Chớ đi bộ trong vùng

James Freeman 
James Freeman là Giáo sư Khoa Nhân chủng học thuộc Đại học San Joe, California. Năm 1989, ông xuất bản tập sách nhan đề Hearts of Sorrow: Vietnamese-American Lives (Những trái tim buồn: Cuộc đời của những người Mỹ gốc Việt)- một tuyển tập gồm những câu chuyện kể về cuộc sống của mười bốn người Mỹ gốc Việt. Họ ở những lứa tuổi khác nhau, có nghề nghiệp khác nhau, nhưng đều có chung ký ức về những năm tháng sống ở Việt nam. Cuốn sách được tổ chức theo trình tự thời gian và theo các chủ đề, khám phá năm chủ đề chính: Thời thơ ấu, Thời thanh niên, Những nỗi buồn chiến tranh, Những nỗi buồn Giải phóng, Chuyến bay tới xứ sở Tự do, và Nước Mỹ: nỗi đau buồn ẩn dưới thành công. Đoạn trích dưới đây kể về một gia đình người Việt sống ở Hoa Kỳ, từng gặp những người tốt-xấu, từng đương đầu với cú shock văn hoá, định kiến và trở ngại về ngôn ngữ…  

Gia đình tôi sang Mỹ từ tháng Mười năm 1976. Khi ấy, tôi chỉ có một chút vốn liếng tiếng Anh. Vợ tôi thì không hề biết. Tôi chưa từng có ý định nhập cư ở Mỹ, nhưng tôi có một người bà con sống ở đây, làm trong Uỷ ban Cứu trợ Quốc tế- người đã liên lạc với Đại sứ quán Hoa Kỳ và bảo lãnh chúng tôi sang đây.

Tôi nhớ sự hiểu nhầm đầu tiên của chúng tôi. Chúng tôi thấy rất nhiều người vẫy tay chào. Vợ tôi nói, “Ô, làm sao họ biết chúng ta là bạn nhỉ. Họ đang vẫy chúng ta lại phải không?” Đối với chúng tôi, cử chỉ ấy có nghĩa là “Nào, lại đây.”

Chúng tôi sống ở một vùng miền Nam, nơi đó mọi người khá thân thiện, có điều khí hậu quá giá lạnh vào mùa đông, lại quá nóng vào mùa hè. Thêm nữa, ruồi muỗi bay khắp nơi. Điều đó quả thật không dễ chịu chút nào.

Mặc dù người da trắng khá thân thiện với chúng tôi, nhưng tôi lại chứng kiến sự kỳ thị đối với người da den. Có lần tôi rủ một anh bạn da đen cùng đến thăm một người bạn. Khi anh thấy tôi sắp bước vào nhà của một người da trắng, anh nói, “Tôi sẽ đợi ở ngoài.”

“Sao anh không vào?” tôi hỏi.

Anh ấy trả lời, “Mẹ tôi dặn tôi không được vào nhà người da trắng”.

Tôi đã thử thêm một lần nữa. Tôi dẫn một người bạn da trắng đến nhà một người da đen. Người bạn da trắng cũng không vào.

“Tại  sao thế?”, tôi hỏi.

“Mẹ tôi dặn không được đến chơi nhà người da đen.”

Một hôm, tôi bước vào một cửa hiệu và chọn rất nhiều cam, táo, rau xanh. Trong túi tôi chỉ có mười đô-la. Cô gái ở quầy thu ngân tính giá tiền và nói:

“Của anh, mười lăm đô-la.”

Tôi đáp, “Tôi chỉ có mười đô-la. Vậy tôi xin trả lại mấy quả cam. Cô tính giúp cho đủ mười đô-la. Ngày mai tôi sẽ mua thêm.”

Một người phụ nữ da đen đứng sau tôi nói, “Cô tính cho anh ấy tất cả số hàng đó. Tôi sẽ trả nốt số tiền thiếu.”

Lần đầu tiên chuyện như vậy xảy ra. Tôi không bao giờ quên được.

