làm lây nhiễm HIV cho người khác như dùng bao cao su khi quan hệ tình dục, không dùng chung các dụng cụ xuyên chích qua da mà chưa được tiệt khuẩn, không cho máu, tinh dịch hay các mô dùng trong ghép tạng. Người chăm sóc bệnh nhân AIDS cũng cần áp dụng các biện pháp dự phòng như tránh tiếp xúc trực tiếp với máu và các dịch tiết, dịch sinh dục của người nhiễm HIV.+ Dự phòng, cho đối tượng nguy cơ cao (thuốc, vắc xin): Hiện tại chưa có vắc xin phép dự phòng lây nhiễm HIV cho bất cứ đối tượng nào kể cả đối tượng có nguy cơ cao. Những người có phơi nhiễm nghề nghiệp với máu có nguy cơ lây nhiễm HIV được khuyến cáo điều trị dự phòng phơi nhiễm bằng thuốc kháng vi rút theo quy định của Bộ Y tế. Phụ nữ nhiễm HIV khi mang thai cũng được khuyến khích và khuyến cáo dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con.+ Xử lý môi trường:Khi trên mặt bàn, mặt sàn bị máu hoặc dịch sinh học của bệnh nhân AIDS giây ra, phải đổ ngập tràn chỗ có máu và dịch đó bằng các dung dịch sát khuẩn như nước Javel, dung dịch có Clo…, để 20 phút sau đó dùng giẻ thấm khô rồi rửa sạch tiếp như bình thường.Đối với các đồ vải có thấm máu và dịch, phải sử dụng kẹp hoặc găng tay để gắp cho vào túi riêng, nếu không có kẹp thì phải gấp phần có máu và dịch vào trong để nếu cầm thì cầm vào chỗ không có máu để cho vào túi, sau đó vận chuyển đến nơi huỷ hoặc nhà giặt. Phải ngâm các đồ vải này trong các hoá chất sát khuẩn 20 phút trước khi xử lý.Đối với các chất thải (Đờm, nước tiểu, phân… có máu hoặc các dịch sinh học như dịch nước báng, dịch màng phổi, dịch não tuỷ…) cũng xử lý tương tự. Đổ ngập tràn vùng chất thải bằng các hoá chất sát khuẩn để 20 phút trước khi đổ vào nơi thải chung.Luôn rửa tay bằng xà phòng trước và sau khi đeo găng, trước và sau khi thăm khám bệnh nhân, sau khi đi vệ sinh hoặc giúp bệnh nhân vệ sinh.7.3. Nguyên tắc điều trị– Điều trị các bệnh nhiễm khuẩn cơ hội được thực hiện bất cứ khi nào có biểu hiện bệnh nhiễm khuẩn cơ hội. mặc khác điều trị bằng kháng retrovirus (ARV) chỉ thực hiện khi có đủ chỉ định.- Điều trị kháng retrovirus là một phần trong tổng thể các biện pháp chăm sóc và hỗ trợ về y tế, tâm lý và xã hội cho người nhiễm HIV.- Bất cứ phác đồ điều trị nào cũng phải có ít nhất 3 loại thuốc ARV (Liệu pháp kháng retrovirus hoạt tính cao: Highly Active Antiretroviral Therapy – HAART)- Sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân là yếu tố quan trọng quyết liệt thành công của điều trị kháng retrovirus.- Các thuốc kháng retrovirus chỉ có tác dụng ức chế sự nhân lên của vi rút mà không chữa khỏi hoàn toàn bệnh AIDS nên người bệnh phải điều trị kéo dài suốt cuộc đời và vẫn phải áp dụng các biện pháp dự phòng để tránh lây truyền vi rút cho người khác.- Người bệnh điều trị kháng retrovirus khi chưa có tình trạng miễn dịch được hồi phục vẫn phải điều trị dự phòng các bệnh nhiễm khuẩn cơ hội.- Người nhiễm HIV chưa có chỉ định điều trị thuốc kháng retrovirus cần được tiếp tục theo dõi về lâm sàng và miễn dịch 3-6 tháng một lần để xem xét tiến triển của bệnh và chỉ định điều trị ARV trong tương lai. 7.4. Kiểm dịch y tế biên giới:Chương trình phòng, chống HIV/AIDS toàn cầu đã được Tổ chức Y tế Thế giới khởi động từ những năm 1987 và Hiện tại Liên hợp quốc đã có Chương trình phối hợp của Liên hợp quốc về HIV/AIDS (UNAIDS) cho công tác phòng, chống HIV/AIDS. một số ít nước trên thế giới vẫn yêu cầu xét nghiệm HIV để cấp thị thực nhập cảnh cho những người đến định cư hoặc sinh sống dài lâu. Tổ chức Y tế Thế giới không khuyến cáo và không ủng hộ biện pháp này. Việt Nam và các nước trong khu vực Đông Nam Á cũng không yêu cầu thực hiện biện pháp này.

Admin



Các câu hỏi về hội chứng aids là đột biến gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê hội chứng aids là đột biến gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết hội chứng aids là đột biến gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết hội chứng aids là đột biến gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết hội chứng aids là đột biến gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về hội chứng aids là đột biến gì


Các hình ảnh về hội chứng aids là đột biến gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tham khảo kiến thức về hội chứng aids là đột biến gì tại WikiPedia

Bạn nên xem thêm nội dung về hội chứng aids là đột biến gì từ trang Wikipedia tiếng Việt.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://vietvan.vn/hoi-dap/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://vietvan.vn/hoi-dap/

Related Posts

About The Author

Add Comment