Lí luận văn nghệ Mác-xít Việt Nam-nhìn từ bản gốc

(Lã Nguyên)         

 1. Trong bối cảnh giao lưu, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, muốn tránh tụt hậu ở cả hai lĩnh vực sáng tác và nghiên cứu, phê bình, Việt Nam cần từng bước xây dựng một nền lí luận văn nghệ hiện đại. Nhưng Việt Nam lại chủ trương “kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa”. Điều này đặt ra một vấn đề bức thiết, đòi hỏi giới nghiên cứu phải tìm ra lời giải đáp đích đáng: làm thế nào để mĩ học Mac-xit vẫn là cơ sở kiến tạo lí thuyết của nền lí luận văn nghệ hiện đại ấy? Cách duy nhất có lẽ là hãy nhìn thẳng vào thực trạng của nền lí luận văn nghệ này. Vì phải nhìn thẳng vào đấy, ta mới nhận ra những điểm bất cập để khắc phục, đặng phát huy những hạt nhân hợp lí của nó. Trong phạm vi một bài viết ngắn, tôi chỉ có thể thảo luận về một vài khía cạnh mà thiết nghĩ là quan trọng.

 

Nhân đọc “Ba người khác” của Tô Hoài

(Lại Nguyên Ân)       

Tôi được đọc tác phẩm này tương đối sớm, trong dạng bản đánh máy, kiểu đọc“samizdat”, vào khoảng sau khi đọc Cát bụi chân ai, trước khi đọc Chiều chiều. Hàng chục năm nay chỉ biết nó vẫn chưa được đến với công chúng. Bây giờ nó đã được in ra, rất mừng! Quả thật, vào cái buổi sáng mà nhà báo Thu Hà cho tôi biết tin cuốn này ra mắt, tôi còn ngạc nhiên và chưa tin!

 

Sức mạnh của nỗi buồn

(Nguyễn Thị Từ Huy)       

Bảo Ninh, trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh, đã nhìn nhận nỗi buồn như một cảm giác người căn bản nhất. Nỗi buồn chính là sức mạnh giúp con người chiến đấu và chiến thắng cả sự tàn khốc của chiến tranh lẫn sự phi nhân trong đời sống hòa bình. Với tác phẩm, nỗi buồn quy định cơ chế vận hành của văn bản. Với nhân vật chính, Kiên, nỗi buồn vừa có tính di truyền, vừa là sức mạnh kích hoạt hành động viết và duy trì khát vọng sống.

 

Bước đầu tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp từ điểm nhìn phê bình sinh thái

(Đặng Thái Hà)         

      Cheryll Glotfelty, trong tiểu luận “Literary Studies in an Age of Environmental Crisis” (Nghiên cứu văn học trong một Thời đại khủng hoảng môi trường) – một dẫn nhập đóng vai trò khai sinh ra lí thuyết phê bình sinh thái những năm cuối thập kỉ 80 thế kỉ XX; đã không ngớt ta thán về một sự chậm chạp không đáng có của giới nghiên cứu thời bấy giờ trong khả năng “phản ứng” lại đối với “những áp lực đương đại”.

 

Phạm Xuân Nguyên qua phê bình văn học

(Lưu Khánh Thơ)        

Là đồng môn, đồng nghiệp của Phạm Xuân Nguyên hàng chục năm nay, tôi đã đọc khá nhiều bài viết về chân dung của Nguyên. Nghiêm túc, suồng sã, "biếm họa"… đều có cả. Nguyên hiện diện trong làng văn nước nhà với nhiều tư cách: nhà phê bình, dịch giả, nhà báo, người dẫn chương trình cho các buổi ra mắt sách, giới thiệu tác giả, tác phẩm.

