Bằng Việt và các tập thơ dịch của tác giả nước ngoài



Ngoài sáng tác thơ ca, còn có một kho tàng thơ dịch của các tác giả khác, thơ dịch của tác giả nước ngoài. Nhà thơ Bằng Việt được giới văn học Việt Nam ghi nhận thành tựu trọn đời của một dịch giả tài hoa có nhiều đóng góp trong hoạt động giới thiệu văn chương nước ngoài”.

Sư tử châu Phi

Bài thơ dịch của tác giả Abd al-Wahhab Al-Bayati  (I Rắc) chưa có nguyên tác, xin mời xem bản dịch!

Tiếng sư tử gầm
Được ghi vào đĩa nhạc
Rồi đem bán rao
Trên khắp ngả đường

Bạn nghe:
Chỉ thấy tiếng sói tru
Đuổi theo chân sư tử
Sư tử bị thương
Khát nước
Còn bị lừa
Theo tiếng vọng từ xa…
Chó sói mãi đắc chí tru lên
Khi dò được
Vết chân sư tử
Đĩa nhạc rẻ tiền ré lên ư ử
Tiếng nhạc thật đáng buồn của thế kỷ chúng ta!

Chúng nó tưởng sư tử chết rồi
Chỉ còn bầy sói tru dữ tợn!
Nhưng tiếng sư tử gầm
Cả khi đang sắp tắt
Cũng đủ đặt giá cho trò xiếc rong
Lừa con nít thu tiền
Đĩa hát quay, cứ quay
Quay tròn như Trái đất…

Này, các ngươi
Những thằng say hèn mạt
Đừng giễu cợt khinh khi
Hãy liệng mau đĩa nhạc kia đi
Đĩa rẻ tiền, phỉnh phờ ngươi đấy!

Sư tử châu Phi
Nếu còn là sư tử
Sẽ không thể chết bao giờ
Vẫn còn đây, rừng già
Cỏ mùa xuân và ánh trăng trong vắt
Tiếng trống châu Phi dũng mãnh
Dọc những triền sông chảy ngang xích đạo
Từ đại ngàn trở ra biển mênh mông…
Sư tử chỉ chốc lát lặng im
Nằm liếm lành vết thương
Để vùng dậy, với tiếng gầm bão táp!

Văn minh

Thơ dịch của tác giả Abdoulaye Mamani

Chúng bảo tôi: “Cười đi”
Trong khi tôi muốn khóc
Chúng bảo tôi: “Khóc đi”
Trong lúc tôi muốn cười!
Trên môi tôi lúc nào cũng mấp máy câu “Xin lỗi!”
Khi trong lòng tôi căm hờn

Cái nhìn của tôi đánh mất vẻ sáng trong
Và sự thẳng thắn vô tư vốn có
Đôi mắt tôi lấm lét như dối trá
Vầng trán tôi dần thấp xuống, ươn hèn
Cúi mặt trước những bất công gánh chịu!

Cái gọi là văn minh như chúng từng nhồi nhét
Chỉ là dây xích xiết vào cổ tôi

Tôi những muốn tháo bỏ giầy đi
Để được chạy chân trần trên cỏ mượt
Tôi muốn trở lại thời chưa gì ràng buộc
Cùng bạn bè thổi bong bóng xà phòng xanh đỏ lên trời
Hát một khúc dân ca bị bỏ bỏ xó từ lâu
Nghe hơi thở rầm rì của buổi chiều tĩnh mịch

Tôi muốn cởi tung áo quần nặng trịch
Lăn cả người không trên cát ấm dịu dàng
Mở tung cánh cửa đơn sơ về phía cánh rừng
Cánh rừng thuở nguyên sơ chứa đầy mộng ước

Tôi muốn… Nhưng không còn làm được…

Tôi nhổ toẹt vào nền văn minh nhập ngoại lai căng
Đang xâu xé xứ sở tôi tan nát!…

Di Chúc

Bài thơ dịch của tác giả Alda Lara

Cô gái điếm nào vui tính nhất
Trong dãy phố đen rất mực u sầu
Tôi gửi lại cho cô đôi hoa tai
Óng ánh màu pha lê tươi sáng

Em gái trong sạch nào đang mộng ước
Xây lâu đài hạnh phúc giữa thinh không
Trong vòng tay một hoàng tử thuỷ chung
Còn chuỗi hạt vòng cũ kỹ của tôi
Tôi gửi lại ai
Làm việc tốt không chờ mong thượng đế

Những quyển sách tôi mua, dày dặn thế
(Như nỗi lo âu nối tiếp của con người)
Tôi gửi lại cho ai
Khiêm tốn nhất giữa những người khiêm tốn
Suốt một cuộc đời cùng khốn
Chưa bao giờ được học đánh vần!

