Khuynh hướng cách tân trong thơ Việt sau 1975

(Mai Văn Phấn)        

 Thơ Việt Nam đương đại tương đối phong phú và đa dạng. Trong phương diện nào đó, có thể so sánh với thơ một số nước trong khu vực và trên thế giới. Sau năm 1975, rõ nét hơn đến đầu thập niên 90, bên cạnh những khuynh hướng bảo tồn thơ truyền thống, thơ Việt xuất hiện trào lưu mới thường được gọi chung bằng cụm từ: Thơ cách tân sau năm 1975.

 

"Mỗi hoài ngâm thảo" của Hà Đình Nguyễn Thuật trong dòng thơ sứ trình thời Nguyễn nửa sau thế kỷ XIX

(Đỗ Thị Thu Thủy)

            Nguyễn Thuật (1842 - 1911), tên tự: Hiếu Sinh, hiệu: Hà Đình, là một nhà chính trị, nhà văn hóa, nhà thơ tiêu biểu của Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX. Dưới thời vua Tự Đức, ông đã hai lần được triều đình cử sang sứ nhà Thanh - Trung Hoa làm công việc bang giao (các năm 1880 - 1882, 1882 - 1883). Như nhiều sứ thần khác, trong thời gian đi sứ Nguyễn Thuật cũng viết văn, làm thơ xướng họa, thù tạc với quan lại, nhân sĩ các nước; đề vịnh phong cảnh núi sông hoặc biểu lộ tâm sự của người xa nước, xa quê trên hành trình “đất xa ngàn dặm”.

 

Căn thơ lục bát Đỗ Trọng Khơi – nhìn từ tập thơ "Ở thế gian" (*)

(Văn Giá)          

Tính số lượng những bài thơ mà Đỗ Trọng Khơi làm từ những năm tám mươi của thế kỷ trước cho đến nay không phải là ít, dễ đến hơn chục tập, ngót nghét cũng đã có cả nghìn bài. Thế nhưng, hầu như ai cũng cho rằng phần thơ hay nhất, tinh hoa nhất của Đỗ Trọng Khơi thuộc về lục bát. Tôi cũng nghĩ như vậy. Ở bất cứ tập thơ nào của anh, những bài thơ lục bát cũng chiếm phần nổi trội, nặng đồng cân  cả về lượng lẫn  chất. Ngay cả  bài thơ tự vịnh về bản thân mình, bằng một cách rất tự nhiên, nhà thơ này cũng tìm về lục bát: “Có người họ Đỗ tên Khơi/thân như mây nổi tự thời mới ra/ mặt trần gian chửa thấy già / nghe sương gió vẫn oa oa khóc cười…” (Tựa).

 

Tôi đọc "Miền hoang" của Sương Nguyệt Minh

(Lã Nguyên)

                                                                            

            1. Miền hoang[1] của Sương Nguyệt Minh sinh hạ mới già nửa năm. Nếu chỉ tính tiểu thuyết, nó là đứa con đầu lòng của tác giả. Trước đó, ông thành danh nhờ truyện ngắn. Đặt bên cạnh những tập truyện ngắn trước kia của ông, thấy Miền hoang vẫn nằm trong văn mạch của một cây bút đã định hình phong cách.

 

Dịch là khác

(Trần Ngọc Hiếu)     

Có thể cần phải thay những mệnh đề tiêu cực về dịch thuật “dịch là phản”, “dịch là diệt”… bằng một mệnh đề khác, bao quát tốt hơn bản chất và vai trò của dịch thuật: dịch là khác. Từ vị thế ngoại biên, dịch không chỉ môi giới, du nhập, bứng trồng cái khác mà còn kiến tạo cái khác ngay trong lòng văn hóa.

 

Kỉ niệm về những ngày đầu ở Trường Viết văn Nguyễn Du

(Hữu Thỉnh)

 

       "Có lẽ đó là lúc trí tuệ gặp gỡ với tâm hồn, tài năng gặp gỡ với tấm lòng, tuệ giác gặp gỡ với thiên lương. Và nhà trường là nơi có nhiều cơ hội nhất để làm việc đó. Ở đó có gieo và gặt, có lan toả và kết tinh. Nơi đã làm cho lòng biết ơn trở nên không bao giờ cũ. Sau ba mươi lăm năm, đã nghĩ về Trường Viết văn Nguyễn Du như thế". 

 

Những đám mây sẽ còn ở lại (Tại sao văn chương Nguyễn Bình Phương khác biệt?)

(Cao Việt Dũng)          

 Độc giả chuyên nghiệp hay không chuyên dễ dàng quy văn chương Nguyễn Bình Phương vào một chữ “lạ” (hay ít thiện chí hơn thì “khó hiểu”) rồi yên tâm với cách sắp xếp xét cho cùng rất yên ổn như vậy. Nhưng hết cuốn tiểu thuyết này đến cuốn tiểu thuyết khác, văn chương ấy cứ cựa quậy không ngừng, giống những cặp rắn trở đi trở lại mãi kể từ tác phẩm rất sớm như Bả giời, lúc nào cũng đe dọa vùng thoát khỏi một cách nghĩ hợp lý này hay một nhận định hợp lý khác. Nó sẵn sàng đi vào những khoảng trống phi lý, như thể liên tục nhắc nhở người ta nhớ rằng quả thật có tồn tại những khoảng khuất, và văn chương thật ra chia làm hai nửa: một nửa nỗ lực miêu tả phía bên này của mặt trăng, nửa kia thì tìm cách lấn vào quãng tối tăm khó dò còn lại.

 

Tạp chí Bách Khoa và đời sống xã hội Sài Gòn


(Vũ Thị Thu Thanh)           

Bài viết này nghiên cứu đời sống xã hội ở Sài Gòn thông qua góc nhìn của tạp chí Bách Khoa. Bằng cách lần theo các dấu vết của tờ báo như giá bán, số trang, chủ đề bài viết, nội dung bài viết, số quảng cáo… chúng tôi sẽ trình bày những nét cơ bản về đời sống chính trị, đời sống kinh tế và đời sống văn hóa (tập trung vào đời sống báo chí) tại Sài Gòn trong giai đoạn (1954-1975).

 

Tư tưởng của Weber về quan hệ giữa tôn giáo và phát triển

(Biên dịch: Phạm Hồng Anh)       

Lời mở đầu: Max Weber là một trong ba nhà triết học có khả năng giải thích cho chúng ta một cách cặn kẽ nhất về hệ thống kinh tế đặc thù có tên gọi Chủ nghĩa tư bản (Karl Marx và Adam Smith là hai người còn lại).

 

Vài cảm nhận về truyện ngắn “Cây đèn gia bảo”

(PGS.TS Hoàng Kim Ngọc)

                      “Cây đèn gia bảo” của tác giả Phạm Xuân Hiếu là một truyện ngắn đã hấp dẫn tôi ngay từ dòng đầu tiên cho đến dòng cuối cùng.

 
 
Copyright © 2009 - 2016 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com