Nhà thơ Hoàng Cầm: Nguyên Hồng đã khóc khi nghe “Bên kia sông Đuống”

YÊN KHƯƠNG

ImageEm ơi, buồn làm chi. Anh đưa em về sông Ðuống. Ngày xưa cát trắng phẳng lì... Ðó là những câu thơ mở đầu của Bên kia sông Ðuống trong SGK Văn lớp 12.

 

“Tôi không biết sau khi đưa vào SGK các thầy cô giáo giảng thế nào về tiểu sử của bài thơ, nhưng như ngay cháu tôi nó đi học về cứ vặn hỏi tôi: “Ông ơi! Sao lúc ông viết bài thơ Bên kia sông Đuống ông lại khóc?- nhà thơ Hoàng Cầm kể - “Tôi biết có sự hiểu lầm gì đó nên nói với cháu: “Ông rất xúc động khi viết bài thơ ấy nhưng ông không khóc mà chỉ nhà văn Nguyên Hồng sau khi nghe ông đọc thơ rồi khóc thôi...”.


Ông viết bài này lúc đang ở chiến khu 12 trong kháng chiến chống Pháp (gồm địa bàn các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Ninh (cũ) và Lạng Sơn). Qua nửa đêm sau khi nghe các đồng chí ở làng Đông Hồ lên báo cáo về tình hình chiến sự ở vùng quê mình, ông như “ngồi trên cả đống than, đống lửa, lòng dạ rối bời chỉ ước có cánh bay thẳng về nhà xem cơ sự thế nào ... Tôi vô cùng đau đớn vì ở đó tôi còn mẹ già, vợ và ba đứa con thơ”.


Ngay đêm ấy, ông đã viết bài thơ này. Nhà thơ Hoàng Cầm rưng rưng xúc động như chính được sống lại giây phút ấy: “Cứ thế mạch tình cảm tuôn trào như nước chảy không thể nào ngăn nổi. Ðến bốn giờ sáng thì tôi viết xong và rất muốn đọc to cho ai đó nghe. Anh Nguyên Hồng sau một ngày bếp núc vất vả cùng anh em đã ngủ từ lâu.


Bình thường tôi không dám quấy quả anh ấy, nhưng vì vui mừng quá tôi liền đánh thức anh dậy. Anh thảng thốt nhìn tôi rồi hỏi: “Kìa, Hoàng Cầm đấy à, có việc gì cần mình thế!? Làm gì mà giờ này chưa ngủ? Mặt mày hốc hác ra rồi kia kìa”. Tôi nói với anh Nguyên Hồng: “Anh Nguyên Hồng, đêm qua cán bộ và nhân dân làng tôi ở Thuận Thành lên báo cáo: Giặc Pháp chiếm hết khu Nam phần Bắc Ninh rồi, kể cả cái làng Nguyệt Cầu mà hồi nào anh chạy giặc ở nhờ nhà ông Ngọc Giao ấy!


Mình xúc động viết bài thơ này đọc cho Nguyên Hồng nghe nhé”. Và tôi không biết giọng đọc của mình có gì hay mà mới chỉ đọc “Em ơi buồn làm chi? - Anh đưa em về bên kia sông Đuống... tự nhiên nhà văn Nguyên Hồng ôm mặt khóc nức nở. Ông vật mình thổn thức, nước mắt giàn giụa...”.


Tôi cắt lời nhà thơ Hoàng Cầm: “Vậy là nhà văn Nguyên Hồng khóc chứ không phải nhà thơ sao?” Nhà thơ Hoàng Cầm gật đầu “xác nhận” thay cho câu trả lời. Ông nói thêm: “Nhắc đến chi tiết này nhà thơ Hoàng Cầm kể lại: “Nhà văn Nguyên Hồng đa cảm lắm. Nghe tôi đọc thơ mà cứ khóc rưng rức. Tôi biết tính ông nên kệ, cứ đọc... cho đến hết bài thơ dài.