Những bài thơ của tôi, chút tài sản cuối cùng
Những bài thơ điên khùng
Dệt nên từ nỗi đau diết da, nôn nóng
Và thấm đượm lòng khát khao hy vọng
Tôi gửi lại cho người tôi yêu

Buổi tối mùa đông Зимний вечер

Thơ dịch của tác giả Aleksandr Sergeevich Pushkin

Зимний вечер
Буря мглою небо кроет,
Вихри снежные крутя;
То, как зверь, она завоет,
То заплачет, как дитя,
То по кровле обветшалой
Вдруг соломой зашумит,
То, как путник запоздалый,
К нам в окошко застучит.

Наша ветхая лачужка
И печальна и темна.
Что же ты, моя старушка,
Приумолкла у окна?
Или бури завываньем
Ты, мой друг, утомлена,
Или дремлешь под жужжаньем
Своего веретена?

Выпьем, добрая подружка
Бедной юности моей,
Выпьем с горя; где же кружка?
Сердцу будет веселей.
Спой мне песню, как синица
Тихо за морем жила;
Спой мне песню, как девица
За водой поутру шла.

Буря мглою небо кроет,
Вихри снежные крутя;
То, как зверь, она завоет,
То заплачет, как дитя.
Выпьем, добрая подружка
Бедной юности моей,
Выпьем с горя: где же кружка?
Сердцу будет веселей.

1825

Bản dịch

Đầy trời bão nổi sa mù
Sâu xoáy từng cơn lốc tuyết
Lúc như thú rừng gầm thét
Lúc oà tiếng khóc trẻ thơ
Lúc trên mái nhà cổ sơ
Lay lắt tầng tranh than thở
Lúc đập gấp vào cửa sổ
Như người khách chậm đường xa.

Nỗi buồn tăm tối bao la
Phủ kín gian nhà dột nát,
U già ơi, sao héo hắt,
Sao u chẳng nói nên lời?
Hay tiếng thở than ngoài trời
Day dứt làm u mệt lả?
Hay guồng sợi quay rời rã
Rầm rì ru u ngủ quên?

U già của tuổi thơ con
Bạn của đời con cực khổ
Uống đi u vài ngụm nhỏ
Trái tim có bớt ưu phiền?
U hát con nghe bài hát
Về con chim biển bình yên
U hát con nghe bài hát
Cô em quẩy nước dịu hiền.

Đầy trời bão nổi sa mù
Sâu xoáy từng cơn lốc tuyết
Lúc như thú rừng gầm thét
Lúc oà tiếng khóc trẻ thơ…
Rượu đâu rồi? Uống đi u,
Bạn của đời con cực khổ
Uống đi u vài ngụm nhỏ
Trái tim có bớt ưu phiền?

“Đất không phải đất quê mình” “В поле, ручьями изрытом”

“В поле, ручьями изрытом”
В поле, ручьями изрытом,
И на чужой стороне
Тем же родным, незабытым
Пахнет земля по весне.

Полой водой и нежданно –
Самой простой, полевой
Травкою той безымянной,
Что и у нас под Москвой.

И, доверяясь примете,
Можно подумать, что нет
Ни этих немцев на свете,
Ни расстояний, ни лет.

Можно сказать: неужели
Правда, что где-то вдали
Жены без нас постарели,
Дети без нас подросли?..

