Những thế giới song song: Khả thể và giới hạn trong (tái) diễn giải văn chương





GIỚI HẠN VÀ KHẢ THỂ TRONG (TÁI) DIỄN GIẢI VĂN CHƯƠNG:

THÁCH THỨC và CƠ HỘI

 Phùng Ngọc Kiên

Khi Gustave Flaubert (1821-1880) được đưa vào hệ thống văn chương Việt Nam lần đầu tiên năm 1978 qua hai bản dịch song song và độc lập, Bà Bovary, cả miền Bắc và miền Nam đã biết đến những tên tuổi Victor Hugo, Honoré de Balzac, Stendhal, Emile Zola, Guy de Maupassant. Có lẽ đây là một tác giả văn xuôi cổ điển của Pháp được dịch, trích dẫn muộn và hiếm hoi so với những tên tuổi trên. Bởi thế, việc tìm hiểu sự có mặt bản dịch của Flaubert ở Việt Nam là một trong những định hướng ban đầu cho nghiên cứu so sánh và tiếp nhận. Nhưng câu chuyện về sự xuất hiện những bản dịch của Flaubert dẫn đến những thay đổi bất ngờ trong dự định nghiên cứu ban đầu.

Những sự ngẫu nhiên đôi khi có vai trò quan trọng. Năm 1978, Nhà xuất bản Văn học cho ấn hành cùng một lúc hai bản dịch Bà Bovary của hai dịch giả, Trọng Đức và Bạch Năng Thi. Một bản được phát hành tại miền Bắc, một bản ở miền Nam. Chúng được thực hiện độc lập và song song. Đối với chúng tôi, đó là một cơ hội thú vị để xem xét vấn đề lịch sử xuất bản từ góc độ xã hội học. Góc nhìn cá biệt có thể có những thông tin xã hội theo cách “bên lề” rất hấp dẫn để giải thích chúng[i].


Nhưng một câu hỏi được đặt ra như một thách thức: những thông tin đó có đích đáng không, dù rất hợp lí? Và nhất là có thể kiểm chứng một cách khoa học? Xem xét một sự kiện xã hội lẻ tẻ và cô lập - vốn thực ra có vô vàn quan hệ chồng chéo - theo những lập luận logic, thực ra luôn tiềm ẩn nguy cơ đưa chúng ta vào những hệ lụy của ngụy biện, được quy định bởi nhu cầu tái diễn giải của hậu thế dựa trên kinh nghiệm của người thực hiện. Khi mở rộng việc tìm kiếm, ngẫu nhiên chúng tôi lại tìm được một bản dịch khác ở miền Nam trước 1975. Đúng hơn, đó là một bản phóng tác của Hoàng Hải Thủy ở Nhà xuất bản Chiêu Dương có nhan đề Người vợ ngoại tình. Sự ngẫu nhiên này lại một lần nữa đặt chúng ta trước một tình huống phải trả lời: phương pháp nào cần được sử dụng ở đây cho nghiên cứu diễn giải và tiếp nhận so sánh? Dường như sự ngẫu nhiên là một biến ẩn thường xuyên của bài toán nghiên cứu tiếp nhận và diễn giải. Nếu không xác định được một hàm đích đáng cho đề bài này, một biểu thức vô nghiệm là không tránh khỏi. Đặc biệt trong trường hợp này sự ngẫu nhiên đòi hỏi đặc biệt quan tâm tới mức độ quan trọng của cách thức tiếp cận, để từ đó đi đến dự báo kết quả. Bởi vì chẳng hạn việc xem xét hàng chục ngàn đầu sách trong một thời gian hữu hạn để xác định liệu có bản dịch của Flaubert hay không thực ra là một nỗ lực hoàn toàn vô vọng. Thực vậy, bản in của Hoàng Hải Thủy, một tác giả phóng tác nổi tiếng ở miền Nam trước 1975 với hàng chục đầu sách, không hề có một chữ nào nhắc đến Bà Bovary, trừ một dòng rất nhỏ: Phóng tác theo tiểu thuyết của Flaubert. Bản thân văn bản này cũng có những hình thức thể hiện, chúng tôi sẽ đề cập sau, mà nếu không phải một người từng đọc kĩ Flaubert thì rất khó phát hiện ra[2].

Sự xuất hiện hai bản dịch của cùng một tác phẩm Flaubert theo một logic thông thường có thể gợi ý rằng dường như Flaubert giành được mối quan tâm đặc biệt của người đọc Việt Nam đương thời, những năm giữa của thập niên 1970, sau ngày chấm dứt chiến tranh. Nhưng nghiên cứu văn học sử cũng như văn học so sánh chỉ ra rằng không hiếm văn bản quan trọng xuất hiện một cách lặng lẽ không thực sự tạo nên một “sự kiện” đáng kể - tôi dùng chữ này theo cách các nhà kí hiệu học - cho kinh nghiệm đọc và kinh nghiệm thẩm mĩ của cộng đồng hay xã hội cùng thời[3]. Thật ra ngay cả trường hợp những văn bản xuất hiện ồn ào do một nguyên cớ nào đấy ngoài nó cũng chưa chắc để lại những dấu ấn quan trọng cho tiến trình văn hóa và văn học. Rõ ràng luôn có một khoảng cách rất lớn giữa những câu chuyện liên quan tới một cuốn sách lạ trong một nền văn học nào đó: sự xuất hiện của một cuốn sách, quảng cáo và hiệu ứng truyền thông, việc nói đến nó, hành vi đọc và đọc lại như là dấu ấn thực sự của cuốn sách ấy,... Chúng ta rất dễ rơi vào cái bẫy của những giả thiết có vẻ đương nhiên đúng, nhưng thực chất rất ma mị và đầy lừa dối của nghiên cứu văn học so sánh nếu cố tìm bằng được những liên hệ của những điều có vẻ giống nhau.

Dù thế, sự xuất hiện đồng thời của hai bản dịch tại Nhà xuất bản Văn học cũng như của bản phóng tác tại miền Nam trước 1975 lại là một gợi ý thú vị về hướng tiếp cận mới đối với các bản dịch như là một chứng cứ cho nghiên cứu tiếp nhận và so sánh văn học. Đó không đơn thuần chỉ dừng ở việc chứng minh rằng Flaubert từng hiện diện ở Việt Nam, thậm chí tới theo lối kép (hay bộ ba?), mà còn gợi ý và đề xuất một cách tiếp cận khác, có lẽ ở bề sâu hơn. Chẳng hạn, nó không chỉ cho thấy mối quan tâm đột xuất mà các dịch giả, với tư cách độc giả trong nền văn hóa đích, dành cho tác phẩm này, mà còn đặt ra một câu hỏi: ý nghĩa của hiện tượng hai bản dịch đồng thời cho một tác phẩm là gì? Một nghiên cứu xã hội học về việc bản dịch nào được tái bản có thể có ích về việc tiếp nhận, nhưng vẫn để ngỏ một câu hỏi quan trọng hơn rất nhiều trong nghiên cứu so sánh: việc tiếp nhận thực ra đã diễn ra như thế nào? Câu trả lời như thế nào trong khoa học và cuộc sống thực ra luôn quan trọng hơn rất nhiều câu hỏi tại sao. Để thực hiện việc đó, cần một cách đọc sâu (close reading) mà giới ngữ văn học cổ điển Đức, hay gần hơn là phái Phê bình Mới Anh-Mĩ của thế kỉ trước, từng chủ trương và thực hành. Bởi, như một cánh bướm có thể gây nên một trận bão vậy, những khác biệt rất nhỏ lại làm nên những dị biệt rất lớn do sự nhân lên những biến đổi bất ngờ. Cho nên cần phải có một sự thay đổi căn bản quan niệm về bản chất dịch, về hành vi dịch và về bản dịch. Hai bản dịch đồng thời, độc lập, có nghĩa là chúng hoàn toàn không phải là những kinh nghiệm kế thừa của nhau như vẫn thường được nhìn nhận như thế theo chiều lịch đại. Giữa chúng có những sự khác biệt mà hóa ra cầu nối lại là một văn bản xa lạ của nước ngoài. Thế là một câu hỏi như thách thức liên quan đến sự khác biệt giữa những bản dịch cùng thời xuất hiện (đối với người nghiên cứu) này thực ra lại trở thành cơ hội trước một câu hỏi: tiến hành so sánh sự đúng sai của hai bản dịch có thực sự đủ và cần thiết? hay nên tìm một cách xem xét khác đối với vấn đề này?

Một nghiên cứu xuất sắc theo hướng đối chiếu bản gốc và bản dịch liên quan tới chính bản dịch Flaubert, mà chúng tôi thực sự thừa hưởng được rất nhiều, cần phải kể đến là của dịch giả Lê Hồng Sâm khi bà bàn về “một chi tiết nhỏ hàm chứa vấn đề lớn”[4] trong tham luận tại Hội thảo quốc tế do Viện Văn học và Viện Havard-Yenching đồng tổ chức năm 2007. Trong nỗ lực tìm kiếm nguyên nhân sai lầm theo sự đối chiếu một đối một ở cả Trọng Đức lẫn Bạch Năng Thi, bà cho rằng có vấn đề “nếp cảm nhận và suy đoán bắt nguồn từ những nền văn minh khác biệt”, do thế nó “nhắc người biên tập chớ nên vì quá yên tâm, tin cậy mà mắc sơ suất. Như vậy nếu cách làm này của các phân tích so sánh bản dịch tỏ ra rất quen thuộc, thì cũng rất nhanh chóng người ta không khó chỉ ra những sai lầm và nguyên cớ của những sai lầm đó. Lê Hồng Sâm cho rằng đó là những “sự cố hãn hữu” ở những dịch giả uyên thâm, có tri thức và bề dày kinh nghiệm do sự khác biệt về văn hóa, do “những hiện tượng giao thoa ngôn ngữ, những nếp cảm nhận và suy đoán bắt nguồn từ nền văn hoá, đôi khi nằm sâu trong tiềm thức và bất thần chi phối khi ta không ngờ nhất”. Thế mà nghiên cứu của chúng tôi lại thấy rằng “sự hãn hữu” này thực ra hoàn toàn rất phổ biến trong bản dịch của hai dịch giả gạo cội này, tới mức buộc phải nói đến “ảo tưởng trung thành” (fidélité illusoire) thường gặp ở nghiên cứu dịch thuật (W. Benjamin). Bởi đó là sự tích tụ của hàng loạt những khác biệt có vẻ rất nho nhỏ của tiến trình dịch. Những sự tích tụ nho nhỏ này, như những cái đập khẽ của cánh bướm, có thể tạo ra những cơn bão thực sự.

Thực vậy nếu những khác biệt nhỏ - ở mọi cấp độ của từ được chọn, của cách diễn đạt, của cách ngắt câu, của ngữ khí,... gợi ý rằng một bản dịch văn chương không đơn thuần là một sự chuyển dịch máy móc, thì có nên xem xét nó như một sự sáng tạo, vô ý hoặc cố tình? Bởi đã đến lúc chúng ta cần phải đối mặt với một sự thực, như trong chính ví dụ mà Lê Hồng Sâm nêu ra: hầu như chưa một bản dịch nào được coi là trung thành cả. Chúng có thể rất hay, tuyệt đích, nhưng luôn bị kêu ca là không đúng, không thật, không đích xác, không chuẩn,... trong một giới hạn nào đó[5]. Điều đó có lí do ở việc không một bản văn nào được diễn (đạt) lại, được viết lại, được phân tích, được (tái) diễn giải mà hoàn toàn giống nhau dù bởi ít nhất là hai người. Sự tiếp nhận văn chương không bao giờ xuôi chiều, nhất quán vì chính bản chất của văn chương thích gây hấn, muốn làm lạ hóa nhằm buộc người đọc phải cắt nghĩa và diễn giải lại thế giới. Đọc văn chương về bản chất là một lối đọc đa phương (lectures multiples), luôn mang ý nghĩa số nhiều, khiến cho mỗi văn bản chỉ được coi là kinh điển khi luôn khiến người đọc kinh ngạc vào lúc đọc lại và luôn có nhu cầu đọc lại. Trường hợp của lịch sử đọc Flaubert, tác giả mà chúng tôi muốn nhắm tới, với muôn vàn cách đọc đa dạng, thậm chí đối lập nhau, là một ví dụ rõ rệt và tiêu biểu. Những tác giả kinh điển khác của văn học thế giới khác luôn cho những kết quả tương tự: W. Shakespeare, L. Byron, L. Tolstoi, F. Dostoievsky, H. de Balzac, V. Hugo, A. Poe, W. Faulkner, Nguyễn Du,... Cho nên nghiên cứu về dịch văn học có thể và cần phải được mở rộng tới những vấn đề của diễn giải và tái diễn giải trong văn chương. Bởi cách thức diễn giải sẽ quyết định nội dung được thể hiện, được tái diễn giải. Đối với triết học và vật lí học hiện đại, người ta cũng cho rằng việc xác định bản chất sự vật phụ thuộc vào cách thức xem xét, tức là phụ thuộc vào ý định chủ quan của hành vi diễn giải[6]. Câu chuyện của những giới hạn và khả thể trong hành vi tái diễn giải văn chương do thế là tâm điểm của nghiên cứu này.

 

Giả thiết của chúng tôi xuất phát từ hai điểm tựa lí thuyết quan trọng, với mong muốn kết nối chúng lại với nhau, của Hans-Robert Jauss về tiếp nhận văn chương và của Wolgang Iser về hiệu ứng đọc để đề xuất rằng việc tiếp nhận văn chương nước ngoài có mối quan hệ chặt chẽ với lịch sử những hiệu ứng đọc thông qua hành động diễn giải đa chiều của hành vi dịch thuật. Trên nền đối thoại giữa những nền văn hóa, ta có một cuộc đối thoại giữa những hiệu ứng văn chương, giữa các văn bản, giữa các hành vi dịch. Trong tinh thần như thế, chúng tôi đề nghị một cách tiếp cận mở thay cho những phân tích so sánh bản dịch theo chiều hướng phán xét (đúng/sai) vốn có giá trị đóng. Tinh thần này nhằm đến việc từ bỏ những định kiến về sự trung thành trong bản dịch để quan tâm đến tính đa dạng văn chương như một xu hướng mới trong nghiên cứu tiếp nhận văn học[7].

Trong những công bố gần đây, chúng tôi đã chỉ ra rằng bản dịch như một cách diễn giải khác và riêng phần hàm chứa những tiềm năng mà một bản văn có thể có[8]. Tiềm năng này được phát lộ khi có sự can thiệp của kinh nghiệm dịch giả dựa trên những lựa chọn về từ ngữ, cú pháp, thẩm mĩ cũng như xã hội học[9]. Chúng tôi cho rằng bản dịch về thực chất là biểu kiến (représentation) cho một cách đọc riêng phần (lecture partielle) đối với bản văn trong một bối cảnh khác và theo một cách mã hóa khác nhằm mang đến những hiệu ứng khác, dù có thể là bất ngờ ngoài dự tính của cả tác giả lẫn dịch giả. Giả thiết về tính chất đa chiều và đa phương của hành vi đọc và diễn giải dẫn đến nhận định rằng dịch là một hành vi viết lại một trong số những cách hiểu đa chiều được cụ thể hóa dưới hình thức bản dịch ở thời khắc thực hiện[10].

Để không đi quá xa, chúng tôi cho rằng có thể nhận thấy tinh thần này đã hiện diện nhiều trong các nghiên cứu hiện đại. Martin Heidegger cho rằng “Mọi bản dịch thực ra đều là một cách cắt nghĩa [...] Tuân theo bản chất của mình, việc diễn giải và dịch đều chỉ là một[11]. Georges Steiner có một ý tương tự, rằng vì không có hai thực thể sinh học - xã hội hay sinh vật, giống hệt nhau, cho nên “bên trong một ngôn ngữ, hay giữa ngôn ngữ này với ngôn ngữ khác, giao tiếp thực ra là một quá trình dịch”[12]. Jorge Luis Borges theo một cách rất khiêu khích khi cho một nhân vật chép lại Don Quixote của Cervantes đã chứng minh rằng “việc lặp lại thuần túy và giản đơn và việc tạo ra thêm một phát ngôn văn bản có thể là một hành vi phát ngôn độc đáo, là sự tạo ra đầu tiên, là sự sáng tạo đích thực tùy theo một vài điều kiện lịch sử”[13]. Bản thân Gérard Genette cũng xếp bản dịch vào hiện tượng này[14]. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng không phải không có ý nghĩa, khi nhận ra về mặt từ nguyên, từ “traduction” trong tiếng Pháp, cũng như các ngôn ngữ phương Tây và từ “dịch thuật” của tiếng Việt, vốn có gốc từ chữ Hán (/yì/: dịch) đều gắn với những ý nghĩa về sự biến đổi, diễn giải, làm sáng rõ, thương lượng. Việc chuyển Truyện Kiều từ chữ Hán sang chữ Nôm vẫn được gọi là diễn nôm, cũng như bản dịch Kiều sang tiếng Pháp được Nguyễn Văn Vĩnh gọi là tân diễn.

Trong công trình đặt nền móng cho các vấn đề kí hiệu học hiện đại, nhưng lại được biết rất muộn ở phương Tây, Mikhail Bakhtine phân tích ưu nhược điểm của các nhà ngữ văn học. Ông cho rằng coi văn bản cổ như những “hành vi phát ngôn tạo nên những độc thoại khép kín” của một thực tại trực tiếp, ngữ văn học đã tự cô lập văn bản nghiên cứu của mình trong tính độc thoại. Bằng cách đó, các nhà ngữ văn học cũng như các nhà ngôn ngữ học theo trường phái Ferdinand de Saussure đã lựa chọn phương pháp hệ thống nhưng đóng kín để xem xét một hiện tượng. Thế mà “hình thức tối thiểu của lời nói bên trong được tạo nên từ những độc thoại trọn vẹn, tương tự những đoạn hay bởi những hành vi phát ngôn trọn vẹn”[15], những văn bản, những hành vi phát ngôn được nghiên cứu chỉ là một yếu tố bất khả tương nhượng của giao tiếp ngôn ngữ. Với Bakhtine, mọi hành vi phát ngôn, tức mọi văn bản, “mọi ghi chép đều kéo dài ghi chép trước đó, tranh luận với những ghi chép trước đó, chờ đợi những phản ứng tích cực về việc hiểu, dự báo những ghi chép về mình”[16]. Muốn đưa nghiên cứu ngôn ngữ khỏi ngõ cụt của một hệ thống khép kín của chủ nghĩa duy tâm khách quan trừu tượng, Bakhtine gợi ý một đối tượng khác trong nghiên cứu văn chương theo một cách nhìn khác. Đối tượng này luôn vận động và biến đổi trong một tình thế mở. Việc hiểu văn bản đối với Bakhtine phải gắn với những hành vi cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, nghĩa là phải được “tái diễn giải” như một lời đáp. Tương tự, chúng tôi cho rằng một văn bản dịch luôn cần được đặt trong những hoàn cảnh cụ thể bởi nó hoàn thành những dự tính đã và đang có. Do vậy trong nghiên cứu này, chúng tôi muốn xem xét mối quan hệ bản dịch và bản gốc theo một hướng khác, như là sự tận dụng một cơ hội quý báu trước chính các thách thức được đặt ra. Nghiên cứu này đối với hành vi dịch, thể hiện cụ thể trong việc dịch Flaubert ra tiếng Việt, do thế không nằm trong sự đối chiếu một đối một, như “giải mã” - mượn cách Bakhtine gọi việc học ngoại ngữ - mà thuộc về một tiến trình rộng hơn của một sự giao tiếp mà chúng tôi muốn nhấn mạnh bởi tính tương tác chủ động của hành vi: dịch như là một sự viết lại, một sự tái diễn giải.

Hơn nữa bản dịch văn chương, và cùng với nó là hành vi dịch, có tính không thuần chất trong hệ thống văn chương bản địa. Nó là một kẻ xa lạ, và vì thế có tính lai ghép (hybridité). Tính khác (altérité) và sự lai ghép gợi ý rằng sự có mặt của nó trong văn chương bản địa gắn với những khoảng trống luôn tiềm tàng ở mọi hệ thống. Bởi thế việc xem xét chúng mang đến cơ hội đặc biệt thú vị để đánh giá những lời đáp lại với những câu hỏi được hệ thống bản địa nêu ra. Nói cách khác, cuộc đối thoại, theo cách nhìn nhận của Bakhtine, giữa cái xa lạ và cái quen thuộc của bản địa mô phỏng cuộc đối thoại giữa cái mới và cái cũ, cái cách tân và cái truyền thống trong sự vận động thường xuyên của văn học. Chính việc viết lại cái đã có, theo một hình thức ngôn ngữ khác, một mã hóa khác[17], là một hành vi tái diễn giải dựa trên những kinh nghiệm thẩm mĩ đặc thù của chủ thể, ở đây là của dịch giả. Kinh nghiệm thẩm mĩ đó, do hiệu ứng tái diễn giải ở hành vi viết lại, do tiến trình tương tác, không bao giờ bất động, hoàn thành mà luôn vận động, luôn biến đổi. Cho nên việc coi thách thức và cơ hội như hai mặt của vấn đề là một cách để nhấn mạnh đến tính năng động của đối tượng mà chính nghiên cứu này mong muốn hướng đến.

--

Nguồn: Phùng Ngọc Kiên. 2017. Những thế giới song song: Khả thể và giới hạn trong (tái) diễn giải văn chương. Hà Nội: NXB Tri thức, tr.9-20.

 

Thông tin thêm về cuốn sách:

http://www.nxbtrithuc.com.vn/Danh-muc-tu-sach/2654751/430/Nhung-the-gioi-song-song.html

 

--



[i] Nhân đây, lời cảm ơn chân thành của tôi xin được gửi tới dịch giả, nhà giáo Lê Hồng Sâm bởi sự nhiệt tình và chu đáo của bà khi giúp tôi tìm tòi tư liệu về Bạch Năng Thi. Những thông tin quý giá mà bà cung cấp giúp tôi hiểu “lí do” của sự xuất hiện đồng thời hai bản dịch này, nhưng tôi tự thấy cần phải tìm kiếm xa hơn ở những “nguyên cớ” xã hội học nghệ thuật cho sự xuất hiện những bản dịch văn chương. Từ đó đặt ra vấn đề về những giới hạn và khả thể như đối tượng chính trong nghiên cứu này về sự tái diễn giải văn chương.

[2] Trong một nghiên cứu xã hội học dịch thuật văn bản, chúng tôi đã chỉ ra những sự khác biệt quan trọng giữa một bản dịch đầy đủ và một bản dịch phóng tác, do sự khác biệt của kinh nghiệm dịch thuật cũng như kinh nghiệm thẩm mĩ của các dịch giả. Xem thêm Phùng Ngọc Kiên, “Khoảng cách thẩm mĩ tiểu thuyết dịch nhìn từ góc độ xã hội học qua trường hợp Bà Bôvary ở Việt Nam”, trong Xã hội học văn học, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2014, tr. 225-259.

[3] Kinh nghiệm cá nhân cho tôi thấy rằng ở Việt Nam, truyền thống ghi chép bị thiếu hụt buộc chúng ta phải có một nghiên cứu tiếp nhận so sánh phù hợp. Có những ảnh hưởng không mấy khi được ghi chép đầy đủ nhưng lại rất mạnh. Do thế, logic thực chứng của nghiên cứu xã hội đôi khi buộc chúng ta phải đi đường vòng, nhưng không bao giờ là dài nhất, để tìm đến điểm hiện diện của chúng như là những giao thoa của các nền văn hóa. Chẳng hạn ngay khi bản dịch đầu tiên Sông Đông êm đềm của Mikhail Solokhov ra đời, những hình ảnh người phụ nữ Nga mạnh mẽ đầy sức sống (thảo nguyên sáng sớm được so sánh với bộ ngực của người đàn bà, mối tình “ngoài luồng” của Aksinia với Grigori...) đã gây ấn tượng mạnh cho những sinh viên Đại học Bách Khoa. Ảnh hưởng đó hẳn không hề riêng lẻ. Họ chia sẻ và trò chuyện với nhau về những điều này. Thế mà những điều này hầu như không được khai thác hay trình bày, nếu có thì rất hiếm và không phải điểm nhấn, trong các nghiên cứu, phê bình, giảng dạy được coi là “chính thức” về so sánh và tiếp nhận. Thực tế này đặt ra một bài toán khác, mang tính xã hội học văn học, về việc xây dựng cho được công thức xử lí hàng nghìn “nghiệm” có thể, và phải lựa chọn được nghiệm đích đáng nhất.

[4] Lê Hồng Sâm, Chi tiết nhỏ hàm chứa vấn đề lớn (hay là Dịch thuật và văn hoá), Tham luận Hội thảo quốc tế Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế, Viện Văn học và Viện Harvard-Yenching tổ chức, Hà Nội, 4.2007.

[5] Chẳng khác nào một hiện tượng quen thuộc hơn, hiếm khi tìm được những bộ phim chuyển thể làm thỏa mãn mọi người đọc tác phẩm văn học. Vật lí hiện đại cũng đặc biệt nhấn mạnh đến “giới hạn trong sự quan sát” để từ đó có thể xác định được đối tượng. Werner Heisenberg, từ kinh nghiệm của mình, nói với chúng ta rằng “trong khoa học tự nhiên, chúng ta không quan tâm đến vũ trụ như là toàn thể, bao gồm cả bản thân chúng ta, mà chúng ta chỉ chú ý tới một phần nào đó của vũ trụ”. Xem W. Heisenberg, Vật lí và triết học (Phạm Văn Thiều và Trần Quốc Túy dịch), Nxb Tri thức, 2009, tr. 79, in nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh.

[6] Xem W. Heisenberg, “Ngôn ngữ và thực tại trong vật lí hiện đại”, trong Vật lí và triết học, Sđd.

[7] Xem thêm Dosse Mathieu, “La traduction, une lecture comme une autre”, Traduire le même, l’autre et le soi, PUP, Aix-en-Provence, 2011, tr. 124.

[8] Phùng Ngọc Kiên, “Những giới hạn tiếp nhận Bà Bovary ở Việt Nam (qua trường hợp các bản dịch)”, Nghiên cứu văn học, số 4/2007; “Bàn về hiệu ứng đọc lí thuyết phê bình nước ngoài: trường hợp bản dịch Độ không lối viết”, Nghiên cứu văn học, số 7.2014; “Lire Rousseau au Việt Nam dans le premier quart du XXe siècle” cho Hội thảo quốc tế tại Đại học Grejswald (2012) và công bố trong Rousseau Studies, N° 3 : Rousseau en Asie, Genève, Slatkine, Genève, 2015, do Tanguy L’Aminot và Catherine Labro chủ trì ; Truyện Kiều tân diễn trong ba mươi năm đầu thế kỉ”, Hội thảo quốc tế (2015) và in trong Di sản văn chương : đại thi hào Nguyễn Du, 250 năm nhìn lại, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam và Viện Văn học, Nxb KHXH, 2015, tr. 313-333; “Les voix croisées féminines dans les traductions de Kim Lefvre et de Linda Lê” tại Hội thảo quốc tế INALCO (Paris, 3.2014) ; “Dịch như là (những) sự xâm phạm” tại Hội thảo quốc tế “Dịch văn học - những vấn đề lí thuyết và các bài học kinh nghiệm” tại Trường ĐHKH&NV - ĐHQG Hà Nội (10.2014), Kỉ yếu Hội thảo, Nxb ĐHQG 2016.

[9] H.-R. Jauss cùng với W. Iser gọi là hành vi “cụ thể hóa” (concrétisation).

[10] Vấn đề đa chiều kích trong hành vi đọc, đa phương trong việc diễn giải từ đó dẫn tới “ảnh hưởng và tiếp nhận” mang tính đối thoại đã được tôi trình bày trong tham luận Hội thảo quốc gia Tiếp nhận văn học nghệ thuật, do Khoa Văn học, Đại học KHXH&NV - ĐHQG Hà Nội tổ chức. Theo đó, việc từ chối ý kiến chủ quan mang tính độc đoán được coi là của tác giả đã trao quyền tạo dựng và quyết định ý nghĩa cho người thực hiện hành vi tiếp nhận. Xem thêm Phùng Kiên, “Đọc văn, ảnh hưởng và đối thoại”, kỉ yếu Tiếp nhận văn học nghệ thuật, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2011, tr. 116-133.

[11] Dẫn theo Antoine Berman, La Traduction et la Lettre de l’Auberge du lointain, Le Seuil, 1999, tr. 19. In nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh.

[12] Georges Steiner, Après Babel, Albin Michel, 1998, tr. 89.

[13] “Pierre Minard, auteur du Don Quichotte”, dẫn theo Gérard Leclerc, Le Sceau de l’œuvre, Le Seuil, 1998, tr. 128, in nghiêng trong nguyên bản.

[14] Gérard Genette, Palimpsestes, la littérature au second degré, Le Seuil, 1982, tr. 294-298.

[15] Mikhail Bakhtine (V. N. Volochinov), Le Marxisme et la philosophie du langage (Traduit du russe et présenté par Marina Yaguello, Préface de Roman Jakobson), Minuit, 1977, tr. 63. Năm 2015, Ngô Tự Lập giới thiệu ở Nxb ĐHQG Hà Nội bản dịch trực tiếp từ tiếng Nga cho công trình cực kì quan trọng này dưới tên gọi Chủ nghĩa Marx và triết học ngôn ngữ, tuy nhiên tên tác giả lại chỉ được ghi là V. N. Voloshinov. Nghiên cứu của chúng tôi tham khảo bản tiếng Pháp của Nxb Minuit, bạn đọc có thể tiếp cận các nguồn trích dẫn một cách tổng thể thông qua bản dịch tiếng Việt này.

[16] M. Bakhtine, Le Marxisme et la philosophie du langage, Sđd, tr. 105-106. In nghiêng do chúng tôi nhấn mạnh.

[17] “Việc dịch bao hàm hai thông báo tương đương thuộc hai mã khác nhau”. Xem thêm Roman Jakobson, Essais de linguistique générale, Minuit, 1963 (2003), tr. 80.

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com