Sốc phản vệ là gì? Triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán, biến chứng

Cập nhật ngày 12/09/2022 bởi mychi

Bài viết Sốc phản vệ là gì? Triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán, biến chứng thuộc chủ đề về Giải Đáp Thắc Mắt thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng Viết Văn tìm hiểu Sốc phản vệ là gì? Triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán, biến chứng trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem nội dung về : “Sốc phản vệ là gì? Triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán, biến chứng”

Đánh giá về Sốc phản vệ là gì? Triệu chứng, nguyên nhân, chẩn đoán, biến chứng


Xem nhanh
VTC16 | Phản vệ là phản ứng dị ứng cấp tính, xuất hiện sau vài giây, vài phút hoặc vài giờ sau khi tiếp xúc với thành phần của vaccine Covid-19. Để có biện pháp xử lý kịp thời, người sau tiêm vắc xin Covid-19 cần nhận biết được dị ứng, phản vệ sau tiêm qua một số dấu hiện điển hình.
#vtc16 #covid #socphanvevacxin

Kênh Nông nghiệp - Nông thôn - Nông dân (VTC16)
* Đăng ký: https://www.youtube.com/channel/UCZnhEIF8a5Uv4GMPwT6KafQ?sub_confirmation=1
* Facebook: https://www.facebook.com/kenhvtc16
* Website: https://portal.vtc.gov.vn/kenh/vtc16
* Tổng Đài: 1900.6145
* Địa chỉ: Tầng 8, Tòa nhà VTC số 23 Lạc Trung, Quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội.

Sốc phản vệ là tình trạng phản ứng dị ứng cấp tính có thể gây ra gây ảnh hưởng tính mạng nếu không được xử lý kịp thời. Vậy tác nhân gây sốc phản vệ là gì? Cơ chế nảy sinh như thế nào? Cách xử trí ra sao… Tất cả những thông tin cần biết về sốc phản vệ sẽ xuất hiện trong bài viết dưới đây.

Theo nghiên cứu tại 1 số khu vực trên thế giới, tỷ lệ sốc phản vệ ở châu Âu khoảng 4 – 5 trường hợp/10.000 dân, Mỹ là 58,9 ca/100.000 dân. Việt Nam dù chưa có số liệu nghiên cứu nhưng thực tế ghi nhận có thường xuyên ca bệnh tử vong do sốc phản vệ.

soc phan ve la gi

Sốc phản vệ là một phản ứng dị ứng nghiêm trọng, có khả năng đe dọa tính mạng. Phản ứng này có khả năng xảy ra trong vài giây hoặc vài phút sau khi tiếp xúc với các chất dị ứng (dị nguyên) như thuốc, nhựa mủ, nọc độc, ong chích, kiến đốt,… hay là những thực phẩm hàng ngày không phù hợp với cơ thể mỗi người như: Cá ngừ, tôm, tép, ốc, trứng, sữa, khoai tây, đậu phộng, đậu nành,…. (1)

Sốc phản vệ khiến hệ thống miễn dịch giải phóng một lượng lớn chất trung gian hóa học có khả năng gây ra sốc, huyết áp Giảm đột ngột, bít hẹp đường thở, gây khó thở. 

Các dấu hiệu nhận biết tình trạng sốc phản vệ bao gồm: Cảm giác chóng mặt, xây xẩm đứng không vững do hạ huyết áp, tay chân lạnh, vã mồ hôi, mạch nhénh nhẹ khó bắt, phát ban trên da; buồn nôn và nôn. Sốc phản vệ cần được cấp cứu khẩn cấp để tránh nguy cơ có thể gây tử vong.

Phản ứng dị ứng được chia thành 4 loại: 

Tuýp I, hoặc qua trung gian miễn dịch IgE; tuýp II và III, không phụ thuộc vào IgE miễn dịch; tuýp IV hoặc nonimmunologic. Hầu hết bệnh nhân sốc phản vệ đều có khả năng bị phản ứng loại I, nhưng không xác định được tác nhân.

