Những giới hạn của lý thuyết văn học nước ngoài ở Việt Nam

(Trương Đăng Dung)       

1.      Trong các bài viết gần đây về những đặc điểm của lí luận văn học hiện đại, hậu hiện đại, chúng tôi có nhận định rằng sự phát triển của hệ thống lí luận văn học trong thế kỷ XX cho thấy ở đâu lí luận văn học xác lập được bản chất tự nhiên đặc trưng của đối tượng nghiên cứu, khoanh vùng được đối tượng nghiên cứu với những vấn đề riêng, thì ở đó lí luận văn học mới có khả năng phát triển như một ngành khoa học thực sự.

 

Diễn từ nhận giải Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2017 hạng mục Nghiên cứu của GS Trần Đình Sử

"Nhưng thi pháp hoàn toàn không phải là lĩnh vực của hình thức văn học thuần tuý như một số người nghĩ, mà nó còn là lĩnh vực của văn hoá văn học, của hình thức tư duy thẩm mĩ, một bộ phận của văn hoá dân tộc. Nghiên cứu thi pháp chính là nghiên cứu văn hoá sáng tạo của văn học. Chỉ đến một giai đoạn nào đó của sự phát triển thì mới xuất hiện các hình thức nghệ thuật nào đó".

 

Du Nguyên- ở nơi này của đời sống

 (Giáng Vân)         

Cầm trên tay tập thơ với bìa ngoài tràn ngập những con mắt và tựa đề “Khúc lêu hêu mùa hè”, một cái tựa đề như để thông báo về một cuộc rong chơi không chủ đích, và vì vậy cũng không có gì quan trọng của tác giả.

 

Hồ Anh Thái và nỗ lực đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1986

(PGS.TS Bùi Thanh Truyền)

 Gần đây, người ta thường nói đến sự thống ngự của truyện ngắn và tiểu thuyết trong văn đàn Việt Nam đương đại. Sự phát triển của hai thể loại này suốt ba thập kỉ qua gắn liền với tên tuổi của những cây bút như Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Bình Phương, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư...

 

Đợt sóng cách tân đầu tiên của thơ Việt sau 1975: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều

(vietvan.vn): Có một thế hệ nhà văn cầm bút và trưởng thành sau năm 1975, tiếp nối thế hệ các nhà văn trước 1975 (được quen gọi là thế hệ chống Mỹ). Nhằm nhận diện, đánh giá về diện mạo và thành tựu, kể cả những hạn chế của một thế hệ nhà văn cầm bút và trưởng thành từ sau 1975, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tiến hành tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia mang tên “Thế hệ nhà văn sau 1975”. Hội thảo đã nhận được 85 tham luận đến từ các trường đại học, cơ quan, viện nghiên cứu trong và ngoài nước. 

 

Xu hướng trò chơi hóa đời sống và kiểu tác giả - người chơi trong thơ Việt Nam đương đại

(Trần Ngọc Hiếu)


"Xu hướng trò chơi hóa đời sống, mà văn chương, như đã nói, là lĩnh vực phản ánh rõ nét, một mặt, là sự giải tỏa nguồn năng lượng đã bị kìm nén suốt một thời gian dài. Sự giải tỏa này là cần thiết để tạo ra trạng thái cân bằng xã hội."                                                                                                        

 

Nhìn lại sự tiếp nhận tư tưởng mĩ học cổ điển phương Đông và phương Tây vào Việt Nam từ năm 1986 đến nay

(Lã Nguyên)       

"Dù được tiếp cận từ góc độ nào, thì việc mở rộng qui mô tiếp nhận mĩ học cổ điển của nhân loại cũng giúp nền lí luận văn nghệ Việt Nam từng bước kiến tạo kho tri thức một cách có hệ thống, gắn kết với nguồn cội, cắm rễ sâu xa vào các tầng vỉa văn hóa lịch sử".

 

Ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ (Nghĩ về Trúc Thông và cách tân thơ)

(Chu Văn Sơn)       

1. Món nợ của phê bình cách nay hơn 20 năm, khi "Chầm chậm tới mình" ra, tôi đã có bài cho Trúc Thông. Nhưng tôi sẽ thật đáng trách, nếu không viết bài này. Không hẳn vì cái duyên văn chương với nhau. Không hẳn vì hiện anh rất yếu. Mà vì một nỗ lực sáng giá có nguy cơ chìm trôi.

 

Tự sự học nữ quyền luận – một nhánh của tự sự học hậu kinh điển

(TS. Trần Ngọc Hiếu)        

 

Tự sự học nữ quyền luận là một nhánh của tự sự học hậu kinh điển. Được xem như một khúc ngoặt của tự sự học, ở giai đoạn hậu kinh điển, các nhà nghiên cứu muốn khắc phục nhược điểm của tự sự học kinh điển vốn được xây dựng trên nền tảng cấu trúc luận. Theo đó, tự sự học kinh điển bởi tham vọng xác lập những cấu trúc, mô hình tự sự phổ quát nên không quan tâm đến những bình diện thuộc về ngữ cảnh văn hóa, lịch sử, ý thức hệ, các vấn đề về diễn dịch và đạo đức tự sự. 

 

Một kiểu nhà báo – nhà văn chiến tranh nhìn qua trường hợp Dương Thị Xuân Quý

(Văn Giá)                                          

Tóm tắt: Nhà báo – nhà văn Dương Thị Xuân Quý  sinh ngày 19 tháng 4 năm 1941, hy sinh ngày 8 tháng 3 năm 1969.  Bà nguyên là phóng viên báo Phụ nữ Việt Nam từ năm 1961 đến năm 1968. Tháng 7 năm 1968, bà xung phong vào chiến trường, nhận nhiệm vụ phóng viên Tạp chí Văn nghệ giải phóng  thuộc trung Trung bộ (Khu 5). Đêm 8 tháng 3 năm 1969, trong một trận càn quét ác liệt của quân địch, bà đã hy sinh tại thôn Thi Thại, xã Xuyên Tân (nay là xã Duy Thành), huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam Với tư cách là một nhà báo-nhà văn chiến trường, bà tiêu biểu cho một kiểu người viết của Việt Nam những năm chiến tranh trong  ý nghĩa dấn thân, tác nghiệp và sáng tạo.

 
 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com