Báo cáo là gì? Phân loại, yêu cầu của văn bản báo cáo – http://vietvan.vn

Cập nhật ngày 21/08/2022 bởi mychi

Bài viết Báo cáo là gì? Phân loại, yêu cầu của văn bản báo cáo – http://vietvan.vn thuộc chủ đề về Wiki How thời gian này đang được rất nhiều bạn quan tâm đúng không nào !! Hôm nay, Hãy cùng https://vietvan.vn/hoi-dap/ tìm hiểu Báo cáo là gì? Phân loại, yêu cầu của văn bản báo cáo – http://vietvan.vn trong bài viết hôm nay nhé ! Các bạn đang xem bài : “Báo cáo là gì? Phân loại, yêu cầu của văn bản báo cáo – http://vietvan.vn”

Đánh giá về Báo cáo là gì? Phân loại, yêu cầu của văn bản báo cáo – http://vietvan.vn


Xem nhanh
Hướng Dẫn Soạn Thảo Văn Bản Mới Nhất - Thông Báo
Bạn nào đã đi làm hoặc chuẩn bị đi làm trong cơ quan nhà nước, công ty mà chưa tự tin kỹ năng soạn thảo, muốn học thì vui lòng liên hệ thông tin bên dưới. (Ở đâu cũng học được nhé)
▶️FB: https://www.facebook.com/nguoivuive123
👥Nhóm: https://www.facebook.com/groups/456568434437914/
📲Số điện thoại: 0973.722.107

(Last Updated On: 12/07/2022)
Mục lục
  • 1. Báo cáo là gì?
  • 2. những loại báo cáo
  • 3. bắt buộc của báo cáo
    • a. Về nội dung
    • b. Về hình thức
    • c. Về tiến độ, thời gian
  • 4. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của báo cáo

1. Báo cáo là gì?

Báo cáo là một loại văn bản sử dụng để trình bày một sự việc hoặc các kết quả vận hành của một cơ quan, tổ chức trong một thời gian nhất định, qua đó cơ quan, tổ chức có thể đánh giá tình hình thực tế của việc quản lý, lãnh đạo hoạch định những chủ trương mới phù hợp.

Báo cáo trong quản lý nhà nước là loại văn bản dùng để phản ánh tình hình thực tế, trình bày kết quả hoạt động công việc trong hoạt động của cơ quan nhà nước, giúp cho việc đánh giá tình hình quản lý, lãnh đạo và đề xuất những biện pháp, chủ trương quản lý mới. vì vậy, báo cáo mang những đặc điểm cơ bản như sau:

  • Về chủ thể ban hành: các cơ quan, tổ chức, Doanh nghiệp đều có quyền và nghĩa vụ ban hành báo cáo nhằm phục vụ mục đích, yêu cầu công việc chi tiết. Khác với các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo không mang tính xử sự chung, không chứa đựng các quy định mang tính yêu cầu thực hiện và bất kỳ một biện pháp chế tài nào. Báo cáo là loại văn bản sử dụng để mô tả sự phát triển, diễn biến của một công việc, một vấn đề do nhu cầu của vận hành quản lý và lãnh đạo đặt ra. Việc viết báo cáo của các tổ chức nhà nước hay tư nhân để tổng kết, đánh giá kết quả công việc, hoặc báo cáo về một sự việc, vấn đề nào đó gửi cho cơ quan, tổ chức là việc làm cần thiết cho quy trình tổ chức quản lý của nhà nước.
  • Về lý do viết báo cáo: Báo cáo có thể được viết định kỳ nhưng cũng có thể được viết theo bắt buộc của công việc của cơ quan quản lý (vì lý do đột xuất, bất thường). các cơ quan cấp trên tiếp nhận báo cáo và sử dụng nó như một phương thuận tiện để kiểm tra, kiểm soát vận hành của các bộ phận, đơn vị trực thuộc để tổng kết công tác theo từng thời kỳ hay từng phạm vi nhất định.
  • Về nội dung báo cáo: Trong các bản báo cáo thường mang những nội dung khác nhéu do tính chất của sự việc buộc phải báo cáo theo yêu cầu hoặc công việc mà đối tượng dự định báo cáo quyết định. Nội dung báo cáo do đó rất phong phú. Nội dung báo cáo trình bày, giải thích về các kết quả vận hành, những ưu điểm, những khuyết điểm, tác nhân của nó và những bài học kinh nghiệm để phát huy hoặc để ngăn ngừa cho thời gian tới. Nội dung báo cáo cũng có thể là trình bày về một sự việc đột xuất xảy ra hoặc báo cáo về kết quả vận hành của cơ quan, tổ chức về một lĩnh vực vận hành trong một khoảng thời gian xác định (5 năm, 10 năm,..).