1945

Bản dịch

Đất không phải đất quê mình
Cánh đồng sẫm nước, êm lành, bao la
Hương mùa xuân bỗng thoáng qua
Cỏ gì thân đến sâu xa, chạnh lòng

Ô hay là trận lũ ròng
Trải bình dị thế qua đồng qua khe
Lăn tăn màu cỏ non kia
Có gì đâu khác bên quê xứ mình

Tưởng như giây phút thình lình
Chưa hề có cuộc chiến tranh qua rồi
Chưa hề năm tháng xa xôi
Chưa bao cách trở đứng ngồi không yên

Vợ mình hẳn đã già thêm
Con mình từ ấy lớn lên bao rồi?
Mình qua cả cuộc đổi đời
Hương mùa xuân mãi bồi hồi nỗi chi?

“Trước chiến tranh..” “Перед войной…”

“Перед войной…”
Перед войной, как будто в знак беды,
Чтоб легче не была, явившись в новости,
Морозами неслыханной суровости
Пожгло и уничтожило сады.

И тяжко было сердцу удрученному
Средь буйной видеть зелени иной
Торчащие по-зимнему, по-черному
Деревья, что не ожили весной.

Под их корой, как у бревна отхлупшею,
Виднелся мертвенный коричневый нагар.
И повсеместно избранные, лучшие
Постиг деревья гибельный удар…

Прошли года. Деревья умерщвленные
С нежданной силой ожили опять,
Живые ветки выдали, зеленые…

Прошла война. А ты все плачешь, мать.

“Hoa tử đinh hương-Vẫn như thời Xô Viết”

Thơ dịch của tác giả Alexander Semenovich Kushner

Hoa tử đinh hương. Vẫn như thời Xô Viết
Tím nhạt, phớt hồng như thế xưa nay
Chả lẽ đời mình lại chia ra từng khúc
Đoạn này rợp bóng cây, đoạn khác lội ao lầy?

Khi bạn bè hỏi tôi: Bây giờ còn viết nổi?
Viết tồi hơn hay khá hơn, cốt khỏi hoá nhạt phèo!
Tôi có khác được không, khi cuộc đời đã khác
Tôi xỏ giày đế cao, hay phải có cà kheo?

Tôi chỉ biết lắc đầu. Lại nhìn hoa, tự nhủ:
Khóm tử đinh hương vẫn đẹp thế trong chiều!

2001

Những khối vuông Cuadrados y ángulos

Thơ dịch của tác giả Alfonsina Storni

Cuadrados y ángulos
Casas enfiladas, casas enfiladas,
casas enfiladas,
cuadrados, cuadrados, cuadrados,
casas enfiladas.
Las gentes ya tienen el alma cuadrada,
ideas en fila
y ángulo en la espalda;
yo misma he vertido
ayer una lágrima,
Dios mío, cuadrada.

Bản dịch
Nhà tiếp nhà, xếp hàng từng dãy
Những khối vuông, buồn tẻ những khối vuông
Đơn điệu và bằng phẳng xếp hàng
Tôi nhìn mãi, tức mắt vì nhìn mãi
Vuông, vuông, vuông… in hằn vào tròng mắt
Mọi ý nghĩ trong đầu dần xếp gọn thành vuông
Đến cả giọt nước mắt trào ra
Cũng phải xếp hàng, rơi đều tăm tắp
Và trời ơi! Đâu còn là nước mắt
Chúng cũng là những giọt nước hình vuông!

“Trong cơ thể mỗi con người bình thường” “В

Thơ dịch của tác giả Andrey Andreevich Voznhesenski

“В человеческом организме”
В человеческом организме
девяносто процентов воды,
как, наверное, в Паганини,
девяносто процентов любви.

Даже если – как исключение –
вас растаптывает толпа,
в человеческом
назначении –
девяносто процентов добра.

Девяносто процентов музыки,
даже если она беда,
так во мне,
несмотря на мусор,
девяносто процентов тебя.

Trong cơ thể mỗi con người bình thường
Đến 90% là nước
Còn trong cơ thể Paganini
Đến 90% là tình yêu

Dẫu ta bị đám đông người dẫm đạp
Thì cũng chỉ là ngoại lệ mà thôi!
Đến 90% những gì là bản chất
Là lòng tốt, lòng bao dung giữa tất thảy con người

Nếu lời hát có nghèo nàn đơn điệu
Thì 90% chất nhạc vẫn còn
Cũng như trong người anh, dù có phần bã thải
Thì 90% dành cho em vẫn vẹn nguyên tinh khiết tâm hồn!