Một dịp khác, khi tôi chuyển đến sống ở một bang khác, một người đàn ông già nhìn thấy tôi mua hamburger, ngoài ra chẳng có gì nữa. Ông hỏi, “Tại sao anh mua có mỗi hamburger mà không mua đồ uống?”

Tôi đáp, “Tôi không đủ tiền, tôi chỉ có hơn một đô-la.”

Người đàn ông già nói, “Để tôi mua một chiếc hamburger nữa cho anh.”

“Ồ, không không”- tôi nói, “Thế quá nhiều đối với tôi.”

Ông ấy đã mua cho tôi một chiếc hamburger nữa và thêm cả nước cam. Chúng tôi ngồi xuống ăn cùng nhau.

Một số người thật tốt, một số khác lại chẳng hề thân thiện. Ở nơi chúng tôi đang sống hiện nay, chúng tôi không thể đi xe đạp bởi vì đám thanh niên cứ la hét om sòm mỗi khi đi sát xe chúng tôi. Tôi chẳng quan tâm họ nói gì, nhưng họ làm tôi giật mình khi phóng xe ngay sau tôi, vượt lên sát cạnh tôi rồi hét to vào tai tôi.

Thỉnh thoảng vợ chồng tôi đi bộ dọc vỉa hè. Nhưng ngay cả việc đó chúng tôi cũng không thể thực hiện được, bởi đám thanh niên cứ hét toáng lên mỗi khi chúng phóng xe qua. Vợ tôi cảm thấy rất buồn khi nghe những lời nói đó. Cô ấy không muốn đi ra ngoài nữa. Tôi thấy lo lắng về điều đó. Tôi nói với cô ấy, “Hay là chúng ta lái xe ra công viên, rồi đi bộ ở đó.” Nhưng mà đi bộ trong khu thì vẫn tốt hơn nhiều vì chúng tôi không cần phải lái ôtô.

Vợ tôi thường cảm thấy rất cô đơn ở đây, ở nước Mỹ này bởi vì cô ấy không thể đi bộ ở khu gần nhà, vì sợ đám người lại la hét cô. Cô có những người bạn ở gần đây, nhưng mỗi khi muốn đến thăm họ, cô lại rủ tôi đi cùng. Vậy là ở Mỹ thói quen của cô hoàn toàn thay đổi khác hẳn hồi sống ở Việt Nam, nơi cô có thể ra khỏi nhà một mình hai, ba, thậm chí bốn lần một ngày để đi chợ, về thăm cha mẹ, bạn bè. Cô thường đi bộ rất nhiều và tỏ ra rất thích thú. Nhưng bây giờ cô sợ điều đó. Tôi không rõ lắm, nhưng những người già ở Mỹ thật tốt bụng, còn những người trẻ lại thô lỗ và nhẫn tâm. Phía sau căn hộ của chúng tôi có một cái xe rác rất to. Nó rất bẩn, mùi hôi thối và đầy ruồi muỗi. Nhưng có nhiều người đến đó để uống bia và hút thuốc. Người chủ căn hộ đã viết tấm biển báo không đi vào khu vực đó; Tuy nhiên vẫn có tới hai, ba chiếc xe ôtô chở đầy đám thanh niên bẩn thỉu, tóc để dài tụ tập quanh cái xe rác. Họ rất ồn ào thậm chí cả vào ban đêm và thường say rượu. Họ quẳng những cái thùng, chai rỗng lên nóc thùng. Cảnh hỗn loạn thật kinh khủng. Mặc dù người quản lý đã gọi cảnh sát, đám người này vẫn thường xuyên quay trở lại. Và bọn chúng thường kết thúc buổi tối bằng việc đái bậy lên hàng rào.