  • Phản ứng phản vệ: Qua trung gian IgE miễn dịch

Với phản ứng qua trung gian IgE miễn dịch, người bệnh không có dấu hiệu lâm sàng khi tiếp xúc với chất gây ra dị ứng ban đầu. Khi tiếp xúc lại với chất gây dị ứng đó, các kháng thể IgE được tạo ra và chất gây ra dị ứng tạo thành một “cầu nối” kết nối chéo các kháng thể này thông qua một thụ thể có ái lực cao, FcεRI, nằm trong màng của tế bào mast và basophil. Sau khi liên kết, các kháng thể gây ra sự hoạt hóa 2 tế bào này và tạo ra phản ứng quá mẫn ngay lập tức.

Chính sự liên kết chéo gây ra sự thay đổi màng tế bào, tạo ra dòng chảy các ion canxi vào tế bào, bắt đầu quy trình phân hủy và phóng ra các chất trung gian (như histamine). Tương tác giữa chất trung gian và cơ quan vật chủ làm xuất hiện các dấu hiệu lâm sàng.

  • Phản ứng phản vệ: Miễn dịch IgE độc lập

Ngược lại, các phản ứng không phụ thuộc vào IgE trong miễn dịch xảy ra thông qua quy trình sản xuất kháng thể IgG. Sự tiếp xúc với chất gây dị ứng kích hoạt liên kết kháng nguyên IgG với các thụ thể có ái lực thấp trên đại thực bào. Các phản ứng không phụ thuộc vào IgE cần tiếp xúc với kháng nguyên thường xuyên hơn và không gây ra tình trạng giải phóng histamin như một chất trung gian. Hơn nữa, các phản ứng không phụ thuộc vào IgE, không bắt buộc tiếp xúc với chất gây ra dị ứng ban đầu.

  • Phản ứng phản vệ: Sốc phản vệ không bình thường

Các phản ứng không bình thường có khả năng xảy ra thông qua sự phân hủy tế bào mast và các tế bào ưa bazơ mà không có các globulin miễn dịch. Chúng có thể được kích hoạt bởi các tác động bên ngoài, chẳng hạn như các yếu tố vật lý, thuốc và độc tố bên ngoài.

Các triệu chứng của tình trạng sốc phản vệ thường xảy ra không quá vài phút sau khi tiếp xúc với dị nguyên. tuy nhiên, đôi khi tình trạng này có thể xảy ra sau khi tiếp xúc dị nguyên nửa giờ hoặc lâu hơn. Trong một số trường hợp hiếm hoi, tình trạng sốc phản vệ có khả năng xảy ra thường xuyên giờ sau đó. Các dấu hiệu và triệu chứng sốc phản vệ thông thường bao gồm: (2)

trieu chung soc phan ve

Những nốt mẩn đỏ trên da là biểu hiện thường thấy của phản ứng dị ứng

  • Các phản ứng trên da, bao gồm phát ban, ngứa, da nóng bừng hoặc nhợt nhạt; ngứa ran bàn tay, bàn chân, miệng hoặc da đầu;
  • Huyết áp thấp (hạ huyết áp);
  • Co thắt đường thở, sưng cổ họng, gây tình trạng thở khò khè, khó thở;
  • Mạch nhénh nhẹ khó bắt;
  • Buồn nôn, nôn mửa hoặc tiêu chảy;
  • Chóng mặt hoặc ngất xỉu;
  • Đột nhiên cảm thấy quá nóng;
  • Cảm giác như có một khối u trong cổ họng hoặc cảm thấy khó nuốt;
  • Đau bụng;
  • Chảy nước mũi và hắt hơi;
  • Sưng lưỡi/môi;
  • Cảm giác như có điều gì đó không ổn đang xảy ra với cơ thể.

Nếu cho rằng mình bị sốc phản vệ, hãy tìm kiếm sự giúp đỡ từ y tế ngay lập tức để tránh gặp phải các biểu hiện nặng nề hơn bao gồm:

  • Tình trạng khó khăn khi thở;
  • Chóng mặt;
  • Lú lẫn;
  • Cảm giác tình trạng yếu ớt xảy đến đột ngột;
  • Mất dần ý thức.

Hệ thống miễn dịch tạo ra các kháng thể chống lại các chất lạ. Phản ứng này có ích cho cơ thể khi chất lạ đó gây ra hại, chẳng hạn như một số vi khuẩn hoặc virus. tuy nhiên, hệ thống miễn dịch của một vài người lại phản ứng quá mức với các chất thường không gây ra ra phản ứng dị ứng.

