Bội Phong – Tập thơ Khổng Tử đặc sắc đi cùng năm tháng phần 2



Trên nền văn học Trung Quốc, những bài luôn được bạn đọc quan tâm và tìm kiếm. Ông là một người được bạn đọc yêu mến bởi sự miệt mài trong thơ ca của mình. Khổng Tử khéo léo truyền tải những tư tưởng của mình đến cho đông đảo bạn đọc qua những bài thơ giàu giá trị. Các tư tưởng của Khổng Tử đã được phát triển thành một hệ thống triết học được gọi là Khổng giáo. Tư tưởng của ông còn được xem là một đạo giáo của loài người, nhất là dân tộc Trung Quốc . Nào, ngay bây giờ mình cùng nhau cảm nhận những thi phẩm xuất sắc của ông nhé!

Khải phong 1 凱風 1 • Gió nam 1

凱風自南,
吹彼棘心。
棘心夭夭,
母氏劬勞。

Khải phong 1

Khải phong tự nam,
Xuy bỉ cức tâm.
Cức tâm yêu yêu,
Mẫu tâm cù liêu (lao).

Dịch nghĩa

Ngọn gió nam doanh dưỡng vạn vật từ phương nam đưa đến,
Thổi vào những gai nhọn của bụi cây gai kia.
Gai nhọn còn tơ non (nhờ gió nam ấy mà lớn lên, cũng như mẹ nuôi đàn con cho lớn).
Thì lòng mẹ cực nhọc rất nhiều.

Khải phong 2 凱風 2 • Gió nam 2

凱風自南,
吹彼棘薪。
母氏聖善,
我無令人。

Khải phong 2

Khải phong tự nam,
Xuy bỉ cức tân.
Mẫu thị thánh thiện,
Ngã vô lệnh nhân.

Dịch nghĩa

Ngọn gió nam doanh dưỡng vạn vật từ phương nam đưa đến,
Thổi đến bụi gai đã lớn (chặt làm củi được).
Mẹ thì sáng suốt hiền lành,
Còn ta làm con thì chẳng có ai giỏi cả

Khải phong 3 凱風 3 • Gió nam 3

爰有寒泉,
在浚之下。
有子七人,
母氏勞苦。

Khải phong 3

Viên hữu hàn tuyền,
Tại Tuấn chi hộ (hạ).
Hữu tử thất nhân,
Mẫu thị lao khổ.

Dịch nghĩa

Nơi đó có dòng suối lạnh,
Ở dưới ấp Tuấn nước Vệ (còn có thể doanh dưỡng hữu ích cho người ở vùng ấy).
Huống chi có bảy đứa con,
Mẹ chúng ta phải lao khổ (vì chúng ta làm con không phụng sự được gì).

Khải phong 4 凱風 4 • Gió nam 4

睍睆黃鳥,
載好其音。
有子七人,
莫慰母心。

Khải phong 4

Diễn quan (hiễn hoãn) hoàng điều,
Tái hảo kỳ âm.
Hữu tử thất nhân,
Mạc uỷ mẫu tâm.

Dịch nghĩa

Chim hoàng ly hót trong trẻo hoà dịu và uyển chuyển,
Còn lảnh lót tiếng hót (để đẹp tai người).
Huống chi chúng ta có bảy đứa,
Lại không an ủi được lòng mẹ chúng ta!

Hùng trĩ 1 雄雉 1 • Chim trĩ 1

雄雉于飛,
泄泄其羽。
我之懷矣,
自詒伊阻。

Hùng trĩ 1

Hùng trĩ vu phi,
Dị dị kỳ vũ.
Ngã chi hoài hĩ!
Tự di y trở.

Dịch nghĩa

Chim trĩ trống lướt bay,
Cánh bay chậm chạp đường hoàng tự đắc.
Việc mà ta nhớ nghĩ,
Là chàng (đi làm ở ngoài xa) đã để lại cho ta niềm cách trở xa xôi.