Có một số người Việt sống gần đây, nhưng chúng tôi không mấy khi nhìn thấy họ. Họ làm việc suốt ngày, ăn ngủ xem tivi nhưng không đi ra ngoài nhiều, ngoại trừ lúc đi làm. Cũng giống vợ tôi, họ không đi bộ trong khu nữa vì đám thanh niên la hét họ. Ở Việt Nam, người già thường hay đi bộ, dừng lại trước các cửa hiệu để gặp gỡ bạn bè, trò chuyện và  uống cà-phê. Thỉnh thoảng họ đi câu cá hay đi bơi, lúc thì đến thăm bạn bè. Tất cả những phong tục này giờ đây họ không làm nữa- ở nước Mỹ, và có lẽ ở Việt Nam cũng không còn nữa.

Vợ tôi nói, “Em cảm thấy rất cô đơn khi anh và các con ra khỏi nhà.” Cô ấy ở nhà, nấu nướng, làm các việc nội trợ. Lũ trẻ nhà tôi cũng cô đơn. Tôi bảo bọn trẻ lái xe đến chơi nhà bạn bè, nhưng chúng nói, “Như thế chỉ lãng phí xăng và tiền thôi.” Bọn trẻ hiểu hoàn cảnh của gia đình, hiểu rằng với công việc có thu nhập thấp và có thể mất việc bất cứ lúc nào của tôi, chúng tôi không có đủ tiền để chu cấp chúng. Hai đứa trẻ nhà tôi học ở một trường đại học gần đây. Tôi chở các con đến trường trước khi đi làm và đón chúng sau giờ làm. Còn vợ tôi thì suốt cả ngày cô đơn ở nhà. Để cô ấy có bầu bạn, tôi đã mang về một đôi chim để trong một cái lồng rộng. Thỉnh thoảng một con chim cất tiếng hót. Bởi vì vợ tôi mắt kém nên không thể xem tivi được. Ngày tháng đối với cô ấy dài lê thê. Một tuần tôi làm việc năm ngày. Những ngày đó tôi rất mệt mỏi. Tôi chỉ muốn nghỉ ngơi, ăn uống và đi ngủ. Cuối tuần tôi chở cô ấy đến chợ, chúng tôi đến hiệu giặt quần áo tự động. Thi thoảng, chúng tôi viết thư cho họ hàng và bạn bè. Nhưng cuộc sống của chúng tôi ở Mỹ thật cô đơn. Đó là lý do nhiều người già muốn quay trở về Việt Nam. Tôn giáo không giúp được gì nhiều cho họ, chỉ có vài giờ vào ngày chủ nhật. Mọi người vẫn cứ cô đơn...

Thỉnh thoảng bạn tôi gọi nói chuyện qua điện thoại. Chúng tôi kể về cuộc sống của chúng tôi ở đây, về những gì mà người khác đang làm. Đôi khi chúng tôi mời nhau đến nhà chơi và dặn mang theo đồ ăn. Điêù này thì khác hẳn ở Việt Nam,  chúng tôi thường đến nhà bạn bè không cần báo trước và họ mời chúng tôi vào nhà. Họ nói, “Chúng tôi vừa làm cơm xong, mời anh chị ở lại xơi cơm.” Chúng tôi thường đến chơi rất nhiều bạn bè, nhiều hơn hẳn ở Mỹ. Chúng tôi giúp đỡ bạn bè công ăn việc làm, chia xẻ phòng ở, quần áo, thức ăn. Bạn bè có thể ở nhà chúng tôi hàng tháng trời. Không sao cả. Vào dịp lễ tết, có thể bốn hoặc năm người đến chơi và ở lại. Cuộc sống chúng tôi là như thế.

Đối với vợ tôi, thích nghi với cuộc sống ở Mỹ thật khó khăn. Còn đối với tôi và bọn trẻ việc thích nghi cũng không quá khó. Tôi đã có kinh nghiệm tiếp xúc với người phương Tây trước khi tôi rời Việt Nam. Bọn trẻ thì không vấn đề gì khi tiếp nhận những phong tục mới. Vừa đến Mỹ ba ngày, tôi đã đăng ký cho chúng theo học một khoá học tiếng Anh bốn tháng trong trường.