Các triệu chứng dị ứng thường không đe dọa đến tính mạng, nhưng phản ứng dị ứng nghiêm trọng có thể gây ra tình trạng sốc phản vệ. Ngay cả khi ai đó xảy ra phản ứng phản vệ nhẹ trước đây, vẫn có nguy cơ bị phản vệ tệ hơn sau một lần tiếp xúc với chất gây dị ứng.

Các nguyên nhân gây sốc phản vệ phổ biến nhất ở trẻ em là dị ứng thực phẩm, chẳng hạn như đậu phộng, hạt óc chó, tôm, động vật có vỏ, đậu nành, mè, sữa,…. 

Đối với người lớn, ngoài nguyên nhân từ thực phẩm gây sốc phản vệ giống trẻ em, những nguyên nhân khác bao gồm:

  • một vài loại thuốc, bao gồm thuốc kháng sinh, aspirin, thuốc Giảm đau không kê toa hay thuốc cản quang tĩnh mạch (IV) được dùng trong một số xét nghiệm hình ảnh,…;
  • Côn trùng đốt như ong bắp cày, kiến ​​lửa,…;
  • Mủ cao su;
  • Mặc dù không phổ biến, một vài người lại bị sốc phản vệ do tập thể dục nhịp điệu (chạy bộ), thậm chí hoạt động thể chất cường độ thấp hơn (đi bộ…). Ăn một số loại thực phẩm trước khi tập thể dục hoặc tập thể dục khi thời tiết nóng, lạnh hoặc ẩm ướt cũng có liên quan đến phản vệ ở một số người. Bạn có thể hỏi ý kiến bác sĩ về vấn đề của mình để có biện pháp phòng ngừa trước khi tập thể dục.
nguyen nhan soc phan ve

Thực phẩm là nguyên nhân hàng đầu gây ra những phản ứng dị ứng nghiêm trọng kéo theo tình trạng sốc phản vệ

Nếu không tìm ra nguyên nhân gây dị ứng, bạn có thể thực hiện xét nghiệm dị ứng để biết được dị nguyên gây dị ứng. tuy nhiên, trong số ít trường hợp, người bị dị ứng không tìm được nguyên nhân gây ra ra sốc phản vệ hay còn gọi là sốc phản vệ vô căn.

Dù không có thường xuyên nguy cơ gây ra sốc phản vệ nhưng một số yếu tố sau có thể làm tăng nguy cơ: 

  • Từng bị sốc phản vệ trong quá khứ. Nếu bạn đã bị sốc phản vệ một lần, nguy cơ gặp phải phản ứng nghiêm trọng này sẽ tăng lên. Mức độ phản ứng trong tương lai sẽ nghiêm trọng hơn so với lần đầu.
  • Dị ứng hoặc hen suyễn. Nếu mắc phải một trong hai tình trạng này đều đặn có nguy cơ bị sốc phản vệ cao hơn.
  • một vài yếu tố nguy cơ khác bao gồm bệnh tim và sự tích tụ bất thường của một loại tế bào bạch cầu nhất định (chứng tăng sản bào).

Sốc phản vệ là tình trạng y khoa vô cùng nghiêm trọng, có khả năng gây ra tình trạng tắc đường thở, khiến bạn không thở được. Đây cũng là yếu tố khiến tim có thể ngừng đập do huyết áp Giảm khiến tim không nhận đủ oxy.

Những điều này có khả năng góp phần vào các biến chứng tiềm ẩn như (3):

  • Tổn thương não;
  • Suy thận;
  • Sốc tim (tim không bơm đủ máu cho cơ thể);
  • Loạn nhịp tim, nhịp tim quá nhénh hoặc quá chậm;
  • Nhồi máu cơ tim;
  • Tử vong.

Trong một số trường hợp, các tình trạng y tế tiềm ẩn, vốn có trước đó sẽ trở nên tồi nặng hơn, bao gồm các vấn đề của hệ hô hấp (như bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, khiến người bệnh đối diện nguy cơ thiếu oxy, nhanh chóng gây ra những tổn thương không thể phục hồi cho phổi); làm tăng nặng các triệu chứng ở người bị bệnh đa xơ cứng… do đó, điều trị sốc phản vệ càng sớm, người bệnh càng ít gặp phải các biến chứng nguy hiểm.