Hùng trĩ 2 雄雉 2 • Chim trĩ 2

雄雉于飛,
下上其音。
展矣君子,
實勞我心。

Hùng trĩ 2

Hùng trĩ vu phi,
Há thướng kỳ âm.
Triển hĩ quân tử!
Thực lao ngã tâm.

Dịch nghĩa

Chim trĩ trống lướt bay,
Đã bổng trầm tiếng hót.
Thành thật thay chàng quân tử!
Thật đã làm lòng ta lao nhọc.

Hùng trĩ 3 雄雉 3 • Chim trĩ 3

瞻彼日月,
悠悠我思。
道之云遠,
曷云能來?

Hùng trĩ 3

Chiêm bỉ nhật nguyệt,
Du du ngã tỵ (tư).
Đạo chi vân viễn,
Hạt vân năng ly (lai).

Dịch nghĩa

Tháng ngày qua lại (mà biết chàng đi phục dịch ở xa đã lâu rồi).
Cho nên ta tưởng nhớ xa xôi.
Đường đi nói là xa tít,
Làm sao ta có thể đi đến được ?

Hùng trĩ 4 雄雉 4 • Chim trĩ 4

百爾君子,
不知德行。
不忮不求,
何用不臧。

Hùng trĩ 4

Bách nhĩ quân tử,
Bất tri đức hàng (hạnh).
Bất chi bất cầu,
Hà dụng bất tang ?

Dịch nghĩa

Phàm là quân tử (chồng),
Há lại không biết đức hạnh hay sao ?
Nếu chàng không có lòng nguy hại và không tham lam,
Thì sao lại không lương thiện được ?

Bào hữu khổ diệp 1 匏有苦葉 1 • Bầu có lá đắng 1

匏有苦葉,
濟有深涉。
深則厲,
淺則揭。

Bào hữu khổ diệp 1

Bào hữu khổ diệp,
Tế hữu thâm thiệp.
Thâm tắc lệ,
Thiển tắc khế.

Dịch nghĩa

Bầu có lá đắng (chưa già, chưa có thể lấy vỏ đem phơi khô để đeo vào mình mà lội nước).
Chỗ qua sông này phải lội sâu.
Sâu thì cứ mặc áo mà lội,
Cạn thì xắn áo lên mà đi qua.

Bào hữu khổ diệp 2 匏有苦葉 2 • Bầu có lá đắng 2

有瀰濟盈,
有鷕雉鳴。
濟盈不濡軌,
雉鳴求其牡。

Bào hữu khổ diệp 2

Hữu mễ tế doanh,
Hữu diễu trĩ minh.
Tế doanh bất nhu cửu (quỷ).
Trĩ minh cầu kỳ mẫu.

Dịch nghĩa

Chỗ đi qua nước sông lại đầy,
Chim trĩ mái kêu lên tìm bạn.
Đi qua chỗ nước đầy mà cho rằng chẳng ướt đầu trục bánh xe (ý nói chẳng đắn đo lễ nghĩa, phạm điều loạn luân dâm dật mà chẳng tự biết).
Chim trĩ mái kêu lên để tìm con thú đực (chớ chẳng phải tìm con chim trống), ý nói rằng chẳng đáng làm vợ chồng mà lại phạm lễ để tìm lấy nhau.

Bào hữu khổ diệp 3 匏有苦葉 3 • Bầu có lá đắng 3

雝雝鳴雁,
旭日始旦。
士如歸妻,
迨冰未泮。

Bào hữu khổ diệp 3

Ung ung minh nhạn
Húc nhật thuỷ đán.
Sĩ như quy thê,
Đãi băng vị phán.

Dịch nghĩa

Chim nhạn kêu ung ung (được dùng trong lễ nạp thái).
Lúc trời vừa tang tảng sáng.
Nếu anh rước vợ về nhà
Nên lo kịp lễ cưới vào lúc nước đá chưa tan.

