thắm đượm tư tưởng và những chiêm nghiệm về cuộc đời của ông. Khổng tử là một nhà thơ được nhiều người yêu thích không những thế tư tưởng của ông còn được lan rộng qua những thi phẩm vang danh. Các giá trị đó đã có được tầm ảnh hưởng lớn trên mọi học thuyết khác ở Trung Quốc như Pháp gia hay Lão giáo ở thời nhà Hán. Nổi bật cho phong cách thơ ông chính là tập thơ Bội Phong. Những bài thơ này đều mang tính lịch sử cao cả được bạn đọc tìm kiếm. Cùng nhau cảm nhận những tư tưởng và ngòi bút tài hoa của thi sĩ này nhé!

Bách chu 1 柏舟 1 • Thuyền bách 1

泛彼柏舟,
亦泛其流。
耿耿不寐,
如有隱憂。
微我無酒,
以敖以遊。

Bách chu 1

Phiếm bỉ bách chu,
Diệc phiếm kỳ lưu.
Cảnh cảnh bất mỵ.
Như hữu ẩn ưu.
Vi ngã vô tửu,
Dĩ ngao dĩ du.

Dịch nghĩa

Chiếc thuyền gỗ bách nổi trôi kia,
Cũng mặc cho nó nổi trôi phiêu bạt.
Dáng buồn bã không ngủ được,
Như có mối đau sầu.
Chẳng phải em không có rượu,
Để có thể ngao du hầu cởi mở mối sầu đau ấy.

Bách chu 2 柏舟 2 • Thuyền bách 2

我心匪鑒,
不可以茹。
亦有兄弟,
不可以據。
薄言往愬,
逢彼之怒。

Bách chu 2

Ngã tâm phỉ giám,
Bất khả dĩ nhu.
Diệc hữu huynh đệ,
Bất khả dĩ cứ.
Bạc ngôn vãng tố,
Phùng bỉ chi mộ.

Dịch nghĩa

Lòng em đã không phải tấm gương để soi,
Cho nên không thể đo lường được mọi việc.
Tuy là em đã có anh em,
Nhưng không thể dựa vào mà làm trọng.
Cho nên hễ tỏ lòng cho biết
Thì trái lại sẽ gặp cơn giận dữ của người.

Bách chu 3 柏舟 3 • Thuyền bách 3

我心匪石,
不可轉也。
我心匪席,
不可卷也。
威儀棣棣,
不可選也。

Bách chu 3

Ngã tâm phỉ thạch,
Bất khả chuyển dã.
Ngã tâm phỉ tịch,
Bất khả quyển dã.
Uy nghi đệ đệ,
Bất khả tuyển dã.

Dịch nghĩa

Lòng em không như đá (đá vững nhưng có thể chuyển dời được).
Chớ lòng em không thể dời chuyển được.
Lòng em không thể như chiếc chiếu (chiếc chiếu thì bằng phẳng nhưng có thể cuốn lại được).
Chớ lòng em không thể cuốn lại được.
Uy nghi cử chỉ của em rất đầy đủ và thuần thục,
Mà em lại không được chọn dùng.

Bách chu 4 柏舟 4 • Thuyền bách 4

憂心悄悄,
慍於群小。
覯閔既多,
受侮不少。
靜言思之,
寤辟有摽。

Bách chu 4

Ưu tâm thiểu thiểu,
Uẩn vụ quần tiểu.
Cấu mẫn ký đa,
Thụ vụ bất thiểu.
Tịnh ngôn tư chi,
Mỵ tịch hữu biểu.

Dịch nghĩa

Lòng ưu sầu thiểu não,
Bị bọn hầu thiếp giận ghét.
Bị khổ hận vì bọn chúng đã nhiều,
Bị lờn nhục cõng không ít.
Lúc yên tĩnh trong ban đêm em nghĩ đến,
Và trong khi ngủ em lại đấm ngực vì quá hận lòng.

Bách chu 5 柏舟 5 • Thuyền bách 5

日居月諸,
胡迭而微?
心之憂矣,
如匪浣衣。
靜言思之,
不能奮飛。

Bách chu 5

Nhật cư nguyệt chư,
Hồ điệt nhi vi.
Tâm chi ưu hĩ!
Như phỉ hoãn y,
Tịnh ngôn tư chi,
Bất năng phấn phi.

Dịch nghĩa

Mặt trời mặt trăng,
Luân phiên nhau mờ khuyết.
Lòng ưu sầu,
Như mặc cái áo dơ không giặt.
Lúc thanh tịnh trong ban đêm tưởng nhớ lại,
Thì hận lòng không thể phấn chấn lên mà bay thoát đi nơi khác.

Lục y 1 綠衣 1 • Áo xanh 1

綠兮衣兮,
綠衣黃里。
心之憂矣,
曷維其已?