Căn cứ vào dấu hiệu nhận biết sốc phản vệ sau khi tiếp xúc với dị nguyên trên, nếu thấy xuất hiện các biểu hiện như các nốt đỏ trên da, hạ huyết áp, khó thở,… bạn hãy nhanh chóng yêu cầu sự trợ giúp y tế khẩn cấp. Bởi quy trình chuyển biến từ biểu hiện lâm sàng đến nguy cơ gây tử vong diễn ra rất nhénh, từ vài giây, vài phút đến vài giờ.

Với phương pháp chẩn đoán lâm sàng, bác sĩ sẽ nhanh chóng xem xét các biểu hiện trên da, niêm mạc, tình trạng hô hấp, huyết áp,… Những biểu hiện này có khả năng xuất hiện độc lập hoặc phối hợp với nhéu. tuy nhiên, việc chẩn đoán cũng cần phân biệt phản ứng gây ra bởi các dị nguyên hay do thuốc mê, phẫu thuật. 

Nếu thấy các dấu hiệu như tụt huyết áp kéo dài nhưng không đáp ứng với thuốc vận mạch không rõ tác nhân, hay điều kiện khi hít thở và kèm theo co thắt phế quản,… thì có khả năng chẩn đoán là phản ứng phản vệ.

Mức độ của phản ứng diễn ra từ nhẹ (biểu hiện da, niêm mạc) đến nặng (ngừng tuần hoàn). tuy nhiên, các biểu hiện da, niêm mạc có khả năng không xảy ra hoặc xuất hiện sau khi giai đoạn tụt huyết áp và hồi phục tưới máu da. Cũng có trường hợp người bệnh có biểu hiện nhịp tim chậm trong khi huyết áp tụt. 

Cần chẩn đoán phân biệt phản ứng phản vệ với cơn hen, tràn khí màng phổi dưới áp lực, thiếu máu cơ tim, tắc động mạch phổi, thiếu hụt men esterase C1, tiêu đại thực bào và rối loạn đại thực bào đơn dòng.

Nếu cảm thấy cơ thể đang rơi vào tình trạng sốc phản vệ nghiêm trọng, hãy lập tức gọi sản phẩm cấp cứu khẩn cấp. Trường hợp có sẵn ống tiêm tự động epinephrine (EpiPen), có khả năng dùng ngay khi các biểu hiện đầu tiên xuất hiện. không nên cố gắng uống bất kỳ loại thuốc nào nếu đang trong tình trạng khó thở. mặc khác, sau đó nạn nhân vẫn cần phải được chăm sóc y tế bởi có khả năng xảy ra tình trạng tái phát phản ứng sau khi thuốc hết tác dụng.

Trong lúc chờ cấp cứu, hãy đưa nạn nhân vào một vị trí thoải mái, cải thiện chân để máu lưu thông đến các bộ phận quan trọng; nếu nạn nhân có EpiPen, hãy dùng nó ngay lập tức; thực hiện hô hấp nhân tạo nếu họ ngưng thở cho đến khi cấp cứu đến.

Xem chi tiết cách xử lý sốc phản vệ tại bài viết: Cấp cứu sốc phản vệ – quy trình xử lý theo đúng trình tự từng bước.

Nếu từng xảy ra dị ứng nghiêm trọng hoặc đã bị sốc phản vệ trong quá khứ, bạn cần phải cố gắng ngăn chặn các đợt tái phát trong tương lai bằng cách (4):

tìm hiểu thông tin về tác nhân khiến bạn bị dị ứng và xảy ra sốc phản vệ để tránh tiếp xúc các dị nguyên gây ra phản ứng trong tương lai.