“Tình yêu muộn, như mùa xuân đến muộn”

Thơ dịch của tác giả Andrey Dmitrjevich Dementiev

“Поздняя любовь, как поздняя весна”
Поздняя любовь, как поздняя весна,
Что приходит на землю без солнца.
Поздняя любовь чуть-чуть грустна,
Даже если радостно смеется.

Пусть морщины бороздят чело.
Я забыл, когда мне было двадцать.
Все равно мне страшно повезло-
Ждать всю жизнь и все-таки дождаться
Той любви, единственной, моей,
Чьим дыханьем жизнь моя согрета…
Поздняя весна….
И пусть за ней будет жарким северное лето.

Tình yêu muộn, như mùa xuân đến muộn
Mùa xuân không còn nắng nữa rồi
Thoáng chút buồn ngơ ngẩn
Mà lẽ ra, đáng phải mỉm cười!

Nếp nhăn dãn ra trên trán
Tuổi 20 ở đâu, ta đã quên rồi!
Dẫu sao vẫn còn may
Chờ đợi suốt đời, để cùng tới được nơi mong đợi
Tới được tình yêu hiếm có
Cho ta sống lại từng ngày…
Muộn màng ư? Mùa xuân
Nhưng trước mắt còn cả mùa hè đón đợi!

Crime xưa cũ Старый Крым

Thơ dịch của tác giả Andrey Dmitrjevich Dementiev

Старый Крым
Мы приехали не вовремя:
Домик Грина на замке.
Раскричались что-то вороны
На зелёном сквозняке.

Домик Грина в тишине.
Я смотрю поверх калитки.
И почудилась в окне
Мне печаль его улыбки.

Нас к нему не допускают.
Нас от Грина сторожат.
И ограда зубы скалит,
Точно сорок лет назад.

Но спасибо добрым людям:
Снят замок, открыта дверь.
Не одни мы Грина любим,
Не одни скорбим теперь.

Мы заходим в домик низкий,
В эту бедность и покой.
Свечи — словно обелиски
Над оборванной строкой.

Всюду даты и цитаты.
Не изменишь ничего.
Все мы горько виноваты
Перед памятью его.

И за то, что прожил мало.
И за то, что бедно жил,
И за то, что парус алый
Не всегда нам виден был.

Chúng tôi đến đây không đúng lúc
Ngôi nhà Grin* đã đóng chặt rồi
Chỉ bầy quạ còn bay quanh nháo nhác
Bốn phía rêu xanh, gió thổi liên hồi!

Ngôi nhà nhỏ, chìm trong tĩnh lặng
Tôi ngó vào, cánh cửa gỗ lặng im
Còn tưởng nhớ dáng nhà văn bên cửa
Nụ cười buồn ghi dấu đã bao năm…

Chợt may mắn, bác làm vườn tốt bụng
Thương chúng tôi, mở khoá đón vào thăm
Đâu phải riêng tôi yêu Grin mơ mộng
Và xót xa bao khát vọng xa dần!

Chúng tôi bước vào căn nhà chật hẹp
Yên tĩnh mênh mông với cảnh nghèo nàn
Cây nến tắt không ai buồn châm lại
Trang bản thảo mốc meo, giờ đã úa vàng…

Những ghi chép, những tâm tình, năm tháng…
Bụi bặm phủ đầy, không ai nỡ đổi thay
Ta mắc lỗi với những gì mơ mộng
Với di hồn Grin còn quanh quất đâu đây!

Ta mắc lỗi với ông vì đời ông quá ngắn
Mà số phận ông cay cực nhường này!
Ta mắc lỗi vì cánh buồm đỏ thắm
Vẫn xa vời cho đến tận hôm nay!

Người được sống

Thơ dịch của Antal Hidas

Tôi đã sống lâu hơn Lênin tới 24 năm
Và gấp cả 3 lần tuổi đời Pêtôphi đã sống
Tôi còn ao ước gì?

Cuộc đời như con tàu bí ẩn
Kéo theo con tàu là chiếc sà-lan
Kéo theo sà-lan là phập phồng bè mảng
Tôi đã đến tuổi rời tàu, rời sà-lan, nhảy lên chiếc mảng
Để được phiêu lưu, sống chết bềnh bồng
Nhưng tôi chưa dám…

Tôi cũng đã chứng kiến những đổi thay vĩ đại
Lẽ ra, tôi có thể sống tuyệt vời hơn thế kỷ của mình
Biết bao diệu kỳ xảy ra ngay cạnh đời tôi
Mà tôi chẳng tham gia gì cả!