vận hành quản lý là một chuỗi ảnh hưởng không ngừng của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu do chủ thể đề ra. Các vận hành quản lý sau là sự tiếp nối, dựa trên kết quả của những tác động quản lý trước đó. Với tính chất là loại văn bản mang tính mô tả, trình bày về công việc, hoạt động viết báo cáo có ý nghĩa cho cả người nhận báo báo và người gửi báo cáo.

a. Báo cáo là phương tiện truyền dẫn thông tin, là căn cứ để cơ quan cấp trên ra quyết liệt quản lý

Trong quy trình thực hiện các hoạt động quản lý nhằm đạt được mục tiêu, việc ra quyết liệt đóng vai trò quan trọng. tuy nhiên, các quyết liệt trong quản lý của cơ quan, tổ chức, công ty đều phải dựa trên những căn cứ nhất định. Báo cáo là một loại văn bản hành chính thông thường nhưng có khả năng mang lại những thông tin thiết thực cho việc ra quyết định của chủ thể quản lý. Chính vì lẽ đó, vận hành viết báo cáo của cấp dưới gửi lên cấp trên sẽ giúp cơ quan, tổ chức cấp trên nắm được tình hình vận hành của các cơ quan, tổ chức cấp dưới trước khi ra quyết liệt, nhằm hướng vận hành quản lý đến các mục tiêu đã định. mặt khác, thông qua báo cáo, cơ quan quản lý cấp trên có khả năng kiểm chứng được tính khả thi, sự phù hợp hay bất cập của chính sách do chính họ ban hành để sửa đổi kịp thời. Các báo cáo sơ kết, tổng kết công tác, báo cáo chuyên đề là những tư liệu quan trọng giúp cho các cơ quan chuyên ngành, các nhà khoa học nghiên cứu tổng kết các vấn đề thực tiễn của xã hội, của một cách tự nhiên để tham mưu cho các bộ phận quản lý nhà nước hoạch định chính sách, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật đáp ứng bắt buộc quản lý kinh tế, xã hội một cách chính xác.

b. Báo cáo là phương tiện giải trình của cơ quan cấp dưới với cơ quan cấp trên

Với tính chất là loại văn bản mô tả sự việc, trong nội dung các bản báo cáo phải cung cấp đầy đủ các thông tin cần thiết, trình bày, giải thích về các kết quả vận hành, những ưu điểm, khuyết điểm, tác nhân của nó và những bài học kinh nghiệm để phát huy hoặc để ngăn ngừa trong thời gian tới. Qua báo cáo, cơ quan cấp trên nhận định đúng về kết quả công việc của cấp dưới, những điều kiện vướng mắc mà cấp dưới gặp phải để giúp đỡ tháo gỡ nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ, tạo nên sự gắn bó chặt chẽ trong thực hiện công tác giữa cấp trên và cấp dưới. Về nguyên tắc, nội dung báo cáo phải trung thực và khi phân tích đúng các nguyên nhân, rút ra bài học kinh nghiệm, đề cập về phương hướng, nhiệm vụ của đơn vị mình, người viết báo cáo có thể tạo ra những tư vấn hiệu quả cho cấp trên tham khảo và đưa ra quyết liệt. Ở một góc độ khác, cũng thông qua vận hành viết báo cáo, chính cấp viết báo cáo (cấp dưới) sẽ phân tích, đánh giá nguyên nhân của những khó khăn, kiểm chứng chính sách của các cấp ban hành, trong đó có chính sách do chính họ ban hành để sửa đổi, bổ sung nhằm phục vụ bắt buộc quản lý công việc.

✅ Mọi người cũng xem : lăng nhăng trong tình yêu là gì

2. những loại báo cáo

Báo cáo là loại văn bản hành chính thông thường và rất phong phú. Dựa trên những tiêu chí khác nhéu có thể chia báo cáo ra thành các loại khác nhéu.

– Căn cứ vào nội dung báo cáo có thể chia thành: báo cáo chung và báo cáo chuyên đề.