Bào hữu khổ diệp 4 匏有苦葉 4 • Bầu có lá đắng 4

招招舟子,
人涉卬否。
人涉卬否,
卬須我友。

Bào hữu khổ diệp 4

Thiều thiều chu tỉ (tử)
Nhân thiệp ngang bĩ (phủ)
Nhân thiệp ngang bĩ (phủ)
Ngang tu ngã hĩ (hữu).

Dịch nghĩa

Người lái đò kêu gọi khách đi,
Mọi người đều đi qua, còn tôi thì không,
Mọi người đều đi qua, còn tôi thì không,
Tôi phải chờ bạn của tôi gọi tôi (thì tôi mới chịu theo cùng).

Cốc phong 1 穀風 1 • Gió đông 1

習習穀風,
以陰以雨。
黽勉同心,
不宜有怒。
采葑采菲,
無以下體。
德音莫違,
及爾同死。

Cốc phong 1

Tập tập cốc phong,
Dĩ âm dĩ vũ.
Mẩn miễn đồng tâm,
Bất nghi hữu nụ (nộ).
Thái phong thái phĩ,
Vô dĩ hạ thể.
Đức âm mạc vi,
Cập nhĩ đồng tử.

Dịch nghĩa

Gió đông điều hòa thoang thoảng,
Cho nên mây che âm u và mưa tuôn xuống.
Vợ chồng gắng sức đồng tâm với nhau,
Không nên có lúc giận dữ nhau.
Đi hái rau phong rau phĩ.
Không nên câu nệ vì cái rễ (chẳng vì cái rễ dở mà bỏ đi cái cọng ngon)
Tiếng tốt không bao giờ trái nghịch,
Để ở với chàng cho đến lúc cùng chết một lượt.

Cốc phong 2 穀風 2 • Gió đông 2

行道遲遲,
中心有違。
不遠伊邇,
薄送我畿。
誰謂荼苦?
其甘如薺。
宴爾新昏,
如兄如弟。

Cốc phong 2

Hành đạo trì trì
Trung tâm hữu vi
Bất viễn y nhĩ,
Bạc tống ngã kỳ.
Thuỳ vị đồ khổ ?
Kỳ cam như tể.
Yến nhĩ tân hôn,
Như huynh như đệ.

Dịch nghĩa

Ta đi trên đường chậm chậm,
Mà lòng ta có niềm trái ngược, không nỡ bước mau.
(Ta đi ra, chàng đưa tiễn) không xa mà rất gần.
Chỉ đưa ta đến trong cửa mà thôi.
Ai nói rằng rau đồ đắng ?
(Suy ra) rau đồ còn ngọt như rau tể vậy (vì nỗi đắng cay của ta bị đuổi bỏ còn nhiều hơn cái đắng của rau đồ).
Chàng vui thú với vợ mới.
Thân thiết như anh em mà không thương xót đến ta.

Cốc phong 3 穀風 3 • Gió đông 3

涇以渭濁,
湜湜其止。
宴爾新昏,
不我屑以。
毋逝我梁,
毋發我笱。
我躬不閱,
遑恤我後。

Cốc phong 3

Kinh dĩ Vị trọc,
Thực thực kỳ chỉ,
Yến nhĩ tân hôn,
Bất ngã tiết dĩ,
Vô thệ ngã lương.
Vô phát ngã cẩu,
Ngã cung bất duyệt.
Hoàng tuất ngã hậu.

Dịch nghĩa

Vì có sống vị mà sông Kinh mới thấy đục,
Nhưng nhánh sông chảy tách ra (nước chảy chậm hơn) vẫn có chỗ trong.
Chàng vui duyên với vợ mới,
Lại cho là ta chẳng sạch sẽ (như sông Kinh đục) để bỏ ta.
Chớ đi trên bờ chắn cá của ta,
Chớ mở cái đó bắt cá của ta (nàng ghen giận không cho người vợ mới của chồng vào chỗ nàng ở, làm những việc của nàng làm).
Nhưng thân ta còn không được dung dưỡng thay!
Thì còn có rảnh rang chi mà thương xót đến những nỗi sau này (khi ta đã ra đi rồi).