Tất nhiên, tôi vẫn còn muốn sống
Nói sòng phẳng ra, ai muốn chết làm gì!
Dù đã sống nhiều, vẫn là rất ít
Và điều đáng lo sợ nhất
Là mình không đủ đức tài, không đủ thời gian
Để đạt tới cuộc sống đầy cảm hứng!

Và về người đã chết

Thơ dịch của Antal Hidas

Người ta nói
Đến cuối thiên niên kỷ thứ hai
Trái đất bé nhỏ này sẽ đầy lên đến 6 tỷ người
Nhưng có ai nghĩ thêm
Rằng còn nhiều tỷ người hơn thế nữa đã nằm trong lòng đất
Sự thật này có làm người sống buồn lòng không nhỉ?
Chắc chẳng có gì đâu
Vì không cần điều này. Trái đất cũng đã đủ chuyện buồn khôn xiết
Chia ra cho 6 tỷ con người!

Dịch của Antonio Machado

Bức tranh

Trên nền trời thẳm xanh
Một dãy chấm đen của đàn chim di trú
Trong chốc lát, trên rừng dương buốt giá
Bầy chim quang quác lượn vòng
Hàng ngàn cánh chim ấm nóng vẫy vùng
Rồi ủ cánh thu mình trên cành cây băng tuyết
Giống những nốt nhạc đen, tự trời cao siêu việt
Hiện trên giấy trắng tinh – thành bản nhạc giao muà

Hơi mát

Hơi mát đầu xuân phả xuống cánh rừng
Như cái hôn vô hình của Trời trao tặng Đất
Một chút gì mới tinh, không thể mất
Trong khói sương xanh thẳm đến vô cùng…

Những đám mây cao, lớp lớp trập trùng
Như bốc dậy từ men say đất trẻ,
Lá non mướt, khiến tim mình run khẽ
Hạt mưa nào thấm đẫm mãi thung sâu…

Hoa hạnh đào ơi, đẹp quá, có ai đâu!
Sao cành vẫn khoe tươi, hoa một mình trổ sắc?
Khiến ta nhớ tuổi dại khờ ngày trước
Tuổi biết yêu mà không có ai yêu!

Đời đã hầu qua, mất mát đã nhiều
Đâu có thể chọn con đường khác nữa?
Nhưng dẫu thế, rừng ơi, ta vẫn nhớ
Hơi mát đầu xuân từ giấc mộng không còn…

(Dịch từ bản tiếng Nga)

Dịch thơ của Bengt Berg (Thuỵ Điển)

Ánh sáng Bắc Âu Nordisk ljus

Nordisk ljus
Vad ska vi säga om ljuset?
Katten ser rakt in i mörkret
utan ficklampa, lysmasken
syns utan neon
Ur mörkret stiga vi mot ljuset
heter det visst
i den gamla vackra visan

Detta nordiska ljus
som vi stiger in i och ut ur,
detta dystermängda mjuka mörker
som mossan och granskogen
tillhandahåller, dessa skimrande gläntor i taigan
som björkdungarna har dukat upp
– allt har färgat våra sinnen
med sitt ljus och med sitt mörker

Vad mer kan vi säga om ljuset,
det inifrån växande, det skapade
det trodda?

Och djupt där nere
i förkastningsklyftans vattendunkel
nosar hornsimpan runt
sökande sin utopi

I regnets höga gran kurar koltrasthonan
laddad med juliljusets batterier
medan vi andra, vi
av skonötarsläktet komna
vandrar barrskogstrottoaren
fram och åter
medan vi grunnar på:
Vad ska vi säga om ljuset?