+ Báo cáo chung: là báo cáo nhiều vấn đề, thường xuyên mặt công tác cùng được thực hiện trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan. Mỗi vấn đề, mỗi mặt công tác được liệt kê, mô tả trong mối quan hệ với các vấn đề, các mặt công tác khác, tạo nên toàn bộ bức tranh về vận hành của cơ quan. Báo cáo này cho phép đánh giá toàn diện về năng lực, hiệu quả vận hành của cơ quan.

+ Báo cáo chuyên đề: là báo cáo chuyên sâu vào một nhiệm vụ công tác, một vấn đề quan trọng. Các vấn đề, các nhiệm vụ khác không được đề cập hoặc nếu có thì chỉ được thể hiện như các yếu tố gây ảnh hưởng vấn đề cần được báo cáo. Báo cáo chuyên đề chỉ đi sâu đánh giá một vấn đề chi tiết trong vận hành của cơ quan. Mục đích của báo cáo chuyên đề là tổng hợp, phân tích, nhận xét và đề xuất giải pháp cho vấn đề được nêu trong báo cáo.

– Căn cứ vào tính ổn định của quá trình ban hành báo cáo có khả năng chia thành: báo cáo thường kỳ và báo báo đột xuất.

+ Báo cáo thường kỳ hay còn gọi là báo cáo theo định kỳ: là báo cáo được ban hành sau mỗi kỳ được quy định. Kỳ hạn quy định viết và nộp báo cáo có thể là hàng tuần, mỗi tháng, hàng quý, hàng năm hay nhiệm kỳ. Đây là loại báo cáo dùng để phản ánh toàn bộ quá trình hoạt động của cơ quan trong thời hạn được báo cáo. Thông thường loại báo cáo này là cơ sở quan trọng để cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, đánh giá vận hành của cấp dưới, phát hiện điều kiện, yếu kém về tổ chức, nhân sự, cơ chế vận hành, thể chế, chính sách, từ đó đưa ra những chủ trương, biện pháp phù hợp để quản lý.

+ Báo cáo đột xuất: là báo cáo được ban hành khi thực tế xảy ra hay có nguy cơ xảy ra các biến động bất thường về tự nhiên, về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao. Cơ quan nhà nước có thể báo cáo theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền hoặc khi xét thấy vấn đề phức tạp vượt quá khả năng giải quyết của mình, cần có sự hỗ trợ của cấp trên hay cần phải phản ánh tình hình với cơ quan có thẩm quyền để cơ quan có biện pháp giải quyết kịp thời. Loại báo cáo này được sử dụng để thông tin nhénh về những vấn đề chi tiết làm cơ sở cho các quyết định quản lý nhanh nhạy, phù hợp với các tình huống bất thường trong quản lý. bắt buộc về tính chính xác và kịp thời của các thông tin mới nhất trong loại văn bản này được đặc biệt coi trọng.

– Căn cứ theo mức độ hoàn thành công việc có khả năng chia thành: báo cáo sơ kết và báo cáo tổng kết;

+ Báo cáo sơ kết: Là báo cáo về một công việc đang còn được tiếp tục thực hiện. Trong quản lý, có những công việc đã được lập kế hoạch, lên chương trình từ trước, có những công việc được thực hiện ngoài kế hoạch khi sinh ra những tình huống không dự kiến trước. Dù trong trường hợp nào thì quá trình thực hiện cũng có thể sinh ra những vấn đề không thể dự liệu được hoặc đã được dự liệu chưa chính xác. Để hoạt động quản lý có chất lượng cao, việc nhiều nắm bắt tình hình thực tế, đánh giá thuận lợi, khó khăn, rút kinh nghiệm, đề ra những biện pháp mới, điều chỉnh hoạt động quản lý cho phù hợp với thực tế là điều rất cần thiết. Báo cáo sơ kết giúp cho cơ quan có thẩm quyền chỉ đạo sát sao, kịp thời, thiết thực đối với hoạt động của cấp dưới.