Còn nhà văn Nguyên Hồng cứ khóc... khi bài thơ đã kết thúc từ lâu. Sau đó nhà văn Nguyên Hồng lặng lẽ rút ra 4-5 tờ giấy trắng tinh (hồi ấy giấy rất hiếm, đến ngay nhà văn cũng chỉ dám dùng giấy giang Hoàng Văn Thụ chép bản thảo của mình mà thôi!) đưa cho tôi rồi nói trong tiếng nấc: “Hoàng Cầm này, cậu chép... chép cho... tớ ba bản thật sạch sẽ, bài thơ này rất cần cho nhiều người đọc... Nhất là các chiến sĩ ta”.


Hai tháng sau nhà thơ Hoàng Cầm đang hướng dẫn cho diễn viên tập vở kịch Đứa con nuôi thì bỗng nhà văn Nguyên Hồng xuất hiện ở bậc cửa, trên tay cầm tờ báo Cứu Quốc khổ nhỡ (do nhà nghiên cứu văn học Như Phong và nhà văn Tô Hoài phụ trách). Hoàng Cầm nói: “Anh Nguyên Hồng vẫy tay gọi tôi. Này Hoàng Cầm, bài của cậu tớ gửi, báo in rồi đây!


Tôi mừng quá, run run nhận tờ báo từ tay Nguyên Hồng. Lúc này bao nhiêu tâm sự trào dâng về quê hương, về cái làng Lạc Thổ phía bên kia sông Đuống, về các cô gái “môi trầu cắn chỉ”, về tranh Đông Hồ. “Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp...” đang bị giặc Pháp dày xéo dưới xuôi kia vẫn không thể làm hoen ố cái hồn dân tộc phập phồng trên nền giấy bản.


Tròn 60 năm bài thơ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm được nhiều thế hệ biết đến, yêu mến và chép tặng nhau đọc. Nhà thơ Hoàng Cầm tâm đắc với đứa con tinh thần của mình: “Viết về quê hương, nhất là nơi mình sinh ra và lớn lên, đòi hỏi phải có cảm xúc mạnh, trí tưởng tượng sâu rộng, sức liên tưởng dồi dào qua các sự vật tình cảnh có thực, đồng thời phải thấu hiểu lịch sử và nhân vật lịch sử của một vùng đất.


Từ nhỏ tôi đã theo mẹ đi lễ chùa, dự hội chùa Phật Tích, Chùa Dâu, Bút Tháp, Tiên Sơn, Long Khánh... và đến phường hát Quan họ mà mẹ tôi là thành viên. Những đêm hát ấy thấm đậm vào hồn tôi từ hồi đó. Bài thơ “Bên kia sông Đuống” là một trong những bài thơ tôi viết nhanh nhưng lại thấy rất tâm đắc. Thời vượt Trường Sơn chống Mỹ, tôi rất cảm động và vui sướng khi thấy bài thơ nằm trong hành trang của rất nhiều người lính trên những chặng đường hành quân.


Và trải qua biết bao thăng trầm bi kịch, ông vẫn tin vào những đức tính của độc giả đối với thơ. Ðó là những tính cách mà theo nhà thơ Hoàng Cầm về tình cảm hiếm thấy ở các dân tộc khác, mà đặc biệt là sự gần gũi quấn quít nhau, nhường cơm sẻ áo trong khi hoạn nạn, tình cảm bạn bè bà con làng xóm.


Thơ là tấm gương của các tính chất ấy. “Không riêng gì bài thơ Bên kia sông Đuống mà hầu hết mỗi khi làm thơ tôi đều nhận thức rằng: Nhiệm vụ của nhà thơ là nói lên được tiếng nói riêng biệt của dân tộc mình trong cộng đồng nhân loại. Không thế thơ không hay được”- nhà thơ Hoàng Cầm đúc kết.  


Theo Yên Khương - Thể Thao Văn Hóa

 Những bài báo hay trong tuần: http://docbao.vn/News.aspx?catid=48&id=66038

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN TRƯỚC



 
Copyright © 2009 - 2013 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com