Frågan är öppen, ljuset
står fritt, som en skimrande
Regnvåt hässjestör
ute på den igår nyslagna
havreåkern

Chúng ta sẽ nói gì về ánh sáng?
Con mèo nhìn được trong tối
mà đâu cần bật flash lên, con đom đóm bay
nhìn thấy nó, đâu cần đến đèn nê-ông soi rọi
Chúng ta trèo từ bóng tối ra ánh sáng
như lời một bài hát cổ xưa đẹp đẽ
Rằng ánh sáng Bắc Âu
nơi chúng ta lang thang khắp bên trong bên ngoài nó
thứ bóng tối mịn màng u ám
tạo ra từ những rừng thông rêu phong
nơi nhiều vệt bóng sáng nhạt nhoà
giữa những vòm bu-lô bàng bạc – Tất cả chúng
cùng ánh sáng và bóng tối của riêng mình
đã nhuộm màu mọi giác quan ta có

Còn có thể nói gì thêm về ánh sáng
ánh sáng tự lớn lên trong nó, ánh sáng được tạo ra
hay ánh sáng được tin cậy?
Và sâu thẳm trong bóng tối
tận đáy hồ băng
con cá băng ba vảy bốn vây đánh hơi sục sạo
tìm kiếm cho mình điều gì không tưởng
giữa bùn và đá

Một con chim đen đến đậu
trên cây thông cao trong mưa
Nó được nạp điện bằng pin của ánh sáng tháng Bảy
trong khi chúng ta thì khác
chúng ta
lũ hậu duệ của giống sinh vật đi giày
vơ vẩn trong đường mòn những rừng thông
loay hoay lùi lại tiến
để tự hỏi mình dò dẫm:
Nói gì về ánh sáng được đây?
Câu hỏi mở, còn ánh sáng vẫn đứng tách ra
giống thằng bù nhìn canh lúa ướt đầm
đứng ngoài mùa lúa mạch chín vừa thu hoạch!

Hãy sẵn sàng cho ngày mới
nghĩ đến tình yêu chốc lát thôi
Biết rằng con đường rồi kết thúc
cũng chính ở nơi
nó đã bắt đầu

Đứng yên
đợi cơn mưa
Tìm lại một vòng tròn trên cỏ
nơi ta từng đứng đó
Khum bàn tay lại với nhau
mà vệt tròn kia, như một vòng bảo vệ

Nghĩ đến tình yêu, nên biết
rằng cơn mưa chẳng còn mấy chốc
sẽ bắt đầu rơi: hãy mở lòng tay ra!

Hai trái berry đỏ Två röda bär

Två röda bär
bakom oss höstens rostiga glädje
och den där gamla gistna ekan
som dras upp ur älven år efter år,
ett hundskall genom förmiddagen
– sound-check inför älgjakten

där framför, bortom skogen,
väntar det som kallas framtid

dit är du på väg, med två röda bär
i handen, ett för dig själv
och ett för världen

mot makten står du rustad
med ljungens ljusa envishet,
du vet att det räcker inte långt
inte ens väderstrecken räcker till

men armarna når runt en dröm
där tiden inte rusar och där alla barn
kan all världens språk: varje tunga
leker den frihet som inte finns

den som inte lyssnar på det obegripliga
kommer aldrig att förstå nånting

vi är inte bara det vi är
vi blir det vi ser

två röda bär; där står du
på världens tröskel, du går på luften
och vinden blåser i ditt hår

đằng sau nỗi thích thú đã han rỉ của mùa thu
và con thuyền chèo tay ngấm nước
đã bị lôi khỏi dòng sông
năm này sang năm khác
một con chó ăng ẳng sủa dài suốt sáng
– âm thanh báo trước cuộc đi săn

ở đằng trước, phía bên kia khu rừng
cái được gọi là tương lai, đang phải đợi

cũng là đường bạn đang tới đó, tay cầm
hai trái berry đỏ mọng
một là để dành cho bạn
còn lại dành cho thế giới trái kia!
chống lại sức mình, bạn cố đứng lên
tựa vào cây gậy bằng gỗ thạch thảo
lì lợm đến thành bóng loáng
dù biết rằng sức nó không thể đủ
không đủ, dù cho cả bốn điểm tựa chính
hãy còn đủ cả

nhưng dẫu sao, tay bạn đã chạm tới giấc mơ
nơi thời gian cũng chẳng cần vội vã, và là nơi
mọi đứa trẻ có thể nói mọi ngôn ngữ trên thế giới
vậy là mỗi cái lưỡi đều cảm nhận tự do
điều tưởng không tồn tại

bạn, người không nghe nổi điều không thể hiểu
sẽ chẳng bao giờ hiểu được điều gì

ta đâu chỉ là ta khi đang là ta
ta phải trở thành điều ta nhìn thấy

hai trái berry đỏ, bạn đang đứng đây
trên ngưỡng cửa thế giới, và bạn
đi bộ trong không, khi gió thổi không nguôi
vào tóc bạn