Các báo cáo sơ kết công tác: Nội dung báo cáo trình bày kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức trong một khoảng thời gian nhất định của toàn bộ kế hoạch công tác. Để phục vụ quản lý công việc của cơ quan, tổ chức trong kế hoạch năm, có khả năng chia báo cáo sơ kết công tác thành các loại:

Báo cáo sơ kết công tác tháng của cơ quan, tổ chức: Nội dung báo cáo công tác sơ kết tháng trình bày kết quả vận hành của cơ quan, tổ chức trong thời gian một tháng. Căn cứ vào chỉ tiêu kế hoạch mỗi tháng đã được phê duyệt của cơ quan, tổ chức cấp trên để nghiên cứu, xem xét, đánh giá các kết quả đã thực hiện, đưa ra kế hoạch cần thực hiện trong tháng tiếp theo. Thời gian báo cáo sơ kết thực hiện kế hoạch công tác tháng được tiến hành vào những ngày cuối tháng.

Báo cáo sơ kết công tác quý: nội dung báo cáo sơ kết công tác quý trình bày kết quả vận hành của cơ quan, tổ chức trong thời gian 3 tháng. Một năm kế hoạch công tác chia thành 4 quý theo thứ tự thời gian. Quý I: Từ tháng 1 đến hết tháng 3; Quý II: Từ tháng 4 đến hết tháng 6; Quý III: Từ tháng 7 đến hết tháng 9; Quý IV: Từ tháng 10 đến hết tháng 12. Vì vậy, mỗi năm báo cáo sơ kết công tác quý đề có 4 bản báo cáo. Thời gian báo cáo sơ kết công tác quý được thực hiện vào những ngày cuối quý.

Báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm: Nội dung báo cáo công tác sơ kết 6 tháng đầu năm trình bày những kết quả vận hành của cơ quan, tổ chức trong 6 tháng đầu năm, vạch ra những ưu điểm, những Giảm cần khắc phục và nhiệm vụ còn phải làm trong 6 tháng còn lại của năm đó.

+ Báo cáo tổng kết: là loại văn bản được ban hành sau khi đã hoàn thành hoặc đã hoàn thành một cách căn bản một công việc nhất định. Khác với báo cáo sơ kết có mục đích tiếp tục hoàn thành công việc một cách hấp dẫn nhất, trong báo cáo tổng kết, mục đích là để đánh giá lại quá trình thực hiện một công việc, so sánh kết quả đạt được với mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, rút kinh nghiệm cho các vận hành quản lý cùng loại hoặc tương tự về sau từ việc lập kế hoạch hoạt động đến tổ chức thực hiện các hoạt động đó trên thực tế.

Báo cáo tổng kết thường gắn vào một thời gian nhất định, thường là một năm, 5 năm, 10 năm, 15 năm,..

Nội dung của báo cáo tổng kết năm sẽ trình bày tất cả các mặt công tác của cơ quan, tổ chức trong một năm thực hiện kế hoạch; nêu rõ các số liệu chi tiết đã đạt được của các chỉ tiêu, kế hoạch cấp trên giao. Trong báo cáo tổng kết năm thường nêu lên kết quả phấn đấu một năm của tất cả cán bộ, công chức, viên chức trong cơ quan, các ưu điểm và yếu kém, rút ra bài học kinh nghiệm cho những năm tới, khen thưởng những đơn vị, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, kế hoạch công tác. Trong báo cáo tổng kết năm cần dành một phần để nói về phương hướng, nhiệm vụ và những chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch năm tới của cơ quan, tổ chức. do đó, báo cáo sơ kết công tác năm của cơ quan, tổ chức được biên soạn đầy đủ, công phu, được lấy ý kiến đóng góp của các đơn vị, cá nhân, cán bộ chủ chốt trong cơ quan, tổ chức.

✅ Mọi người cũng xem : không có gì trong tiếng anh là gì

3. bắt buộc của báo cáo

Trên thực tế tồn tại nhiều loại báo cáo nhưng điểm chung của những loại báo cáo thể hiện ở cách thức mô tả thực tế và mục đích là nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho vận hành quản lý nhà nước. Tuy không có tổng giá trị pháp lý rõ nét như thông tin trong các biên bản được lập tại đúng thời gian và địa điểm xảy ra sự việc đối với các vụ việc chi tiết nhưng báo cáo vẫn là một kênh thông tin quan trọng ảnh hưởng đến giá trị của các quyết định quản lý. Đáng lưu ý là báo cáo cung cấp thông tin cho các quyết liệt quản lý nhưng báo cáo chính là sự tự phản ánh của chính cơ quan ban hành báo cáo. Vì vậy, để đạt được mục tiêu đề ra một bản báo cáo phải phục vụ các yêu cầu sau đây:

a. Về nội dung

  • Bố cục của báo cáo phải đầy đủ, rõ ràng;
  • Thông tin chính xác, đầy đủ không thêm hay giảm đi thông tin;
  • Báo cáo phải trung thực, khách quan, chính xác;

Với tính chất mô tả nhằm mục đích cung cấp thông tin cho cơ quan có thẩm quyền ra quyết liệt, báo cáo cần phải đúng với thực tế. Điều đó có nghĩa, thực tế như thế nào thì viết như thế ấy, không thêm thắt, suy diễn. Người viết báo cáo không được che giấu khuyết điểm hay đề cao thành tích mà đưa vào những cụ thể, số liệu không đúng trong thực tế.

