Thông báo
Giới thiệu sách
Thống kê truy cập
|
Biểu tượng “Lưỡi” trong tiếng Việt(Hoàng Kim Ngọc) Tóm tắt: Lưỡi trong văn hóa truyền thống biểu trưng cho lời ăn tiếng nói, cho lối sống, cách đối nhân xử thế. Trong thơ đương đại Việt Nam, trên cơ sở tiếp nhận quan niệm truyền thống, biểu tượng lưỡi còn mang những ý nghĩa mới. Lưỡi biểu trưng cho tình yêu mãnh liệt với những khát khao nhục cảm. Lưỡi là hình tượng để qua đó thi sĩ thể hiện khát vọng sáng tạo; những nhận thức, trăn trở trong hành trình tìm tới chân - thiện – mĩ; những quan điểm, tư tưởng, tuyên ngôn về nghệ thuật… Chú giải ngắn về phê bình văn học Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác(Nguyễn Mạnh Tiến) Đọc sâu một phê bình, nghĩa là phải đọc đi đọc lại, lật tới lật lui từng lớp nghĩa, làm thành một vòng tròn của sự đọc/hiểu, nhằm thâm nhập cho được vào bản mệnh của phê bình, tức ở phần tư tưởng và phương pháp. Vì thế, kinh lịch của hoạt động đọc phải mang tính đường dài, kiên trinh và bền sâu. Ở đây, loay hoay trong khoảng không gian giới hạn của tiểu luận, tôi xin phép, chỉ trình ra cái hiểu ban đầu về phê bình văn học Đỗ Lai Thúy và Thơ như là mỹ học của cái khác[1] ở hai chất nền cơ bản kiến tạo nên tư tưởng phê bình của ông là: phương pháp hệ hình và mỹ học của cái khác. Một lời biện hộ cho thơ(Tác giả: Marcel Reich-Ranicki; Trương Hồng Quang dịch) LTS: Marcel Reich-Ranicki, sinh năm 1920, người ở Đức được mệnh danh là "Giáo hoàng văn học", là nhà phê bình văn học đương đại quan trọng nhất của CHLB Đức. "Một lời biện hộ cho thơ" là bài thuyết trình đọc vào ngày 30.11.1980 nhân dịp ra mắt Tập 5 của "Tuyển thơ Frankfurt" trong khuôn khổ chuyên mục thơ của nhật báo "Frankfurter Allgemeine Zeitung" (FAZ) mà tác giả là chủ biên phần văn học từ 1973 đến 1988. Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu bài "Một lời biện hộ cho thơ" của ông sau đây do dịch giả Trương Hồng Quang thực hiện Văn bản – Liên văn bản – Lí thuyết liên văn bản (*)
(Tác giả: G.K. KOSIKOV; Lã Nguyên dịch)
Thuật ngữ liên văn bản xuất hiện cách đây chưa lâu. Lần đầu tiên nó được J. Kristeva sử dụng trong một tham luận về sáng tác của M.M. Bakhtin đọc tại xêmina do R. Barthes chủ trì vào mùa thu năm 1966. Mùa xuân năm 1967, tham luận được công bố dưới dạng một bài báo có nhan đề: Bakhtin, lời nói, đối thoại và tiểu thuyết[i]. Còn một loạt công trình khác của Kristeva liên quan trực tiếp tới bài báo này, ví như “Lời nói đầu” viết cho bản dịch sang tiếng Pháp cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoevski (Một nền thi pháp học sụp đổ, 1970)[ii], hoặc tuyển tập Semeiotikē. Những công trình nghiên cứu lí thuyết biểu nghĩa (1969)[iii] và cuốn Văn bản tiểu thuyết (1970)[iv]. Đặc sắc tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa(Mai Anh Tuấn) Tóm tắt: Tiểu luận tập trung nghiên cứu tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ góc nhìn văn hóa học, nhân học văn hóa. Theo đó, các đặc điểm và giá trị nổi bật của tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh được qui về: Một là, những mô tả về lễ hội, những tạo tác thói quen tín ngưỡng và thăm dò tâm thức tôn giáo của Nguyễn Xuân Khánh cho thấy chúng là tạo phẩm văn hóa và do đó, các trạng thái nhân sinh sẽ thâu nhận chúng như một hạt nhân trội cấu thành bản sắc dân tộc. Hai là, bằng cách tri thức đa nguồn, nhà văn đã “sáng chế ra” dân tộc như một nỗ lực kiểm thảo, bổ khuyết những giá trị mới theo tinh thần tự chủ, khoan dung, hòa hợp. Ba là, dựa trên các sự thật lịch sử, nhà văn đã xây dựng những hình tượng nghệ thuật đặc sắc nhờ cơ chế hư cấu triệt để. Tiểu luận cũng chỉ ra và phân tích các tác nhân quan trọng đã ảnh hưởng đến tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh (trên hai phương diện