Hãy để mình thoát ra Levandet är ingen läxa

Levandet är ingen läxa
Levandet är ingen läxa
sen går jag ut, ut i världen
den där makalösa skapelsen av jord och vind
som ligger där väntande som ett nybakat bröd
inför våra blickar, sen går jag ut och möter
alla dessa människor som håller samhället
vid liv och gräset grönt, ut i den
friska luften som förser oss
med drömmar och ärr

Hãy để mình thoát ra, đi vào thế giới
nơi có mọi kiến tạo tuyệt vời của đất và của gió
đang chờ ta như một ổ bánh mì vừa mới nướng xong
Hướng ra ngoài đi và sẽ gặp những con người biết giữ
nếp hoạt động cho cả cộng đồng và sắc cỏ mãi tươi xanh
ra không khí tươi trong đi, có thể đủ cho ta
vừa có những cơn mơ vừa những vết thương thành sẹo

Sự giản đơn Det enklaste

Det enklaste
1
Det är ännu en sommar
och det blåser
på handens nyckelpiga
Det är mitt i kvällen
Jag sitter helt enkelt
på trappan

2
Det är äntligen augusti
Ingen tänker på de dova isar
som också de
är på väg –
Och ingen vet
varför vinden låter
just som den gör
Det är heller inte nödvändigt,
det behövs inte
Men gräset behövs
och regnet, det förbannade
regnet behövs
De långsamma maskarna behövs
för att jorden
och vi –

3
Blåsten är kvar
och vet vad den vill
med just denna kväll
som samtidigt liknar en syrenkvist
och en schäfernos

4
Att låna någon med blicken
utan att veta

Bortom mörkret
väntar mörkret

Gräset har nått
sin absoluta grönska

Vågorna ropar sina namn,
det lilla svaret
på den barnsligt stora frågan

5
Det finns stunder
då tankarna trevar
likt blinda igelkottar
över de stenar
som vant sig vid väntan
mitt i en kväll

Jag sitter
helt enkelt på trappan

1
Vẫn còn mùa hè
Và cơn gió chạm vào da
Con bọ nhỏ đậu trên tay
Vẫn mới giữa chiều
Tôi ngồi hoàn toàn giản dị
Trong vòm cửa

2
Thế rồi đã vào tháng Tám
Chưa ai nghĩ gì cảnh mờ đục tuyết băng
thì, lại chính nó đang
trên đường ruổi tới
Và cũng không ai biết
vì sao cơn gió rít gào
hiểu cách nó rít thế nào
Thực sự điều này có cần chi lắm
mà cần làm quái gì!
Nhưng ngọn cỏ kia thì cần
và cơn mưa, cơn mưa đáng ghét
lại cũng cần
Cho tới loài giun bò chậm rãi, cũng cần
cần cho đất
và cho ta nữa

3
Gió ở đằng kia
và biết nó cần gì
làm gì với buổi chiều nay
khi nó cho cùng đồng hiện giống nhau
một cành hoa tử đinh hương
với mũi loài chó săn cừu hung dữ

4
Mượn của ai đôi mắt
mà không biết

Vì đằng sau bóng tối
vẫn còn bóng tối đang chờ

Cỏ thì đã tới đỉnh cao
đạt sắc xanh tột cùng của nó

Những con sóng gào lên tên mình
như một câu trả lời nhỏ nhoi
trước câu hỏi đầy tính trẻ thơ cực lớn

5
Có những khoảnh khắc
khi ý nghĩ cứ mò mẫm
như những con nhím mù
ngẩn ngơ trên đá
và quen đợi chờ
giữa buổi chiều chạng vạng

Tôi đang ngồi thế thôi
Hoàn toàn giản đơn
Trong vòm cửa

Sự thấu thị Insikt

Insikt
Morgonens fjärilar
– deras liv förefaller
självklart på ett helt annat sätt
än mitt eget, de förmår
behandla luften
som något annat än det nödvändiga
Lekfullt och allvarsamt
ger de sig hän
som visste de själva
varför