Lục y 1

Lục hề y hề,
Lục y hoàng lý.
Tâm chi ưu hĩ.
Hạt duy kỳ dĩ ?

Dịch nghĩa

Màu lục thì may làm áo,
Áo màu lục mà lót màu vàng.
Lòng ta sầu đau là vì thế,
Lúc nào mối sầu đau ấy mới dứt ?

Lục y 2 綠衣 2 • Áo xanh 2

綠兮衣兮,
綠衣黃裳。
心之憂矣,
曷維其亡?

Lục y 2

Lục hề y hề!
Lục y hoàng thường.
Tâm chi ưu hĩ!
Hạt duy kỳ phong ?

Dịch nghĩa

Màu lục thì may làm áo,
Áo màu lục, quần màu vàng.
Lòng ta sầu đau là vì thế,
Lúc nào mối sầu đau ấy mới quên đi ?

Lục y 3 綠衣 3 • Áo xanh 3

綠兮絲兮,
女所治兮。
我思古人,
俾無訧兮。

Lục y 3

Lục hề ty hề,
Nhữ sở trì (trị) hề!
Ngã tư cổ nhân.
Tỷ vô vi (vưu) hề.

Dịch nghĩa

Màu lục vừa nhuộm tơ xong,
Thì chàng lo dệt thành vải, như người thiếp vừa trẻ đẹp lên thì chàng yêu chuộng ngay.
Em nhớ (gương) người xưa,
Để khỏi phạm điều tội lỗi.

Lục y 4 綠衣 4 • Áo xanh 4

絺兮绤兮,
凄其以風。
我思古人,
實獲我心。

Lục y 4

Si hề khích hề!
Thê kỳ dĩ phâm (phong).
Ngã tư cổ nhân,
Thực hoạch ngã tâm.

Dịch nghĩa

Vải mịn vải thô,
Lạnh lẽo vì gió thổi.
Em nhớ lại người xưa (đã khéo xử sự).
Thật đã được lòng em mong muốn vậy.

Yến yến 1 燕燕 1 • Chim én 1

燕燕于飛,
差池其羽。
之子于歸,
遠送于野,
瞻望弗及,
泣涕如雨。

Yến yến 1

Yến yến vu phi,
Si trì kỳ vũ.
Chi tử vu quy,
Viến tống vu dã.
Chiêm vọng phất cập,
Khấp thê như vũ.

Dịch nghĩa

Chim én bay đi,
Lông của nó không tề chỉnh.
Nàng Đái Quy trở về nhà cha mẹ không trở lại nữa,
Ta đưa tiễn nàng ra xa ở ngoài đồng nội,
Ta trông theo thì không thấy nàng kịp nữa.
Ta khóc thương nàng lệ đổ như mưa.

Yến yến 2 燕燕 2 • Chim én 2

燕燕于飛,
頡之頏之。
之子于歸,
遠于將之,
瞻望弗及,
佇立以泣。

Yến yến 2

Yến yến vu phi,
Hiệt chi hàng chi.
Chi tử vu quy,
Viễn vu tương chi,
Chiêm vọng phất cập,
Trữ lập dĩ khấp.

Dịch nghĩa

Chi én bay đi,
Bay lên bay xuống,
Nàng trở về nhà không trở lại nữa.
Ta tiễn đưa nàng ra tận ngoài xa.
Ta trông theo thì không thấy nàng kịp nữa.
Ta đứng lâu ở đấy mà khóc thương nàng.

Yến yến 3 燕燕 3 • Chim én 3

燕燕于飛,
下上其音。
之子于歸,
遠送于南。
瞻望弗及,
實勞我心。

Yến yến 3

Yến yến vu phi,
Há thướng kỳ âm.
Chi tử vu quy,
Viễn tống vu nam.
Chiêm vọng phất cập,
Thực lao ngã tâm.

Dịch nghĩa

Chim én bay đi,
Tiếng kêu khi bổng khi trầm.
Nàng trở về nhà cha mẹ, không trở lại nữa.
Ta tiễn đưa nàng về nam,
Ta trông theo thì không thấy nàng kịp nữa.
Thật lao khổ cho lòng ta.

Yến yến 4 燕燕 4 • Chim én 4

仲氏任只,
其心塞淵。
終溫且惠,
淑慎其身。
先君之思,
以勖寡人。

Yến yến 4

Trọng thị nhâm chỉ,
Kỳ tâm tắc uân (uyên).
Chung ôn thả huệ,
Thục thận kỳ thân.
Tiên quân chi tư,
Dĩ húc quả nhân.