Cốc phong 4 穀風 4 • Gió đông 4

就其深矣,
方之舟之。
就其淺矣,
泳之游之。
何有何亡?
黽勉求之。
凡民有喪,
匍匐救之。

Cốc phong 4

Tựu kỳ thâm hĩ!
Phương chi chu chi,
Tựu kỳ thiển hĩ!
Vịnh chi du chi,
Hà hữu hà vong
Mẫn miễn cầu chi,
Phàm dâu hữu tang,
Bồ bộc (bặc) cứu chi.

Dịch nghĩa

Đến chỗ nước sâu,
Thì đi bằng bè hay bằng thuyền.
Đến chỗ nước cạn,
Thì lặn hay lội mà qua.
Không kể thức gì còn hay mất,
Ta đều gặng gượng tìm cho ra.
Phàm khi dân trong xóm làng có việc tang tóc,
Ta đều gấp rút lo cứu đỡ cho.

Cốc phong 5 穀風 5 • Gió đông 5

不我能慉,
反以我為讎。
既阻我德,
賈用不售。
昔育恐育鞫,
及爾顛覆。
既生既育,
比予于毒。

Cốc phong 5

Bất ngã năng súc,
Phản dĩ ngã vi thù.
Ký trở ngã đức,
Cổ dụng bất thụ.
Tích dục khủng dục cúc,
Cập nhĩ điên phúc,
Ký sinh ký dục,
Tỷ dư vu độc.

Dịch nghĩa

Chàng không nuôi dưỡng được em,
Mà ngược lại coi em như cừu thù.
Chàng từ khước, cự tuyệt điều hay việc phải của em (cho nên tuy lao nhọc làm việc như thế mà em vẫn không được chàng đoái dùng đến).
Cũng như đem vật ra bán mà chẳng được ai mua.
Nhớ lại xưa kia, sống chung với nhau, chúng ta lo sợ cho lẽ sống của chúng ta phải cùng dứt,
Mà em với chàng phải đến cản khốn đốn ngửa nghiêng,
Nay sinh sống yên rồi,
Chàng phụ phàng quên ơn, nỡ đem em ra so sánh với nọc độc đánh kinh tởm để đuổi bỏ em.

Cốc phong 6 穀風 6 • Gió đông 6

我有旨蓄,
亦以御冬。
宴爾新昏,
以我御窮。
有洸有潰,
既詒我肄。
不念昔者,
伊餘來塈。

Cốc phong 6

Ngã hữu chỉ súc,
Diệc dĩ ngự đông
Yến nhĩ tân hôn
Dĩ ngã ngự cùng
Hữu quang hữu hội,
Ký di ngã dị,
Bất niệm tích giả,
Y dư lai kỵ.

Dịch nghĩa

Em có chứa để dành những thứ rau ngon,
Cũng là để phòng ngừa lúc khan hiếm tìm không thể có trong những tháng mùa đông.
Chàng vui duyên vợ mới,
Chàng dùng em để chống đỡ những khi cùng khổ.
Đối với em, chàng có thái độ vũ phu hung hăng giận dữ.
Rồi chàng lại nhường cho tất cả những gì khó khăn lao nhọc cho em.
Chàng không nhớ lại khi xưa,
Lúc em mới về yên nghỉ với chàng (khi mới cưới).

Thức vi 1 式微 1 • Suy vi 1

式微式微,
胡不歸?
微君之故,
胡為乎中露?

Thức vi 1

Thức vi! Thức vi!
Hồ bất quy ?
Vi quân chỉ cố,
Hồ vi hồ trung lộ ?