Nếu như có gì khó khăn đối với chúng tôi thì đó là việc học cách “đối phó” với thứ đồ ăn Mỹ chứa quá nhiều muối và đường, lại có gia vị khác lạ. Chúng tôi không hề thích và tôi thường ăn những món ăn nấu kiểu Việt nam. Ở chỗ làm tôi thường ăn những món ăn mang từ nhà đi. Các con gái tôi thì đã học được cách chịu đựng đồ ăn Mỹ nhưng chúng vẫn thích đồ ăn Việt Nam hơn.

Còn một khó khăn nữa đó là việc nói tiếng Anh. Chúng tôi đọc tốt, nhưng do cách phát âm của chúng tôi khiến người ta nghĩ chúng tôi không được học hành bài bản. Chúng tôi cảm thấy rất khó khăn khi hỏi thông tin qua điện thoại, bởi vậy phải lái xe 20 hoặc 30 dặm đến tận nơi để lấy thông tin. Hôm qua, tôi đã cố thử gọi điện thoại đến cửa hàng bán thú nuôi mà tôi đã mua hai con chim sẻ. Tôi nói với người đàn ông, “Con chim mẹ đẻ được năm quả trứng, nhưng sau khi trứng nở, nó đã đá chúng ra khỏi ổ làm chúng chết hết. Tôi phải làm gì để ngăn việc đó?”

Người đàn ông ở cửa hàng thú nuôi nói, “Xin lỗi, tôi không hiểu ông nói gì.”

Tôi nhờ một người bạn Mỹ gọi điện hộ. Anh ấy nắm được thông tin rồi truyền đạt lại cho tôi.

Không chỉ có vấn đề về ngôn ngữ. Một buổi sáng, tôi dùng một cái máy hút bụi tiếng kêu rất to để lau sàn nhà. Những người sống ở tầng dưới đã dùng một vật gì đó đập lên trần nhà. Họ rất tức giận, tôi đoán vậy. Tôi phải sang căn hộ bên cạnh của một người phụ nữ Mỹ, nhờ bà ta giải thích hộ với hàng xóm tầng dưới là tôi đang dùng máy hút bụi lau nhà. Bà ấy đã giúp tôi, và hàng xóm tầng dưới sau đó nói rằng thế thì không sao.

Năm 1979, tôi đăng ký học ở Học viện Đào tạo Kỹ thuật, và học ở đó chín tháng. Tôi bắt đầu học một ngành, nhưng một người bạn đã thuyết phục tôi học sang một ngành khác. Hoá ra tôi rất có kỹ năng về công việc này nên người phụ trách ở học viện đồng ý để tôi chuyển ngành. Sau khi tốt nghiệp khoá đào tạo, tôi ra ngoài tìm việc. Một người bạn tôi, trẻ hơn tôi được thuê làm ngay lập tức. Tôi thì gian truân hơn nhiều, khi người chủ biết tôi đã ở độ tuổi năm mươi, họ thường tỏ ra ngần ngại. Sau hai tháng, một công ty cũng đã thuê tôi làm. Người đàn ông thuê tôi làm nói, “Một giờ, năm đô-la.”

Tôi đáp, “Không được, sáu đô-la.”

“Thôi được,” anh ta nói, “Tôi thuê anh.”

Ở Việt nam, đàn ông ở độ tuổi của tôi đã được nghỉ hưu. Và tôi có thể nuôi cả gia đình đến cuối đời. Nhưng không có chuyện này ở nước Mỹ. Tôi nói với bọn trẻ rằng chúng phải làm việc thật chăm chỉ bởi vì tôi không thể giúp chúng mãi đựoc. Một ngày nào đó chúng phải tự nuôi lấy bản thân. Ở đây tôi không có bất cứ loại bảo hiểm nào. Tôi phải làm việc chừng nào còn có việc, nhưng tôi có thể bị mất việc bất cứ lúc nào.