Dịch nghĩa

Nàng Trọng thị (Đái Quy) hiền thục, tin cậy,
Mà tâm ý lại sâu xa.
Và rốt cùng nàng vẫn ôn hoà kính thuận.
Nàng hiền lành và cẩn thận lấy thân.
Nàng lại lấy lòng nhớ tưởng tiên quân,
Mà khuyên ta cố gắng giữ vững mãi tâm chí.

Nhật nguyệt 1 日月 1 • Mặt trời mặt trăng 1

日居月諸,
照臨下土。
乃如之人兮,
逝不古處。
胡能有定?
寧不我顧?

Nhật nguyệt 1

Nhật cư nguyệt chư,
Chiếu lâm hạ thổ.
Nãi như chi nhân hề!
Thệ bất cổ xử.
Hồ năng hữu định ?
Ninh bất ngã cổ (cố).

Dịch nghĩa

Hai vầng nhật nguyệt,
Đã từng rọi chiếu mặt đất.
Nay lại có người như chàng,
Chẳng lấy đạo nghĩa xưa mà cư xử với ta.
Làm sao chàng định tâm chí được (khi chàng đã mê loạn rồi)?
Sao đối với ta, chàng không đoái tưởng đến?

Nhật nguyệt 2 日月 2 • Mặt trời mặt trăng 2

日居月諸,
下土是冒。
乃如之人兮,
逝不相好。
胡能有定?
寧不我報?

Nhật nguyệt 2

Nhật cư nguyệt chư,
Hạ thổ thị mạo,
Nãi như chi nhân hề!
Thệ bất tương hảo.
Hồ năng hữu định ?
Năng bất ngã báo.

Dịch nghĩa

Hai vầng nhật nguyệt
Đã phủ ánh sáng xuống mặt đất.
lại có người như chàng,
Chẳng ăn ở tốt lành với vợ.
Làm sao chàng định tâm chí được (khi chàng đã mê loạn đi rồi) ?
Sao chàng chẳng báo đáp ân tình với ta ?

Nhật nguyệt 3 日月 3 • Mặt trời mặt trăng 3

日居月諸,
出自東方。
乃如之人兮,
德音無良。
胡能有定?
俾也可忘。

Nhật nguyệt 3

Nhật cư nguyệt chư,
Xuất tự đông phương.
Nãi như chi nhân hề!
Đức âm vô lương.
Hồ năng hữu định ?
Tỷ dã khả vong.

Dịch nghĩa

Hai vầng nhật nguyệt
Đều mọc ở phương đông.
Lại có người như chàng,
Lời nói nghe tốt đẹp, nhưng lại tệ bạc không hiền lành.
Làm sao chàng định tâm chí được (khi chàng đã mê loạn rồi) ?
Sao lại một mình ta là có thể bị quên như vậy ?

Nhật nguyệt 4 日月 4 • Mặt trời mặt trăng 4

日居月諸,
東方自出。
父兮母兮,
畜我不卒,
胡能有定?
報我不述。

Nhật nguyệt 4

Nhật cư nguyệt chư,
Đông phương tự xuất.
Phụ hề mẫu hề!
Súc ngã bất tốt.
Hồ năng hữu định ?
Báo ngã bất thuật ?

Dịch nghĩa

Hai vầng nhật nguyệt
Đều mọc ở phương đông.
Cha ôi! Mẹ ôi!
Đã nuôi con không trọn (không tạo cho con được hạnh phúc).
Làm sao chàng định tâm chí được (khi chàng đã mê loạn rồi) ?
Để bù đắp lại hành vi không hợp nghĩa lý đối với ta.

Chung phong 1 終風 1 • Suốt ngày gió 1

終風且暴,
顧我則笑。
謔浪笑敖,
中心是悼。

Chung phong 1

Chung phong thả bạo.
Cố ngã tắc táo (tiếu).
Hước lãng tiếu ngạo,
Trung tâm thị điệu.

Dịch nghĩa

Gió suốt ngày và lại mạnh tợn (cũng như chàng suốt ngày cuồng si hung bạo).
Có lúc chàng ngoảnh lại trông em mà cười.
Nhưng cười để đùa giỡn, ngạo mạn (chớ không do lòng yêu kính).
Cho nên trong lòng em phải đau đớn xót xa.

Chung phòng 2 終風 2 • Suốt ngày gió 2

終風且霾,
惠然肯來。
莫往莫來,
悠悠我思。

Chung phong 2

Chung phong thả mai.
Huệ nhiên khẳng lai.
Mạc vãng mạc lai.
Du du ngã tai (tư).

Dịch nghĩa

Suốt ngày gió thổi, lại mưa dông cát bay mù mịt (cũng như chàng suốt ngày cuồng si hung bạo thế ấy).
Nhưng cũng có lúc chàng cũng thuận hoà chịu đến với em
Những lúc chàng chẳng chịu đến, chẳng chịu sang bên em,
Thì em tưởng nhớ xa xôi.