  • Báo cáo cần phải có trọng tâm và chi tiết;

Báo cáo là cơ sở để các bộ phận cấp trên và người có thẩm quyền tổng kết, đánh giá tình hình và ban hành các quyết định quản lý, Vì vậy, không được viết chung chung, tràn lan hay vụn vặt mà phải cụ thể và có trọng tâm, xuất phát từ mục đích, bắt buộc của bản báo cáo cũng như yêu cầu của đối tượng cần nhận báo cáo.

  • Nhận định đúng những ưu điểm và hạn chế diễn ra trong thực tế;
  • Xác định đúng nguyên nhân của những thành công và nguyên nhân của những Giảm đối với vấn đề cần báo cáo;
  • Chỉ ra những bài học kinh nghiệm xác đáng, không chung chung;
  • Xây dựng phương hướng, nhiệm vụ cho thời gian tới một cách mạch lạc và có căn cứ, phù hợp với điều kiện thời gian và nguồn lực thực tế, có tính khả thi

✅ Mọi người cũng xem : suy nhược cơ thể tiếng anh là gì

b. Về cách thức

  • dùng đúng mẫu báo cáo theo quy định của cơ quan, đơn vị (nếu có) hoặc tự xây dựng mẫu báo báo phù hợp với mục đích, nội dung của vấn đề cần báo cáo;
  • Bản báo cáo được trình bày sạch sẽ, không có lỗi chính tả hay lỗi kỹ thuật máy tính (khoảng trống hay lỗi font chữ,..);
  • sử dụng cách hành văn dễ dàng đơn giản, dễ hiểu, phù hợp với văn phong hành chính thông dụng.

c. Về tiến độ, thời gian

Báo cáo phải đảm bảo kịp thời. Mục đích chính của báo cáo là phục vụ cho công tác quản lý của nhà nước, của các tổ chức và công ty, vì thế, sự chậm trễ của các báo cáo sẽ gây ảnh hưởng việc ban hành quyết định quản lý của các bộ phận công quyền hoặc sự chậm trễ báo cáo trong công ty sẽ ảnh hưởng đến cơ hội kinh doanh của Doanh nghiệp. do đó, báo cáo rất cần thiết phải được ban hành một cách nhanh chóng, kịp thời.

✅ Mọi người cũng xem : văn thuyết minh là gì

4. Các yếu tố gây ảnh hưởng chất lượng của báo cáo

Tiêu chí chung để đánh giá một bản báo cáo có chất lượng phải trên cả hai phương diện về nội dung và cách thức. Về nội dung báo cáo phải làm cho người đọc dễ hiểu, hiểu đúng tính chất công việc, đánh giá đúng những thành tích và Giảm trong việc thực hiện công việc tương đương nguyên nhân của nó. Phương hướng nhiệm vụ được trình bày rõ ràng, mạch lạc, có sức thuyết phục bởi những nhận định vừa khoa học vừa thực tế, dự báo tính khả thi. Về hình thức của bản báo cáo phải phù hợp với nội dung của báo cáo. vì thế, một bản báo cáo có chất lượng phần nhiều chịu sự quyết định của chính người trực tiếp thực hiện viết báo cáo. mặc khác, ngoài người viết báo cáo ra, chất lượng của bản báo cáo còn bị chi phối bởi nguồn thông tin và quan điểm chỉ đạo của người lãnh đạo.

