Một kiểu nhà báo – nhà văn chiến tranh nhìn qua trường hợp Dương Thị Xuân Quý

(Văn Giá)                                          

Tóm tắt: Nhà báo – nhà văn Dương Thị Xuân Quý  sinh ngày 19 tháng 4 năm 1941, hy sinh ngày 8 tháng 3 năm 1969.  Bà nguyên là phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1968. Tháng 7 năm 1968, bà xung phong vào chiến trường, nhận nhiệm vụ phóng viên Tạp chí Văn nghệ giải phóng  thuộc trung Trung bộ (Khu 5). Đêm 8 tháng 3 năm 1969, trong một trận càn quét ác liệt của quân địch, bà đã hy sinh tại thôn Thi Thại, xã Xuyên Tân (nay là xã Duy Thành), huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Với tư cách là một nhà báo-nhà văn chiến trường, bà tiêu biểu cho một kiểu người viết của Việt Nam những năm chiến tranh trong  ý nghĩa dấn thân, tác nghiệp và sáng tạo.

 

Ngôn ngữ thế giới quan và bức tranh thế giới bằng ngôn từ trong thơ Tố Hữu


(Lã Nguyên)         

Văn học là hiện tượng tư tưởng hệ, diễn ngôn văn học “nói” bằng ngôn ngữ thế giới quan. Tôi hiểu ngôn ngữ thế giới quan là hệ thống kí hiệu, là cấu trúc biểu nghĩa của một cộng đồng ngôn ngữ được sử dụng để kiến tạo bức tranh thế giới qua lăng kính giá trị của nó trong giao tiếp. Đó là bức tranh thế giới bằng ngôn từ[1]. Bức tranh này không đối lập, nhưng cũng không đồng nhất với bức tranh thế giới phân vai của chiến lược giao tiếp, vì nó thuộc về một cấp độ khác: cấp độ tư tưởng hệ. Có bao nhiêu nhiêu lĩnh vực giao tiếp lời nói, có bấy nhiêu ngôn ngữ thế giới quan. Có bao nhiêu ngôn ngữ thế giới quan, có bấy nhiêu bức tranh thế giới bằng ngôn từ.

 

Một vài hồi ức về bài giảng Lịch sử tư tưởng phương Đông của thầy Trần Đình Hượu

 (Lại Nguyên Ân)    

 Trong những năm học đại học của tôi (1964-1968), bài giảng về lịch sử tư tưởng phương Đông của thầy Trần Đình Hượu là một trong những bài giảng, đối với tôi, là đáng nhớ nhất.Đó là vào cuối năm 1967, sinh viên khóa 9 lớp tôi đang ở năm thứ tư ngành Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Lúc ấy trường đóng ở nơi so tán, “giảng đường” là một căn nhà lá dưới chân đồi vùng núi Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, nền lớp học còn được đào sâu xuống gần một mét, theo quy tắc tranh bom bi, mặt bàn học thấp hơn mặt đất đồi xung quanh… 

 

“Cứ đi thì sẽ đến” – một tinh thần Viết văn Nguyễn Du

(Ngô Thị Kim Cúc)       

 Ngày 15/11/2014, Trường Viết văn Nguyễn Du (nay là Khoa Viết văn - Báo chí, Đại học Văn Hóa Hà Nội) đã tổ chức lễ kỷ niệm 35 năm thành lập (1979 – 2014). Đây là một ngôi trường nổi tiếng với đặc thù đào tạo chính quy chuyên ngành viết văn trên cả nước. Rất nhiều nhà văn, nhà thơ hiện đã thành danh từng theo học nơi đây, như: Hữu Thỉnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Lập Em, Khuất Quang Thụy, Ngô Thị Kim Cúc, Chu Lai, Đào Thắng… Nhân dịp Kỷ niệm 35 năm thành lập trường Viết văn Nguyễn Du, chúng tôi trân trọng giới thiệu một số bài viết của các nhà văn, nhà thơ thuộc các thế hệ sinh viên của ngôi trường này. 