Dịch nghĩa

Suy vi quá rồi!
Sao lại không trở về ?
Chẳng phải vì cớ có vua ở đây,
Thì sao lại chịu thấm ướt đầm đìa trong sương lộ như thế này ?

Thức vi 2 式微 2 • Suy vi 2

式微式微,
胡不歸?
微君之躬,
胡為乎泥中?

Thức vi 2

Thức vi! Thức vi!
Hồ bất quy ?
Vi quân chi cung,
Hồ vi hồ nê trung ?

Dịch nghĩa

Suy vi quá rồi!
Sao lại không trở về ?
Chẳng vì thân của vua ở đây,
Thì sao lại chịu chìm hãm vào bùn lầy (mà chẳng có ai đến cứu vớt như thế này vậy) ?

Mao khâu 1 旄丘 1 • Cái gò 1

旄丘之葛兮,
何誕之節兮。
叔兮伯兮,
何多日也。

Mao khâu 1

Mao khâu chi cát hề!
Hà đạn chi tiết hề!
Thúc hề bức (bá) hề!
Hà đan nhật dã ?

Dịch nghĩa

Dây sắn ở trên gò trước cao sau thấp,
Sao mà đốt của nó thưa rộng ra thế ?
Các quan của nước Vệ ơi,
Sao đã nhiều ngày rồi (mà chẳng thấy đến tiếp cứu chúng tôi) ?

Mao khâu 2 旄丘 2 • Cái gò 2

何其處也?
必有與也。
何其久也?
必有以也。

Mao khâu 2

Hà kỳ xử dã ?
Tất hữu dữ dã!
Hà kỳ kỷ (cửu) dã ?
Tất hữu dĩ dã!

Dịch nghĩa

Sao mà bầy tôi của nước Vệ cứ ở yên thế mãi (không chịu đến) ?
Ắt là đang chờ những nước khác (để cùng mà tiếp cứu chúng ta).
Sao lâu rồi mà chẳng thấy đến ?
Ắt là có nguyên cớ gì khác (mà chẳng đến đó thôi).

Mao khâu 3 旄丘 3 • Cái gò 3

狐裘蒙戎,
匪車不東。
叔兮伯兮,
靡所與同。

Mao khâu 3

Hồ cầu mang nhung,
Phỉ xa bất đông.
Thúc hề bá hề!
Mỹ sở dữ đồng.

Dịch nghĩa

Áo da chồn rách nát (vì ở trọ bên nước Vệ đã lâu),
Chẳng phải xe của chúng tôi không có đi sang phía đông (về nước Vệ để báo cáo cho biết).
Nhưng quần thần nước Vệ,
Chẳng đồng một lòng với chúng tôi (tuy được thông báo mà chẳng chịu đến vậy thôi).

Mao khâu 4 旄丘 4 • Cái gò 4

瑣兮尾兮,
流離之子。
叔兮伯兮,
褒如充耳。

Mao khâu 4

Toả hề vĩ hề!
Lưu ly chi tỉ (tử).
Thúc hề bá hề!
Hụu nhi sung nhĩ.

Dịch nghĩa

Vua tôi nước Lê nhỏ mọn,
Là những người phiêu bạt rã rời.
Nhưng chú bác quần thần nước Vệ,
Chỉ cười mà bít tai lại chẳng nghe.

Trên đây, uct.edu.vn đã dành tặng bạn trọn bộ những bài thơ Khổng Tử hấp dẫn được đông đảo bạn đọc tìm kiếm và yêu thích. Qua bài viết này chắc hẳn các bạn đã cảm nhận được những triết lý và tư tưởng vĩ đại của nhà thơ này. Ông không hổ danh là một cây cổ thụ trong nền văn học Trung Quốc. Mời các bạn đón xem những bài viết tiếp theo của chúng tôi nha!

Xem Thêm :

so1vn - Tags: