Truyện cực ngắn

PGS.TS Đặng Anh Đào
So với thế giới, truyện cực ngắn (mà chúng tôi cũng gọi là “truyện ngắn mi ni” trong một bài viết năm 1993 xuất hiện ở Việt Nam như một chùm “Hoa muộn”. Tới năm đó, nó mới trở thành một hiện tượng đáng được gọi là “hình thức mới trong truyện ngắn hiện nay” 1 mà chúng tôi xếp bên cạnh loại “truyện lịch sử- giả”.



Giải thích nguồn gốc của truyện cực ngắn, chúng tôI đã gắn nó với báo chí, thời sự và lối sống của người Việt Nam hiện nay. Quả là trước đây, các nhà viết truyện ngắn có tên tuổi ở ta chưa viết loại này. Trong khi đó, trên thế giới, nó xuất hiện từ trước ta hàng vài thế kỷ.

Ở những nước Phương Tây, người ta cũng đã tìm thấy tiền thân của nó trên báo chí: “Từ thế kỷ thứ XVIII, các tờ báo đã đăng tải những sự kiện nhỏ (…): Những mẩu thoại này làm tươi tắn sự nhàm chán của những trang giấy và khiến độc giả được giải  trí” 2. Người ta cho rằng “tin vặt” trên báo chí chứa đựng nhiều mối liên hệ với truyện ngắn nói chung. Còn độ dài, rõ ràng là nó rất phù hợp, gần gũi với loại cực ngắn. Qua đó, ta có thể thấy rằng ở các xứ sở trên, nếu loại truyện này phát triển sớm hơn ở ta nhiều như vậy, cũng là do báo chí phát triển sớm hơn ta tới vài thế kỷ. Còn về mục “tin vặt”, theo các nhà nghiên cứu hình thức ấy của báo chí, ngay từ thế kỷ thứ XIX, từ Từ điển Larousse cho đến A.Jar-ry, đều đã nhấn mạnh rằng: Trong mục “Tin vặt”, không chỉ có thông tin thời sự, mà có nghệ thuật, có sự gia công trí tưởng tượng phong phú của người phóng viên. “Tin vặt” còn gần gũi với một mục mà báo chí Pháp gọi là Chroniques (có thể hiểu theo nghĩa: “Thời luận” hoặc “tin tức”). Loại này thường cũng chỉ gói gọn trong một cột báo hoặc mấy dòng rất gắn với thời  sự.

Tuy nhiên, Rô-lăng Bac-tơ đã phân định ranh giới giữa 2 loại tin tức. Một vụ ám sát đã xảy ra: Nếu là 1 vụ ám sát chính trị, đó chỉ là một “thông tin cục bộ” , bởi lẽ thông tin chính trị bao giờ cũng có thời hạn. Còn nếu vụ ám sát không gắn với chính trị thì đó là một “tin vặt”: Khi người ta đọc lại tin vặt đó không cần phải gắn với một bối cảnh chính trị hay thời sự nào đó mới hiểu được. Tự nó “tin vặt” đã tồn tại “tức thì”, thì không thời hạn, không bối cảnh. Đó chính là điểm khiến nó gắn với hình thức kể chuyện của văn chương. Nó mang tính toàn thể “tự tại”.

Đặc biệt như ở trên chúng tôi đã nói, “ tin vặt” còn giống “truyện ngắn mini” ở độ dài của nó. Đến nỗi một phóng viên từ năm 1906 của mục này trên tờ buổi sáng của Paris sau khi mất, người ta còn tập hợp lại những mẩu tin ấy của ông ta thành một tập: Những Nouvelles trong 3 dòng (ở đây, “Nouvelles” có thể mang 2 nghĩa: Vừa là tin tức, vừa là truyện ngắn).

Tất nhiên, đây chỉ là một tiền thân, một xuất xứ. Bởi có những tin vặt chỉ có giá trị đúng với nghĩa của nó, ngược lại những mẩu tin mà sự sinh động, khái quát của nó khiến người đọc thấy rằng: Cuộc sống đã tạo ra những chuyện hấp dẫn hơn cả văn chương. Như trên đã nói, cũng giống như “tin vặt”, truyện ngắn mi ni ở Việt Nam đặc biệt có một số phận khởi đầu gắn với báo chí. Trước khi có cuộc thi “truyện ngắn dưới 300 chữ (âm tiết)” của tờ bán nhật san kiến thức ngày nay và truyện ngắn dưới 1000 chữ của tờ thế giới mới, chúng ta thấy loại truyện này được đăng tải thường xuyên ngay cả trên tờ nhật báo và đã có những thành tựu. Một cây bút “không chuyên” như Hồ Phu Phục đã viết một truyện ngắn rất hay là Nước mắt như sao. Đã xuất hiện những cây bút chuyên về loại này như Phạm Văn Khôi, Phạm Sông Hồng…

Báo chí không chỉ là phương tiện đăng tải thích hợp, mà ở một số truyện cực ngắn ta vẫn thấy hơi hướng của dòng máu “tin vặt” của nhật báo nuôi dưỡng chúng. (Điều này hoàn toàn không bao hàm ý nghĩa hạ thấp giá trị của loại truyện này). Ví dụ qua tập 40 truyện rất ngắn (Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1994) đã thấy trong tình tiết của những truyện như: Vàng (Hoàng Minh Tường), Tìm cha (Lê Thanh Huệ), Ông Vâm Gộc (Nguyễn Lưu), Sầu Riêng (Minh Nhân)…Một cáI lõi cốt truyện thường lấy trên tin tức báo chí còn có thể kể rất nhiều ví dụ tương tự ở các trường hợp trên. Thử tóm tắt lõi cốt của truyện Vàng : Một gã đào vàng sắp chết ở cửa hầm, một cô giáo mang hắn về cứu chữa, cưu mang. Một đêm tỉnh dậy, hắn thấy sắc vàng loé lên ở ngón tay chỉ. Hắn tưởng thứ đồ mỹ ký ấy là vàng ròng và giờ đây trở lại thành “phu đào vàng thứ thiệt”, hắn cuỗm chiếc nhẫn chốn đi để lại nỗi bàng hoàng cho người tình chốc lát.

Tình tiết truyện chẳng khác gì hàng vạn mẩu tin đăng trên các tờ nhật báo, đặc biệt là các tờ công an, pháp lý… Ta cũng có thể tìm thấy sơ đồ của Tìm cha trên các tờ báo ấy. Còn tin tức về số phận của số người lĩnh đã hy sinh, hoặc cựu chiến binh hiện nay, ta có thể đọc thấy qua cốt truyện của Sầu Riêng, Ông Vâm Gộc ( dù trường hợp sau là 1 “bác”  voi chiến về già!).

Sở dĩ như vậy là vì trong “tin vặt”, theo R.Bac-tơ: Đã có những yếu tố tiềm tàng cho một câu chuyện hấp dẫn nảy sinh. Thứ nhất, đó là một sự trục trặc nào đó trong quan hệ nhân quả. Ví dụ: “Một nữ sinh viên Mỹ buộc phải bỏ học: Vòng ngực của cô (104 cm) gây những vụ ồn ã”. Ở đây có một quan hệ nhân quả bất thường, bởi “ nguyên nhân bé mà hậu quả thì lớn” . Trở lại  những truyện ngắn mini của ta đã kể trên, chúng ta cũng tìm thấy rất nhiều trục trặc trong quan hệ ấy của cuộc sống hiện nay: Kẻ làm ơn bị bội bạc (Vàng) ; Đứa con lên 6 đi tìm cha để chăm sóc, đứa  trẻ vô tội cảm thấy có trách nhiệm trước người lớn có tội (Tìm cha); Một quả sầu riêng không những gây nên cái chết của người dũng sĩ mà còn đánh lạc hướng “xác minh, xác u” công lao của người liệt sĩ (Sầu Riêng) ; Ông Vâm Gộc- voi chiến, dũng sĩ diệt Mỹ không màng vinh quang suýt chết vì viên đạn của một kẻ vô tâm, hám lợi…

Yếu tố thứ 2 tiềm tàng trong “tin vặt”, theo Bác-tơ đó chính là sự trùng hợp đã thủ tiêu khoảng cách của những đối cực trong các tình thế của câu chuyện,: “Một vị thẩm phán biến mất ở Pi-ga-lơ” 3, hoặc “tại Ly-tơnroc, một ông cảnh sát trưởng giết chết vợ mình”… Ở đây xuất hiện những mối liên hệ nhân quả trục trặc, sự trùng hợp của những đối cực tưởng như không thể gặp nhau được tạo nên trái khoáy của ngẫu nhiên. Ở mẩu tin thứ nhất, ta thấy: Không chỉ một con người đáng kính bị đĩ điếm “ nuốt chửng”, mà đây còn là một người nhân danh những gì đáng quí nhất. Hai đối cực đã bị thủ tiêu khoảng cách, trùng khít hoàn toàn: Vị quan toà và xóm yên hoa cũng lại một ngẫu nhiên trái khoáy như vậy trong mẩu tin thứ 2: Cảnh sát trưởng- tên sát nhân, và sát nhân của chính vợ mình.

    Trở lại chuyện Tìm cha chúng ta cũng thấy sự tích tụ, trùng hợp của những điều trái khoáy: Người chồng giết vợ; người cha giết chết mẹ của đứa con trai mình; đứa con trai 6 tuổi tới nhà tù thăm cha bị cha đuổi về ở với nội vì không biết ông nó đã chết; đứa bé xin ở tù với cha: Nó đau khổ không hẳn vì không còn ai chăm sóc nó mà vì nó không có cha để chăm sóc!

    Tóm lại, khi tích tụ tới một độ nào đó những điều trái ngược, khi đối cực bị triệt tiêu khoảng cách (đứa con bị cha đầy đoạ lại xin được an ủi người cha tội lỗi, chú bé 6 tuổi vô tội xin được ở tù). Toàn bộ câu chuyện sẽ tắm trong một không khí ngẫu nhiên của bi kịch. Nói rộng ra, một chất liệu cần thiết cho những truyện cực ngắn, đó là kịch tính. Bởi lẽ, tính chất giảm thiểu đến mức trơ trụi của một truyện cực ngắn đòi hỏi độ căng của kịch. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà lý luận phương Tây đã ví truyện ngắn nói chung và đặc biệt là truyện cực ngắn với những vở kịch cổ điển. Ở đó, thời gian, không gian, hành động phải tập trung cực độ giống như bị chi phối bởi qui tắc tam duy nhất mà Boa-lô từng đúc kết: “Chỉ tại một nơi, một ngày, một hành động trọn vẹn. Cuốn hút người xem cho đến kết thúc”.

    Tất nhiên, tính chất “duy nhất” về không gian, thời gian trong truyện cực ngắn không còn bị quy định một cách máy móc, đơn giản về số lượng, lịch biểu như cách hiểu của Boa-lô khi nói về bi kịch thế kỷ XVII nữa. Ví dụ như trong truyện Cuộc gặp lại không mong muốn của J.P.Hê-ben:

    “Ngay trước ngày cưới, một người thợ mỏ phải xuống hầm. Anh ta bị vùi dưới đó, sau nửa thế kỷ người ta phát hiện được một người trai trẻ vẫn nguyên vẹn như có phép mầu ở dưới đất. Nhưng không ai biết tên anh ta. Cho tới lúc một bà gìa quắt queo xuất hiện bà nhận ra người chồng chưa cưới của mình”.

    Nếu hiểu một cách dung tục thì trong truyện, sự “duy nhất” về thời gian có bị vi phạm khoảng cách sự kiện là hơn 50 năm. Nhưng nếu xét cho sâu cảm giác về sự tập trung, ngưng đọng về thời gian bị nén lại rất mãnh liệt khiến người đọc phải bàng hoàng: Ở đây thực chất, là sự ngưng đọng của một tuổi trẻ (qua hình ảnh vị hôn phu vẫn trẻ trung “như có phép mầu”, đặt bên một hình ảnh song song nhưng điệp lại ý niệm thời gian ngưng đọng còn mạnh mẽ hơn nữa, đó là tình yêu thời tuổi trẻ vẫn bảo tồn nguyên vẹn trong trái tim “Bà già quắt queo” kia).

    Đó là ta chưa kể một đặc trưng khác của thời gian trong truyện cực ngắn khiến cảm giác về sự “duy nhất” về tính chất khoảnh khắc của nó trong người đọc tăng thêm: Sự ngắn ngủi của loại truyện này khiến người đọc tiếp thu nó một mạch, trong giây lát.

    Đối chiếu với một truyện ngắn mini như: Cây nhang (của Nguyễn Ngọc Mộc) ta cũng thấy sự giảm thiểu giới hạn đến tột độ những yếu tố không gian, thời gian, tình tiết. Hai không gian hạn hẹp đặt song song và đối lập: Một trang thờ nghi ngút khói hương: một “ Căn phòng máy lạnh” với những ly bia sủi bọt. Thời gian là khoảnh khắc cho một cây nhang tàn nhưng lại không thể đo đếm: Người vợ goá đã thắp cây nhang điện. Tình tiết: Một bên là 2 đứa trẻ vâng lời dạy xưa của người cha đã mất, chờ khi nhang tàn mới được ăn xôi cúng trên trang thờ; một bên là người mẹ mải nhậu với bồ, không biết rằng 2 đứa con mình đang đói lả vì chờ mãi mà nhang không tàn: Bà ta quên dặn con rằng  mình đã thắp nhang điện. Kết thúc: là cảnh 2 đứa trẻ ngủ gục vì đói trước trang thờ, nhưng dường như đã có một sự xáo trộn, nhập cục giữa 2 không gian: Trên trang thờ, giờ đây có “tiếng chuột cắn nhau chí choé”. Dường như cả cái phòng có “tiếng cười rúc rích” của cặp tình nhân đã lén lút chuyển tới chốn thờ cúng thiêng liêng, khi 2 đứa bé thiếp đi vì đói…
*
*    *
    Qua những mẩu chuyện kể trên, ta thấy đủ nguồn gốc, tiền thân, phương tiện của truyện cực ngắn là báo chí thì ngay ở những truyện giống như chớp lấy nhưng thời luận tin tức của nhật báo, sức mạnh của nó vẫn nằm ở những yếu tố của nghệ thuật kể chuyện. Ở trên ta đã nói lên sức dồn nén tích tụ những sự trái khoáy ngẫu nhiên đầy kịch tính bởi lẽ, với giới hạn cực tiểu cho thời gian đọc, truyện cực ngắn phải gây bàng hoàng.

    Tuy nhiên, trong nguồn gốc truyện cực ngắn còn có thể có những tiênf thân xuất xứ khác, không gắn với báo chí. Ở Việt Nam ta có thể nghĩ tới những cội rễ xa xôi trong một số truyện ký, tiếu lâm, truyện trạng. Còn ở phương Tây, có một bà con xa của truyện cực ngắn, đó là loại được gọi là “truyện đạo lý”: “ Những truyện kể ngắn, giống như những lời ẩn ý, bài ngụ ngôn, theo truyền thống thường xây dựng nhằm mục đích giáo huấn” 4 - đặc biệt phát triển ở thời Trung cổ. Tuy nhiên ở phương Tây một số nhà văn đã sớm dùng loại truyện này “ truyện đạo lý” như một phản – hình thức, có nghĩa là dùng gậy ông đập lưng ông, họ viết loại “ truyện phản đạo lý”. Tất nhiên sự khác biệt ở đây chỉ là về nội dung. Dần dà, loại này có những biến thể mà những cuốn truyện của nhà văn N.Hô-thoo-nơ ( N. Hawthome) ở thế kỉ XIX như Truyện kể hai lần, Rêu của lâu đài cổ là những ví dụ. Nét đặc trưng ở đây không còn là những ngụ ý đạo lí (hay phản đạo lí) mà là một sắc thái mơ hồ hơn: Chất phúng dụ, mạch ngầm văn bản rất sâu của những truyện cực ngắn này.

    Với những tác phẩm kiểu này, sức hấp dẫn không còn nằm ở cốt truyện là chủ yếu, mà là ở sức gợi, ở khả năng viết sao cho “ý tại, ngôn ngoại” của nhà văn. Chính khả năng viết ngắn mà nói được nhiều của nhà văn đã khiến loại truyện này giống như những bài thơ. Hoa muộn của Phan Thị Vàng Anh là một mạch nối giữa truyện và thơ.

    Nhan đề của truyện ấy đã có ý nghĩa biểu tượng. Bởi vì khi mùa xuân của Hạc đã qua rồi, thì dù “Có mai rồi đấy, vẫn không thành tết!”. Đọc Hoa muộn, nghe thấy tiếng than của Hạc “Sao mình cay đắng thế này!”, bạn đọc cũng muốn kêu lên cái câu của một nhân vật Lỗ Tấn “ Một đời không bằng một đời!”. Chỉ có điều là tiếng kêu của nhân vật Lỗ Tấn còn hơi hướng bi đát như một tiếng thở dài chứa chất sức nặng của cả một cuộc đời thì ở đây lời than chỉ đủ hơi sức cho một tiếng ngáp vặt. Bởi lẽ Hạc giống như một loại thảo cằn cỗi, chưa phải là một cái cây. Cô ta như chưa hề có tuổi trẻ, có tình yêu ngay ở cái thời còn tồn tại những “chú nhỏ… lai rai lâu lâu đảo qua một lần rồi biến mất”. Hạc chẳng thể là một cây mai- nếu được người nhặt dù đó là một cụ già đi nữa, nó vẫn có thể bung ra một mùa hoa- dù là một mùa hoa nở muộn.

    Lối viết truyện ngắn này còn gắn với thơ ở nghệ thuật trùng điệp. Phối hợp với tính chất đầy sức gợi của biểu tượng như một phản đế, cả hai yếu tố ấy- biểu tượng và phản đế- cũng xích truyền lại gắn với thơ ở chỗ: Qua một lượng tối thiểu từ ngữ, một khoảnh khắc cực ngắn, nói lên được cực nhiều. Trong truyện của Phan Thị Vàng Anh, như trên đã nói, “Hoa muộn” là một biểu tượng. Song nó không hoàn toàn trùng khít với thân phận của nhân vật chính, mà còn là một hình ảnh đối ngẫu, một phản đề. Mùa xuân, mùa mai vàng cứ trở lại, bất tuyệt, vĩnh hằng, nhưng tuổi trẻ của Hạc thì không. Vả chăng nó đã bao giờ từng tồn tại? Điều đáng sợ là cái “ngán ngẩm”, sự cũ kỹ trong lề thói của cuộc sống ở đây mạnh hơn cả mùa xuân, cả thiên nhiên. Giống như  vòng quay của đồng hồ báo thức vẫn gọi “mọi người dậy sớm đi làm trở lại”, bất kể lúc nào, bà cụ vẫn nhất thiết phải đi từ gốc cây này sang cây khác : “tội nghiệp, nhặt để nó nở”. Và giống như bạn bè của Hạc một anh chàng để tìm hiểu, đù anh ta “lù khù, tay khư khư cáI mũ vàng như củ nghệ… mãI mới cởi được xăng đan để vào nhà”. Tới kết thúc, ta thấy cáI cũ kĩ, ngán ngẩm đã tắm cả vào thiên nhiên:  “nắng chiều tắt dần”… để rồi chính nó cũng trở thành “ một giải voan cũ… nhợt nhạt”.

    Trên thế giới, đã có một bậc thầy về loại truyện cực ngắn giầu sức gợi, thường được ví với những “paraboon”- ngụ ngôn, lời má thị- đó là Kafka.

    Làng gần nhất, một trong những truyện thuộc loại ấy của Kafka, ngắn đến nỗi nó chỉ gồm hai câu (nghiêm chỉnh) về cú pháp (có nghĩa là không phải loại câu “dòng ý thức” nối liền hàng loạt mệnh đề với nhau bất chấp cú pháp, chấm phẩy, ngắt câu):

    “Ông tôi thường hay nói: Cuộc đời ngắn ngủi đến kỳ lạ. Trong kí ức của ông, giờ đây nó thu nhỏ mình lại đến mức thật khó hiểu nổi vì sao một chàng trai lại có thể quyết định đưa ngựa tới làng gần nhất mà không e ngại- cứ cho là không gặp tai nạn gì đi nữa- rằng một kiếp sống bình thường và trôi chảy cũng còn khó mà đủ cho cuộc du lãm ấy”.

    Một câu chuyện phi lí: Cả cuộc đời bỏ ra, cũng không thể đạt tới một cái gì cụ thể, gần gũi nhất: “ Làng gần nhất”. Một hình thức phát ngôn lạ lùng đối với một truyện ngắn: người kể (ở ngôi thứ nhất) chỉ kể lại một lời nói, hoặc đúng hơn là một ý nghĩ. Không hành động, không tình tiết, bởi đây mới là một giả thiết, một suy luận. “Làng gần nhất” một biểu tượng? Chưa hẳn vậy, khác với “Hoa muộn”. Bởi lẽ từ hình tượng “Hoa muộn”, người ta thấy sự trùng khít với một ý nghĩa: Cái trễ tràng, ngán ngẩm của những điều xảy ra không đúng lúc trong cuộc sống con người. Ngược lại, trong truyện của Kafka không ai dám chắc là đã chỉ ra được cài chìa khóa duy nhất để mở câu chuyện. Ở Kafka, mọi sự đều bất cập, giồng như “làng gần nhất”. Người đọc không thể thấy cái gọi là “ý đồ” mà đơn giản, chỉ cảm nhận một cách hồn nhiên mà thôi. Bởi vậy đọc truyện của Kafka, ta chỉ cảm thấy dư ba của nó ngân lên trong tâm tưởng như một bài thơ.

    Với khoảnh khắc hưởng thụ cực ngắn, “truyện mini” được một số nhà văn Pháp bồi thêm định ngữ instanta-ne, giống như hình ảnh “mì ăn liền”, “cà phê hòa tan” của cuộc sống hiện đại.

    Tuy vậy, nếu chớp lấy được khoảnh khắc của bi kịch, hoặc gợi lên được những cảm nhận mơ hồ song đầy ám ảnh về cuộc đời này (như trường hợp Kafka), thì truyện cực ngắn sẽ có sức mạnh của những châm ngôn, sấm truyền cực ngắn, sẽ có sức mạnh của những châm ngôn, sấm truyền vốn đã đi vào công chúng rộng rãi  từ thuở ban sơ.
    
------------------------

Chú thích:
1- Tên bài báo in trên Tác phẩm mới, 1993 và tập tiểu luận Tài năng và người thưởng thức, NXB Hội nhà văn, 1994, tr. 156- 161.
2- Daniel droJnwski: Đọc truyện ngắn, NXB Dunod. Paris. 1993, tr.45.
3- Tên một khu phổ ở Paris, nơi tập trung hành nghề của gái điếm, giống như phố Khâm Thiên ở Hà Nội trước 1945.
4- Daniel GroJnowski, Sđd. tr.58

(Theo “Văn học và Tuổi trẻ”, Số 2 (2005)
 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN TRƯỚC



 
Copyright © 2009 - 2014 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com