Tôi thích công việc của tôi ở Việt Nam hơn nhiều. Tôi được giao tiếp với những người có học, và họ tôn trọng tôi. Năm nào tôi cũng được nghỉ hè tới ba tháng mà vẫn được trả lương. Vị trí công việc của tôi ở Việt Nam cao hơn rất nhiều so với công việc lao động trong nhà máy ở đây. Điều này quả thực là khó khăn, không chỉ đối với tôi, mà còn đối với nhiều đàn ông Việt khác. Chúng tôi không còn quê hương. Chúng tôi  đang tạo dựng một cuộc sống mới ở một đất nước mới. Chúng tôi không buồn về cuộc sống thứ hai ở xứ sở mới này, rằng chúng tôi ở vào một địa vị thấp. Dù khó khăn nhưng nhiều người chúng tôi vẫn vui vẻ vì con cái chúng tôi sẽ có cơ hội ở đây. Tôi đã ở vào chặng cuối cuộc đời, và tôi có niềm hạnh phúc đơn giản là hy sinh vì những đứa con. Tôi sẽ làm bất cứ công việc gì để nuôi dưỡng chúng. Tôi biết một số người Việt không thể chấp nhận được việc mất địa vị của mình.  

Tôi hạnh phúc vì tôi có thể thay đổi cuộc sống của mình và bắt đầu một công việc mới ở nước Mỹ. Ít nhất thì tôi đã có thể thích nghi. Nhưng nếu như bạn hỏi tôi cuộc sống của tôi như thế nào ở Mỹ, tôi phải nói với bạn rằng: Thật kinh khủng! Tôi nói vậy bởi vì toàn bộ số tiền tôi kiếm đựoc từ công việc mới đều hết sạch trơn. Hầu hết số tiền đó chi cho các khoản tiền thuê ngày càng tăng chóng mặt. Chúng tôi không có tiền để đốt lò sưởi vào mùa đông, chúng tôi giữ ấm bằng cách quấn chăn quanh người, bịt cửa sổ bằng khăn trải giường. Chúng tôi chi bảy đô-la để mua một tấm chăn và dùng nó suốt một năm. Chúng tôi không cần đốt lò sưởi .Chúng tôi cũng không bao giờ dùng lò nướng mà luộc tất cả thức ăn lên để giảm chi phí. Chúng tôi không chi quá nhiều tiền cho đồ ăn. Nếu thực phẩm tăng giá thì chúng tôi giảm bớt khẩu phần ăn. Còn nếu tiền thuê tăng giá thì chúng tôi bó tay không có cách nào để giảm cả. Tiền thuê là một vấn đề lớn đối với chúng tôi. Tôi biết một số thông tin về sức khoẻ ở nơi làm việc nhưng không đầy đủ, khi bị ốm tôi thường cố tránh không đến bác sỹ hoặc đến bệnh viện, chỉ vì những nơi đó chi phí quá đắt. Tôi dùng thuốc ở nhà. Vợ tôi dùng các loại thuốc nam. Đó là lý do vì sao tuổi thọ của chúng ta thấp hơn rất nhiều so với người Mỹ.  

Tôi thường tự hỏi điều gì sẽ xảy đến với gia đình tôi. Tương lai của bọn trẻ nhà tôi sáng sủa, bởi vì chúng làm việc chăm chỉ và có tài năng. Chúng biết rằng chúng phải làm việc chăm chỉ vì bố chúng không thể chu cấp cho chúng lâu dài được. Công việc tôi đang làm đòi hỏi phải nhanh tay nhanh mắt. Một ngày nào tôi sẽ không còn khả năng đó. Rồi điều gì sẽ xảy đến với tôi? Đôi khi tôi lo lắng về tương lai của mình. Những có lúc tôi chẳng hề quan tâm…
                       
Ngô Bích Thu dịch từ bản tiếng Anh    
Trích trong Tuyển tập Asian – American Literature.
 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 


 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com