a. Quan điểm chỉ đạo của lãnh đạo

Như trên đã nêu, phần lớn các trường hợp báo cáo là sự tự phản ánh tình hình vận hành của cơ quan, tổ chức, qua đó các cấp có thẩm quyền đánh giá được tiềm lực vận hành của cơ quan báo cáo trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình. Các báo cáo thường là căn cứ cho các nhận định và quyết định của cơ quan quản lý cấp trên. do đó, trong nhiều trường hợp, lãnh đạo cơ quan viết báo cáo thường chỉ đạo những nội dung cần nhấn mạnh, thậm chí che giấu khuyết điểm bằng lối viết chung chung, khó nhận định để bảo vệ lợi ích của ngành, của địa phương mình, cơ quan, tổ chức, công ty mình chứ không phục vụ lợi ích chung của quản lý. Trong những trường hợp đề cao lợi ích cục bộ của mình thì thông tin trong báo cáo sẽ ít độ tin cậy cho quyết liệt quản lý. Cơ quan ra quyết định khi đó cần phải so sánh, đối chiếu, sử dụng thường xuyên nguồn thông tin khác nhau cho các quyết định của mình.

b. Người viết báo cáo

Mặc dù báo cáo là loại văn bản phi cá tính nhưng khi nhận định tình hình, người viết thường khó thoát hoàn toàn khỏi quan điểm, cách nhận định của cá nhân mình. Với cùng một sự việc người bi quan và người lạc quan, người thiên về lý trí hay thiên về tình cảm sẽ đánh giá khác nhau, theo đó mỗi người sẽ mô tả sự việc, dự đoán tình hình theo cách đánh giá của mình.

c. Mức độ và tính chất của các sự kiện cần báo cáo

quá trình vận hành của các cơ quan hay công việc cần báo cáo thường gồm thường xuyên sự kiện nối tiếp nhéu. Trong trường hợp các sự kiện diễn ra theo một chiều tương đối ổn định dễ gây ra nên sự đánh giá của người viết theo cùng chiều hướng đó. Điều đó có thể giải thích rằng, khi các sự kiện diễn ra theo chiều hướng tốt dần thì dễ tạo tâm lý lạc quan, người báo cáo có thể không thấy hết hoặc coi nhẹ những khó khăn cần khắc phục. Ngược lại, nếu các sự kiện diễn ra theo hướng xấu dần, thường tạo tâm lý bi quan cho người viết báo cáo, người báo cáo sẽ nhìn thấy vấn đề với khó khăn nhiều hơn, có khả năng giải quyết đẩy lên độ phức tạp lớn hơn. Trong trường hợp báo cáo có quá thường xuyên sự kiện phải phản ánh cũng ít nhiều tạo ra những áp lực tâm lý và nhận định sai lệch nhất định khi viết báo cáo.

Xem thêm: Kỹ năng viết báo cáo

(Lytuong.net – Nguồn tham khảo: https://dtbd.moha.gov.vn/uploads/resources/admin/CDLD/Chuyen%20Vien/ChuyenDe15.pdf)

Bài viết trước
Bài viết tiếp theo


Các câu hỏi về báo cáo là loại văn bản gì


Nếu có bắt kỳ câu hỏi thắc mắt nào vê báo cáo là loại văn bản gì hãy cho chúng mình biết nhé, mõi thắt mắt hay góp ý của các bạn sẽ giúp mình cải thiện hơn trong các bài sau nhé <3 Bài viết báo cáo là loại văn bản gì ! được mình và team xem xét cũng như tổng hợp từ nhiều nguồn. Nếu thấy bài viết báo cáo là loại văn bản gì Cực hay ! Hay thì hãy ủng hộ team Like hoặc share. Nếu thấy bài viết báo cáo là loại văn bản gì rât hay ! chưa hay, hoặc cần bổ sung. Bạn góp ý giúp mình nhé!!

Các Hình Ảnh Về báo cáo là loại văn bản gì


Các hình ảnh về báo cáo là loại văn bản gì đang được chúng mình Cập nhập. Nếu các bạn mong muốn đóng góp, Hãy gửi mail về hộp thư [email protected] Nếu có bất kỳ đóng góp hay liên hệ. Hãy Mail ngay cho tụi mình nhé

Tham khảo thêm kiến thức về báo cáo là loại văn bản gì tại WikiPedia

Bạn có thể tra cứu thêm nội dung chi tiết về báo cáo là loại văn bản gì từ web Wikipedia.◄ Tham Gia Cộng Đồng Tại

???? Nguồn Tin tại: https://vietvan.vn/hoi-dap/

???? Xem Thêm Chủ Đề Liên Quan tại : https://vietvan.vn/hoi-dap/

Related Posts

About The Author

Add Comment