sáng tác và tiếp nhận): văn hóa hậu-Đổi mới; quan niệm nghệ thuật của nhà văn; sự biến đổi các quan niệm về dân tộc, chủ nghĩa dân tộc trong khoa học xã hội; tư duy hư cấu lịch sử trong văn học Việt Nam đương đại. Các lí thuyết diễn ngôn hiện đại: Kinh nghiệm phân loại(Tác giả: O. F. Rusakova; Lã Nguyên dịch) Suốt cả thế kỉ XX, các khoa học nhân văn bị hiện tượng ngôn ngữ hút hồn. Nói theo Richard Rorty, “ngôn ngữ chiêu mộ thế giới” và, tất nhiên, tri thức đáng tin cậy nhất về thế giới đã được mã hoá trong ngôn ngữ. Nghiên cứu ngôn ngữ là chìa khoá để nghiên cứu con người và thế giới. Định đề này được ghi nhớ như là cơ sở phương pháp luận của các khoa học xã hội khác nhau và được trao cho danh hiệu “bước ngoặt ngôn ngữ học”. Từ cuối những năm 1960, trước tiên, nhờ hệ thống thuật ngữ và tư tưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại và kí hiệu học được quảng bá rộng rãi trong giới học thuật, “bước ngoặt ngôn ngữ học” biến thành “bước ngoặt diễn ngôn”. Chiêm bao – cửa sổ kí hiệu học
(Tác giả: Iu.M. Lotman; Lã Nguyên dịch) Trong lịch sử của sự nhận thức, điểm ngoặt là thời điểm xuất hiện khoảng cách tạm thời (khoảng lặng) giữa xung động và phản xạ trước xung động ấy. Sơ đồ sinh học khởi điểm được kiến tạo như sau: “kích thích – phản xạ”. Đồng thời, trong ý nghĩa lí tưởng, không gian giữa các yếu tố này mang tính nhất thời, tức là được xác định bằng thời gian sinh lí cần thiết để thực hiện phản xạ trực tiếp. Chủ nghĩa kinh điển mới và văn hóa(Tác giả: Frederick Turner; Nguyễn Tiến Văn dịch) Charles Jencks, nhà phê bình hậu
hiện đại, gần đây mở đầu một bài viết bằng mấy từ “Cái đẹp trở lại”. Đó là một
nhận xét muộn màng, nhưng trễ còn hơn chẳng bao giờ. Có một luồng gió mát thổi
suốt các nghệ thuật. Nó xảy ra trên khắp trái đất và ở cả trăm ngõ ngách khác
nhau của nghệ thuật và văn hoá. Luận văn này chính iếu sẽ xét đến các trường
hợp ở Hoa kì và vài trường hợp ở châu Au, nhưng với mạng lưới quốc tế Internet,
một thành tố mới có í nghĩa đã nhập cuộc, và trong khi thời Phục hưng có lẽ
phải mất 300 năm để phổ biến khắp châu Au và Phong trào Lãng mạn cả trăm năm
mới phổ biến khắp phương Tây, bây giờ chỉ cần một hai chục năm là toàn thế giới
bừng tỉnh trước sự thay đổi đang xảy ra ở khí hậu văn hoá. Nguyễn Đình Thi, bay qua mùa xuân(Đỗ Lai Thúy) "Nguyễn Đình
Thi sau Bốn Chín phân thân thành hai con người, người nghệ sĩ và ông quan văn
(nghệ). Sự giằng co giữa hai con người đó là “bất phân thắng phụ”. Khi thời
cuộc không thuận cho con người thư lại thì con người nghệ sĩ trỗi dậy, và
Nguyễn Đình Thi có Con Nai Đen, có Nguyễn Trãi Ở Đông Quan,
có Giấc Mơ, có những bài thơ như Hoa vàng, Một khoảng
trời xanh kia… Nhưng sự tán phát tinh lực, sự xuất hiện đơn độc những bài
thơ không vần giai đoạn này không tạo lập một phong trào. Cái thời điểm một
cánh én có thể làm nên cả mùa xuân đã trôi qua cùng với năm 1949. Như vậy, thơ
Việt Nam, ở miền Bắc sau Xuân thu nhã tập một lần nữa, lại nhỡ
một chuyến xuân." (ĐLT)Văn xuôi hậu hiện đại Việt Nam: Quốc tế và bản địa, cách tân và truyền thống(Lã Nguyên) "văn học hậu hiện đại đang đòi hỏi phê bình tìm đến một cách đọc văn học và một
lối viết phê bình kiểu mới. Đó là cách đọc của người tham dự vào trò diễn, đọc
“không phải là để hiểu một cái gì”, mà là để xem“những gì có thể hiểu” từ văn bản
đọc. Đó cũng là cách đọc khoa học, cách đọc không lười biếng tiếp nhận một tư
tưởng có sẵn, nổi trên bề mặt văn bản, mà xem văn bản là không gian văn hoá cất
dấu nhiều báu vật thôi thúc ta “khảo cổ tri thức”. Một khi đã đọc văn học như
thế, tôi chắc phê bình sẽ thay đổi chuyện viết, từ sự viết về nhà văn thành sự
viết về quá trình đọc của mình, như R. Barthes, hay M. Foucault từng làm từ những
năm 70 của thế kỉ trước." |