 

Chân dung người nghệ sĩ trẻ


(Võ Công Liêm)        

Đó là tựa đề trong tập truyên dài của James Joyce*: “Chân Dung Người Nghệ Sĩ Trẻ / A Portrait of the Artist as a Young Man”(1916) là tiếng nói tha thiết của con người yêu quê hương, một cái gì xót xa không thể tách khỏi tâm hồn người thanh niên trẻ, là tiếng nói ray rứt cho thân phận đất nước, một lời trầm thống qua nhân vật Dedalus từ trang đầu đến trang cuối, một lời nhắc nhở và là lời giải bày tâm sự, một tiếng nói của bi thương.

 

“Không gian văn hoá” Nho giáo Việt Nam

(GS. Trịnh Văn Thảo      

“Việt Nam chia sẻ với các nước Đông Á và Đông Nam Á một số giá trị xã hội chung hấp thụ từ Nho giáo và văn hóa Trung Quốc, tuy cách tiếp thu, đặc điểm thời gian và không gian có phần dị biệt, lúc thì nhẹ nhàng hơn, lúc thì sâu đậm hơn. Nhưng đối với các nước khác cùng nằm trong vùng “văn hóa Trung Quốc”, có lẽ Việt Nam đã ly cách với Trung Quốc một cách lâu dài và căn bản nhất: văn tự, văn học, giáo dục. Một phần vì truyền thống “ngoại dương, nội âm”, một phần vì tính chất toàn diện của chế độ thuộc địa của Pháp”

 

Viết như một khám phá

(Phong Điệp)       

Hội thảo quốc tế « Việt Nam đương đại : văn chương, điện ảnh, ngôn ngữ » diễn ra từ 17 đến 19 tháng 3, tại Hội trường Học Viện Inalco, Paris. Hội thảo được đồng tổ chức bởi: Họcviện Inalco (Học viện ngôn ngữ và văn minh phương Đông), ĐH Paris-Diderot, ĐH Paris-Est Créteil,ĐH Aix-Marseille, ĐH San Francisco, ĐH Ngọai ngữ Tokyo, ĐH Chulalongkorn. Mục tiêu của Hội thảo là khảo sát tình hình nghiên cứu và giới thiệu văn chương, điện ảnh, ngôn ngữ Việt nam đương đại trên thế giới. Một trong những nội dung quan trọng của hội thảo là dành cho văn chương.

 

Trần Nhân Tông - Chế Mân và quan hệ Đại Việt - Champa

 (Trần Ngọc Vương; Trần Trọng Dương)       

 Quan hệ Đại Việt- Champa luôn là mối quan hệ đối kháng tay đôi. Khi thì Đại Việt tiến đánh bắt sống vua Chiêm, khi thì quân Chiêm đánh trả, đốt phá kinh thành Thăng Long. Từ bối cảnh rộng lớn hơn, lịch sử giữa các quốc gia luôn là lịch sử của những tranh chấp địa giới, lãnh thổ. Khi mạnh thì một triều đại sẽ sẵn sàng mở cuộc chiến tranh thị uy, hoặc xâm chiếm đất đai nước khác; khi yếu sẽ bị những nước mạnh hơn lấn lướt và tiêu diệt. Quan hệ Đại Việt- Champa cũng không phải là một ngoại lệ.

 

 

L. Tolstoi trong sự tiếp nhận của độc giả miền Nam giai đoạn 1954 – 1975

(Trần Thị Quỳnh Nga)       

Ở miền Nam trước năm 1975, văn học Nga tuy không được dịch rộng rãi như văn học Anh, Pháp, Mĩ, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông… nhưng nền văn học này cũng có một vị trí đáng kể. Có thể thấy sự hiện diện của các tác giả Nga như L. Tolstoi, F. Dostoievski, A. Chekhov, M. Gorki, M. Cholokhov, B. Pasternak, A. Soljenitsyn… qua các bản dịch hoặc các bài nghiên cứu của giới phê bình Sài Gòn. Tuy nhiên, bằng ấy tên tuổi, dù tiêu biểu, chưa đủ để hình thành khái niệm về một nền văn học Nga toàn diện.

 
 
Copyright © 2009 - 2014 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com