Chung phong 3 終風 3 • Suốt ngày gió 3

終風且曀,
不日有曀。
寤言不寐,
愿言則嚏。

Chung phong 3

Chung phong thả ế,
Bất nhật hữu ế.
Ngộ ngôn bất mỵ,
Nguyện ngôn tắc đế.

Dịch nghĩa

Gió suốt ngày mà lại âm u.
Chưa qua ngày thì lại âm u gió cuốn nữa (cũng như chàng vừa được cơn cuồng si mê loạn này tạm lơi, thì lại bị cơn cuồng si mê hoặc khác kịp đến).
Em thức muốn nói với chàng mà không ngủ được,
Em suy nghĩ muốn nói với chàng thì lại bị hắt hơi, nhảy mũi.

Chung phong 4 終風 4 • Suốt ngày gió 4

曀曀其陰,
虺虺其雷。
寤言不寐,
愿言則懷。

Chung phong 4

Ế ế kỳ âm,
Huỷ huỷ kỳ lôi,
Ngộ ngôn bất mỵ
Nguyện ngôn tắc hoài.

Dịch nghĩa

Trời âm u mờ tối,
Tiếng sét còn âm ỉ chưa phát ra (cũng như chàng cuồng si mê hoặc nặng nề chưa dứt).
Em thức muốn nói với chàng mà không ngủ được.
Em suy nghĩ muốn nói với chàng thì cứ lo nghĩ.

Kích cổ 1 擊鼓 1 • Đánh trống 1

擊鼓其鏜,
踴躍用兵。
土國城漕,
我獨南行。

Kích cổ 1

Kích cổ kỳ thang,
Dũng dược dụng binh.
Thổ quốc thành Tào,
Ngã độc nam hành.

Dịch nghĩa

Đánh trống nghe thùng thùng,
Phấn khởi đứng lên mà cầm binh khí.
Kẻ thì đào đắp ở nước Vệ, người thì xây thành ở ấp Tào.
Riêng một mình ta thì đi đánh ở phương nam.

Kích cổ 2 擊鼓 2 • Đánh trống 2

從孫子仲,
平陳與宋。
不我以歸,
憂心有忡。

Kích cổ 2

Tùng Tôn Tử Trọng.
Bình Trần dữ Tống.
Bất ngã dĩ quy
Ưu tâm hữu sung.

Dịch nghĩa

Đi theo quân sư Tôn Tử Trọng để đánh giặc,
Kết hoà với nước Trần, nước Tống.
Sẽ chẳng cùng ta mà trở về (đều chết trận).
(Nghĩ đến việc tử thương) Lòng rười rượi có điều buồn rầu.

Kích cổ 3 擊鼓 3 • Đánh trống 3

爰居爰處?
爰喪其馬?
于以求之?
于林之下。

Kích cổ 3

Viên cư viên xử,
Viên táng kỳ mã.
Vu dĩ cầu chi,
Vu lâm chi hạ.

Dịch nghĩa

Dừng lại nơi đó, ở lại nơi đó,
Chết mất ngựa ở nơi đó.
Để tìm kiếm nó,
Thì tìm ở trong rừng.

Kích cổ 4 擊鼓 4 • Đánh trống 4

死生契闊,
與子成說。
執子之手,
與子偕老。

Kích cổ 4

Tử sinh khiết thoát,
Dữ tử thành thuyết.
Chấp tử chi thủ,
Dữ tử giai lão.

Dịch nghĩa

Chết sống hay xa cách,
Đã cùng nàng thành lời thề ước.
Ta nắm tay nàng,
(Hẹn ước) sẽ sống chung với nhau đến tuổi già.

Kích cổ 5 擊鼓 5 • Đánh trống 5

于嗟闊兮,
不我活兮。
于嗟洵兮,
不我信兮。

Kích cổ 5

Hu ta khoát hề!
Bất ngã hoạt hề!
Hu ta tuân hề!
Bất ngã thân hề!

Dịch nghĩa

Than ôi lời hẹn ước xưa trong lúc xa cách!
Thì nay ta lại không được sống sót (ta đành phụ bỏ nàng).
Than ôi, lời hẹn ước đáng tin kia,
Ta chẳng thể thi hành được nữa!

Khổng Tử sống ở thời Chiến quốc. Đạo đức của ông, học vấn của ông và những kiến thức của ông làm cho những người cùng thời và hậu thế phải cảm phục. Những bài thơ của ông đặc sắc như gõ cửa tâm hồn bạn đọc. Chúng ta phải thật trầm lặng cảm nhận mới có thể thấy được hết vẻ đẹp của những vần thơ đầy sắc sảo của ông. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết này của chúng tôi nhé!