Nếu bạn đã bị sốc phản vệ và chưa được chẩn đoán bị dị ứng, bạn nên đến các cơ sở y tế có chuyên khoa Xét nghiệm để thực hiện gói xét nghiệm dị ứng nhằm xác định tác nhân gây ra tình trạng dị ứng cho cơ thể.

xet nghiem chan doan soc phan ve

Các xét nghiệm dị ứng giúp phát hiện dị nguyên gây dị ứng, phòng tránh nguy cơ sốc phản vệ

Các xét nghiệm thường được áp dụng là: 

  • Test lẩy da: Một lượng nhỏ chất gây dị ứng được chích vào da để xem có phản ứng dị ứng xảy ra hay không.
  • Xét nghiệm máu: Một mẫu máu sẽ được lấy để kiểm tra phản ứng của nó với chất gây ra dị ứng nghi ngờ.
  • Test áp bì (Patch test): Là một thử nghiệm nhằm xác định liệu có một chất cụ thể gây viêm dị ứng trên da của người bệnh. Phương pháp này áp dụng cho những người bị nghi ngờ mắc phải viêm da tiếp xúc dị ứng (allergic contact dermatitis) hoặc atopic dermatitis.
  • Test trong da hay test nội bì (Intradermal skin test): Test nội bì có nguy cơ gây ra sốc phản vệ cao hơn test lẩy da nên phải được thực hiện ở các bệnh viện chuyên khoa và có điều kiện cấp cứu sốc phản vệ.
  • Test khẳng định (Challenge test): Mục đích của phương pháp này là loại trừ tác nhân gây ra dị ứng thuốc không rõ ràng, loại trừ phản ứng chéo giữa các loại thuốc hay xác định tình trạng dị ứng thuốc.

Xem xét những thực phẩm bạn đã ăn, thuốc đã uống, những dấu tích trên da khi bị côn trùng cắn,… để xác định được tác nhân gây ra tình trạng sốc phản vệ. Điều này sẽ giúp ích cho bác sĩ trong quy trình chẩn đoán và điều trị.

Thực phẩm

Bạn có khả năng hạn chế nguy cơ tiếp xúc với chất gây dị ứng thực phẩm bằng cách:

  • Kiểm tra nhãn và thành phần thực phẩm.
  • Thông báo cho nhân viên nhà hàng biết loại thực phẩm bạn bị dị ứng để đầu bếp không đưa vào món ăn của bạn.
  • Ghi nhớ một vài loại thực phẩm có khả năng chứa chất gây dị ứng tiềm ẩn như nước sốt có chứa thành phần đậu phộng, lúa mì,…

Côn trùng đốt

Bạn có thể hạn chế nguy cơ bị côn trùng đốt bằng cách thực hiện các biện pháp phòng ngừa cơ bản sau:

  • Di chuyển chậm rãi, không hoảng sợ hay xua tay khi thấy ong bắp cày, ong vò vẽ,…
  • dùng thuốc chống côn trùng nếu vận hành nhiều ngoài trời, nhất là vào mùa Hè.
  • Uống hết lon nước hoặc che đậy khi nước còn dư bởi côn trùng xung quanh có khả năng bò vào trong lon và đốt vào miệng khi bạn uống.
  • Không đi lại quanh sân vườn, sân nhà bằng chân đất.

một số cơ sở y tế có chuyên khoa dị ứng cũng có khả năng đưa ra phương pháp điều trị đặc biệt giúp giải mẫn cảm với vết đốt của côn trùng (liệu pháp miễn dịch).

các loại thuốc

Nếu bị dị ứng với một số loại thuốc, hãy hỏi bác sĩ về những loại thuốc có khả năng thay thế như:

  • Penicillin có thể thay bằng nhóm kháng sinh macrolid.
  • Thuốc chống viêm không steroid (NSAID) như ibuprofen, aspirin có khả năng thay bằng paracetamol. mặc khác, bạn cần đọc kỹ thành phần của thuốc để đảm bảo chúng không chứa NSAID.
  • Thuốc gây ra mê toàn thân có thể thay bằng loại thuốc khác; hoặc có khả năng thay thế bằng phương pháp gây tê cục bộ hay tiêm ngoài màng cứng.
  • Nói với bác sĩ về loại thuốc bạn bị dị ứng vì có thể bác sĩ không biết về chúng.

Mang theo bút tiêm adrenalin tự động

Bạn có thể được kê đơn dùng bút tiêm tự động adrenaline nếu có nguy cơ rơi vào tình trạng sốc phản vệ. Nếu thuộc đối tượng này, bạn cần ghi nhớ những điều sau:

  • Luôn mang theo 2 liều adrenalin. Bạn cũng có khả năng đeo thẻ hoặc vòng đeo tay khẩn cấp chứa đầy đủ thông tin cụ thể về bệnh dị ứng của bản thân và số điện thoại liên lạc trong trường hợp khẩn cấp.
  • Đảm bảo bạn và những người xung quanh (thân nhân, bạn bè, đồng nghiệp) biết cách dùng bút tiêm tự động khi bạn bị phản ứng. 
  • Nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp có thể làm cho thuốc adrenaline kém hiệu quả. do đó, nhớ đừng nên để bút tiêm trong tủ lạnh, khu vực không khí quá nóng như hộc đựng đồ của xe máy, xe hơi,…
  • nhiều kiểm tra hạn sử dụng và thay mới bút tiêm trước khi hết hạn để đảm bảo về có khả năng bảo vệ của thuốc. Bạn có thể đăng ký sản phẩm nhắc nhở khi đến hạn thay bút tiêm mới tại nơi bán.
  • không nên trì hoãn việc tiêm nếu bạn nghĩ rằng đang có một tình trạng sốc phản vệ xảy ra với mình, dù những triệu chứng ban đầu nhẹ. Việc dùng adrenaline sớm (sau đó phát hiện chỉ là một báo động giả) vẫn tốt hơn so với việc trì hoãn điều trị cho đến khi chắc chắn về tình trạng sốc phản vệ xảy ra.

Nếu con bạn có sử dụng ống tiêm tự động, chúng sẽ cần đổi sang liều lượng dành cho người lớn khi chúng đạt 30kg (khoảng 0,3mg).

Có rất thường xuyên câu hỏi xoay quanh tình trạng này, một trong số đó là:

Phản ứng phản vệ bắt đầu nhénh chóng sau khi ai đó tiếp xúc với chất gây ra dị ứng. Khi ấy cơ thể tiết ra rất thường xuyên hóa chất nhằm chống lại chất gây ra dị ứng. Những hóa chất này tạo ra một chuỗi phản ứng các triệu chứng. Những triệu chứng có khả năng bắt đầu trong vài giây, vài phút, hoặc lâu hơn. Những triệu chứng từ nhẹ đến nặng có khả năng bao gồm: Tức ngực hoặc khó chịu, khó thở, ho, buồn nôn hoặc nôn mửa, tiêu chảy, đau bụng, khó nuốt, đỏ da, ngứa, nói lắp, lú lẫn. Những triệu chứng ban đầu có thể nhanh chóng chuyển sang nghiêm trọng hơn nếu không được điều trị kịp thời.

Người có cơ địa dị ứng là nhóm nguy cơ hàng đầu dễ gặp phải tình trạng sốc phản vệ. Nhóm người này bao gồm người dị ứng với thực phẩm, thuốc, đồ dùng, côn trùng,… Vì vậy, nếu đã xác định được tác nhân gây dị ứng, bạn nên tránh xa những dị nguyên đó. 

Nếu như tình trạng dị ứng với những biểu hiện thông thường như nổi mẩn, ngứa ngáy ngoài da,… thì sốc phản vệ gây ra ra những vấn đề nghiêm trọng hơn cho thể trạng, bao gồm cả sốc và nguy cơ tử vong. Đây cũng chính là sự khác biệt giữa phản ứng dị ứng và sốc phản vệ. ngoài ra, sự khác biệt còn ở vị trí biểu hiện dị ứng.

Với tình trạng sốc phản vệ, mức độ nặng nhẹ phụ thuộc vào các yếu tố như tình trạng phản ứng dị ứng của mỗi người, số lượng chất dị ứng, tốc độ hấp thụ dị nguyên và thời gian chờ thực hiện điều trị cấp cứu. Vì vậy, để Giảm nhẹ biến chứng, người bị dị ứng có dấu hiệu sốc phản vệ cần nhénh chóng được đưa đến cơ sở y tế gần nhất để thực hiện các bước cấp cứu, Giảm những nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề.



Các câu hỏi về dị ứng phản vệ độ 2 là gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê dị ứng phản vệ độ 2 là gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé

Related Posts

About The Author

Add Comment