 
Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học lịch sử

Nho giáo Việt Nam dưới góc nhìn xã hội học lịch sử


(vietvan.vn) – Tiểu luận dưới đây rút từ cuốn sách "Xã hội Nho giáo Việt Nam dưới nhãn quan của xã hội học lịch sử" (Nxb Tri Thức, H., 2014) của Giáo sư Trịnh Văn Thảo. Giáo sư Thảo giảng dạy tại Đại học Aix-en-Provence, là nhà nghiên cứu của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu khoa học Pháp (Viện nghiên cứu Đông Nam Á). Mối quan tâm và đồng thời là thành tựu nghiên cứu chủ yếu của Giáo sư Trịnh Văn Thảo là bàn về trí thức Việt Nam từ xã hội học.  Năm 2013, một trong những công trình quan trọng của ông đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Ba thế hệ trí thức người Việt (1862-1954) nghiên cứu lịch sử xã hội (Nxb Thế giới & Tuvanbooks). Công trình này, theo Bruno Péquignot (Giáo sư Xã hội học Đại học Paris 3, Sorbonne), "đã mang lại một sự đóng góp quan trọng cho bước đi của xã hội học khi có tính đến bề dày lịch sử của đối tượng của nó". vietvan.vn khuyến nghị bạn đọc quan tâm cần tìm đọc trọn vẹn các cuốn sách trên để nắm rõ hơn những luận điểm, phương pháp nghiên cứu có giá trị của Giáo sư Trịnh Văn Thảo.

 

Lý thuyết du hành


(Tác giả: Edward W. Said; Đào Nguyên dịch; Trần Cao hiệu đính)    

Giống như con người và các trường phái phê bình, các ý tưởng và các lý thuyết cũng dịch chuyển từ người này sang người khác, từ hoàn cảnh này sang hoàn cảnh khác, từ giai đoạn này sang giai đoạn khác.

 

Lí luận văn nghệ Mác-xít Việt Nam-nhìn từ bản gốc

(Lã Nguyên)         

 1. Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, muốn tránh tụt hậu ở cả hai lĩnh vực sáng tác và nghiên cứu, phê bình, Việt Nam cần từng bước xây dựng một nền lí luận văn nghệ hiện đại. Nhưng Việt Nam lại chủ trương “kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều này đặt ra một vấn đề bức thiết, đòi hỏi giới nghiên cứu phải tìm ra lời giải đáp đích đáng: làm thế nào để mĩ học Mac-xit vẫn là cơ sở kiến tạo lí thuyết của nền lí luận văn nghệ hiện đại ấy? Cách duy nhất có lẽ là hãy nhìn thẳng vào thực trạng của nền lí luận văn nghệ này. Vì phải nhìn thẳng vào đấy, ta mới nhận ra những điểm bất cập để khắc phục, đặng phát huy những hạt nhân hợp lí của nó. Trong phạm vi một bài viết ngắn, tôi chỉ có thể thảo luận về một vài khía cạnh mà thiết nghĩ là quan trọng.

 

Nhân đọc “Ba người khác” của Tô Hoài

(Lại Nguyên Ân)       

Tôi được đọc tác phẩm này tương đối sớm, trong dạng bản đánh máy, kiểu đọc“samizdat”, vào khoảng sau khi đọc Cát bụi chân ai, trước khi đọc Chiều chiều. Hàng chục năm nay chỉ biết nó vẫn chưa được đến với công chúng. Bây giờ nó đã được in ra, rất mừng! Quả thật, vào cái buổi sáng mà nhà báo Thu Hà cho tôi biết tin cuốn này ra mắt, tôi còn ngạc nhiên và chưa tin!

 

Sức mạnh của nỗi buồn

(Nguyễn Thị Từ Huy)       

Bảo Ninh, trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, đã nhìn nhận nỗi buồn như một cảm giác người căn bản nhất. Nỗi buồn chính là sức mạnh giúp con người chiến đấu và chiến thắng cả sự tàn khốc của chiến tranh lẫn sự phi nhân trong đời sống hòa bình. Với tác phẩm, nỗi buồn quy định cơ chế vận hành của văn bản. Với nhân vật chính, Kiên, nỗi buồn vừa có tính di truyền, vừa là sức mạnh kích hoạt hành động viết và duy trì khát vọng sống.

 

Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái

(Đặng Thái Hà)         

      Cheryll Glotfelty, trong tiểu luận “Literary Studies in an Age of Environmental Crisis” (Nghiên cứu văn học trong một Thời đại khủng hoảng môi trường) – một dẫn nhập đóng vai trò khai sinh ra lí thuyết phê bình sinh thái những năm cuối thập kỉ 80 thế kỉ XX; đã không ngớt ta thán về một sự chậm chạp không đáng có của giới nghiên cứu thời bấy giờ trong khả năng “phản ứng” lại đối với “những áp lực đương đại”.

 
 
Copyright © 2009 - 2015 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com