Những cánh bướm ban mai
– Cuộc sống chúng xuất hiện
tự nhiên trong cách hoàn toàn khác biệt
ngay trước mắt tôi, chúng có khả năng
lấy từ trên không
một thứ gì cạnh những thứ cần thiết khác
Và vừa chơi đùa vừa nghiêm túc
chúng tha hồ cho mình lượn bay
cứ như chúng biết rõ
vì sao

Vùng bắc Icarus Nordlig Ikaros

Nordlig Ikaros
I sandaler genom drivsnön
med en tango runt halsen

Kanske finns det mörka dagar,
ljusa nätter, en gnistrande hinna av hopp?

Men månskäran ger inga löften
Granskogen tiger still

Extasen på villovägar: Vargspåren
leder rakt in i drömmen

Stjärntäcket värmer blicken
när jag tömmer blåsan i snön

Rimfrostens vingar, minus 23 grader C
och snart är det midnatt

Hela världen finns ännu kvar,
av livet återstår ett par pedaler

Vinterns välde råder,
det är långt till Rio de la Plata . . .

Lê đôi xăng đan trên tuyết băng trơn trượt
ngỡ điệu tăng-gô uốn quanh cổ rập rình

Những ngày đó hầu như tối sẫm
chỉ sáng về đêm, như loé lên lớp hi vọng mong manh?

Nhưng vừng trăng khuyết hứa hẹn gì đâu
Rừng gỗ vân sam cũng im lìm ngậm miệng

Ảo giác ngất ngây xui đi lạc hướng
vết chân chó sói dẫn thẳng vào cơn mơ

Điều an ủi duy nhất làm cái nhìn ấm lên
là những ngôi sao, khi tôi ngả mình trên tuyết

Sương muối xoải cánh – 23°C
và đã gần nửa đêm thì phải

Cả thế giới vẫn còn cả kia
nhưng cuộc sống còn lại đôi bàn đạp

Đế chế mùa Đông ngự trị
Tới được Rio de la Plata đường thật quá dài!…

Dịch thơ của Bertalicia Peralta

Mâu thuẫn

Một nhà cách mạng ra đi
Vì một viên đạn của kẻ thù ác độc
Ngay giữa chỗ đông người
Ra đi vì sự phản phúc của bầy lang sói
Nhưng không một tiếng vang nào dội lại
Thi thể của ông, đến người thân cũng không được ngắm nhìn
Chỉ còn lại cái tên trong trí nhớ

Một tên độc tài ra đi
Sung mãn vì không còn gì ao ước nữa
Một kẻ không bao giờ yêu ai
Và cũng không một ai yêu hắn
Nhưng xã hội vẫn hoàn toàn tĩnh lặng
Khi ngày hắn ra đi được bố cáo là ngày quốc tang!
(Dịch từ bản tiếng Nga)

Mở to mắt nhìn

Đói khổ ăn ta
Như loài sâu ăn lá

Không có bánh
Biết lấy gì chia sẻ?
Không có nhà
Lấy đâu chỗ tới lui?
Không bánh, không nhà
Không cả khách vãng lai
Thì tình yêu cũng quay lưng nốt!

Nhưng đến tình yêu cũng không có nữa
Thì ta chỉ lập loè như đom đóm ma trơi!

Ngày đầu

Chúng ta sống kiểu gì
Như thể tưởng ngày mai đã là ngày chót!

Mà đúng ra, xét kỹ
Nó vẫn phải là ngày đầu tiên!

(dịch qua bản tiếng Nga)

Xã hội học

Đất nước thì còn non trẻ
Cư dân thì không có nhiều

Nhưng là Tổ quốc của họ
Nên họ gắn bó sớm chiều

Gì lớn bằng niềm hạnh phúc
Có đất nước để thương yêu

(Dịch từ bản tiếng Nga)

Những bản dịch thơ tác giả khác của nha thơ Bằng Việt khẳng định tài năng và vị thế của ông trong nền thơ ca việt nam và thơ ca thế giới. Cùng xem tiếp:

so1vn - Tags: