Tác động của dịch thuật đến lí thuyết tiếp nhận ở Việt Nam sau 1986



(PGS.TS Hoàng Thị Huế)    

Sau 1986, cùng với sự đổi mới mạnh mẽ trong sáng tác, nghiên cứu, các công trình dịch thuật có giá trị liên tục được giới thiệu, đăng tải nhiều nơi, góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu một lý thuyết mới vào Việt Nam: lý thuyết tiếp nhận.


Việc dịch các công trình nghiên cứu, lý thuyết nước ngoài góp phần to lớn vào việc hình thành, thay đổi, định hình những phương pháp nghiên cứu lý luận phê bình văn học ở Việt Nam. Các công trình liên quan trực tiếp, gián tiếp đến mỹ học tiếp nhận như của Iu.M.Lotman. P.Ricoeur, A.Compagnon, J.Derida, U.Eco, R. Barthes, H.Jauss, W.Iser… được dịch và giới thiệu rộng rãi bởi Nguyên Ngọc, Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, Nguyễn Văn Dân, La Khắc Hoà, Trần Ngọc Vương,Trịnh Bá Đĩnh, Lộc Phương Thủy, Đào Tuấn Ảnh… Chính những công trình này đã tạo nên một sự chuyển biến mạnh mẽ có ảnh hưởng lớn đến lý luận nghiên cứu, phê bình văn học ở Việt Nam. Đó là việc nhìn nhận, đánh giá lại vai trò của độc giả so với quan niệm truyền thống. Người đọc, văn bản, tác phẩm, trong các công trình dịch, đã trở thành một chủ đề độc lập, chất chứa bao sự hòa âm giữa “cái tôi” với kẻ khác, giữa văn bản và văn cảnh “của mình” và “của người”, giữa các kiểu diễn ngôn, nhân vật, tác giả và độc giả khác nhau (L.P.Rjanskaya).

Việc chú ý chọn dịch các công trình tiêu biểu của các nhà khoa học có uy tín trên thế giới đã giúp cho độc giả Việt Nam có cái nhìn bao quát về các xu hướng, các quan niệm nghiên cứu khác nhau về mỹ học tiếp nhận. Các nhà khoa học trong nước, với niềm say mê và khao khát đổi mới văn chương nước nhà đã dày công chọn lọc, dịch và giới thiệu các công trình có giá trị ở nhiều lĩnh vực khác nhau, có liên quan trực tiếp/ gián tiếp đến mỹ học tiếp nhận như của Lotman, Derrida, W. Iser, R. Barthes… Khi cho rằng lối viết của tiểu thuyết là “hành động chiếm hữu của xã hội đối với quá khứ của mình và khả năng của mình” (1), R.Barthes trong Độ không của lối viết (Nguyên Ngọc dịch, NXB HNV, 1997), đã chỉ ra sự giao ước giữa xã hội – bạn đọc với tác giả, tức trong tiếp nhận, độc giả "yên tâm về một lối bịa chuyện đáng tin”, thỏa ước về tính nước đôi của tiểu thuyết: vừa giả vừa tự chỉ ra độc giả của mình. Tác giả chỉ ra cơ chế của văn học, của lịch sử lối viết, là một cố gắng rút ra khỏi lịch sử, đạt đến “độ không của lối viết” nhưng lại luôn bị buộc chặt hơn. Từ đây, có thể thấy, vai trò của nhà văn không còn bao quát toàn thế giới nữa bởi sau khi đặt dấu chấm hết cho văn bản tác phẩm, thì đồng thời một phức tạp mới, tồn tại mới, cũng xuất hiện, vượt ngoài toan tính của nhà văn. Đó là “trí nhớ thứ hai còn kéo dài một cách bí ẩn giữa những ý nghĩa mới” phụ thuộc vào đón nhận của độc giả và xã hội.

Mỹ học tiếp nhận tuy không được đề cập trực tiếp, song từ mô hình do ngôn ngữ học đề xướng, hoạt động văn học, trong đó có tiếp nhận, đã được lý giải “Chúng ta vẫn thường nói: ngôn ngữ phản ảnh hiện thực, nhưng các nhà cấu trúc luận nói: ngôn ngữ tạo ra hiện thực”. Không phải nhà văn với tư cách nhà tư tưởng, kẻ chịu nhiều đau khổ và dằn vặt mang lại ý nghĩa cho tác phẩm, mà là các đối lập, các chuyển động và phản chuyển động của ngữ nghĩa sẽ sinh tạo ra nghĩa và ý nghĩa (2). Những bí ẩn của văn chương và sáng tạo văn chương được bóc tách, giải mã. Đó cũng là những tiền đề quan trọng trong tiếp nhận văn học, xóa bỏ vai trò độc lập của nhà văn – người tạo ra hiện thực – trong quan niệm truyền thống. R.Barthes trong các công trình được giới thiệu ở đây, cũng khẳng định “nghĩa có thể được hiểu như là quá trình” (3). Bởi hành động nghĩa của văn bản không hề kết thúc bởi sự thống nhất giữa cái được biểu đạt và cái biểu đạt mà nó còn được quy định bởi nhiều yếu tố khác, môi trường xung quanh… Todorov cũng chỉ ra sự vận động trong quá trình tạo nghĩa tác phẩm của việc đọc “việc đọc thông thường là gần gũi nhất với sự mô tả lý tưởng trong chừng mực việc đọc ấy chỉ dừng ở mức biểu lộ tác phẩm… Khi đọc, con người dường như phác họa ra một văn bản riêng của mình trong tâm tưởng, tái tạo lại cái được đọc, thêm hay bớt đi cái mà anh ta muốn hoặc không muốn thấy trong đó. Với sự xuất hiện của người đọc, việc đọc mất đi tính nội tại của mình (4). Như vậy, mặc dù bàn đến thi pháp học, tức cấu trúc nội tại của văn bản, Todorov vẫn nhấn mạnh đến vai trò của độc giả, tức sự sáng tạo văn bản của mỗi bạn đọc, sẽ nới rộng không gian thẩm mỹ cho tác phẩm, vượt ngoài ý đồ sáng tạo của nhà văn. Ông cho rằng “Đọc, trong chừng mực nào đấy là cuộc du hành trong không gian văn bản, một cuộc du hành mà lộ trình của nó không bị cản trở bởi những vách chắn nối tiếp nhau của những con chữ - từ trái sang phải, từ trên xuống dưới (chỉ trên cấp độ này sự lựa chọn lộ trình mới mang tính bắt buộc, do vậy mà văn bản không chỉ có một nghĩa duy nhất” (5). Đồng thời, sự du hành này của hành động đọc, theo Todorov cũng tái tạo, liên kết với những yếu tố ngoài văn bản, những cái xa nhau trong văn bản, và nhờ vậy, thông qua hành động đọc của độc giả, không gian phi tuyến tính của văn bản được tạo thành. Rõ ràng, những nhận định trên đã nắm bắt đúng bản chất của đời sống tác phẩm, đề cao vai trò của độc giả, như một nhân tố không thể thiếu trong tái tạo giá trị thẩm mỹ cho tác phẩm. Những công trình dịch này đã góp phần hữu ích trong tái tạo diện mạo của mỹ học tiếp nhận.

Trong Cấu trúc văn bản nghệ thuật của Iu.M.Lotman (do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004), vấn đề người đọc được đề cập đến ở các mức độ như sự tương tác giữa người truyền và người nhận trong giải mã văn bản. Vì vậy, có thể xảy ra sự tương đồng: người nhận và người truyền cùng sử dụng một bộ mã chung, hoặc người nhận cố giải mã văn bản bằng bộ mã khác với người tạo lập ra nó. Vì vậy, cố gán cho văn bản thứ ngôn ngữ nghệ thuật của mình, hoặc cố tiếp nhận văn bản nghệ thuật theo cách quen thuộc của người đọc. Cho nên, xảy ra cuộc đấu tranh giữa người đọc và tác giả, khi người đọc thắng, ngôn ngữ nhà văn sẽ được khai thác và thành công cụ của người tiếp nhận để mô hình hóa đời sống (6). Sự tương đồng và khác biệt trong sáng tạo và tiếp nhận còn được Lotman đề cập đến trong các nội dung về đại lượng entropie của các ngôn ngữ nghệ thuật của tác giả và độc giả, các cấu trúc ngoài văn bản… Có thể nói, tuy không gọi tên trực tiếp là mỹ học tiếp nhận nhưng nghĩa văn bản và quá trình tạo nghĩa văn bản thông qua tiếp nhận của độc giả, đã được xem trọng và đề cập ở nhiều góc nhìn, bên trong và bên ngoài văn bản.

Công trình Theo vết chân những người khổng lồ, Đỗ Lai Thúy biên soạn (NXB Văn hóa thông tin 2006), giới thiệu các lý thuyết văn hóa, trong đó có nội dung Phân tích ký hiệu học văn học và cấu trúc luận Đường vào ký hiệu học nghệ thuật bàn về cấu trúc văn bản của Lotman “tác phẩm là hệ thống những lý luận – lồng ghép, cái nọ lồng vào cái kia… ở mỗi một nhóm độc giả khác nhau, văn bản lại cung cấp một thông tin khác, và mỗi một lần đọc lại, chúng ta lại thu được một lượng thông tin khác”(7). Tác giả phân tích mối quan hệ giữa văn bản thuộc về hai (hoặc nhiều) hành ngôn đồng thời.

Đặc trưng mỹ học Nghệ thuật và chân lý khách quan của Lukacs Gyorgy, do Trương Đăng Dung giới thiệu và dịch từ tiếng Hungari, trên Tạp chí văn học nước ngoài số 5 (9/10/1998) và số 6 năm 1999. Công trình giới thiệu chương 13 trong công trình của Lukacs: Tác phẩm nghệ thuật như là vật tồn tại vì nó, tập trung làm rõ vấn đề “tác phẩm nghệ thuật là vật cho ta xuất hiện trong hình thức của một vật tự nó – chỉ hoàn toàn trong hình thức của nó, và không phải là vật tự nó, xét trong ý nghĩa nghiêm túc của khái niệm này”(8). Từ đây, trong tiếp nhận, tác phẩm như là vật tự nó, dựa trên sự cấu thành của một vật vì nó sẽ đưa từng con người với những trải nghiệm riêng vào những trải nghiệm chung của nhân loại, trong tồn tại thế giới. Tuy không phải là một nhà mỹ học tiếp nhận nhưng Lukacs là một trong những nhà mỹ học Mác-xít đầu tiên nghiên cứu về quan hệ hình thức và nội dung tác phẩm, chỉ ra sự khách thể hóa hình thức có hiệu lực như thế nào trong quá trình sáng tạo nghệ thuật, và chỉ ra nội dung mang nghĩa của tác phẩm có nguồn gốc từ đời sống xã hội.

Năm 2001, trong công trình Tác phẩm văn học của Roman Ingarden (Trương Đăng Dung giới thiệu và dịch), tác giả làm rõ khái niệm tác phẩm văn học, có phương thức tồn tại riêng, thông qua người đọc. Đây là một trong những vấn đề quan trọng của mỹ học tiếp nhận.

Tư tưởng mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss được Trương Đăng Dung dịch và giới thiệu trong: Lịch sử văn học như là sự khiêu khích đối với khoa học văn học (Tạp chí Văn học nước ngoài số 1/2002). Các vấn đề được đặt ra trong công trình này là lịch sử văn học là lịch sử của quá trình tiếp nhận và sáng tạo, tầm đón đợi, khoảng cách thẩm mỹ, người đọc, tác phẩm, và nhiều vấn đề quan trọng của lý thuyết tiếp nhận được tường giải rõ ràng, thuyết phục. Công trình dịch đã giới thiệu một hướng nghiên cứu mới, nhìn từ độc giả, thay cho nhìn từ tác giả và tác phẩm trước đây. Những khái niệm then chốt của mỹ học tiếp nhận đã được dịch và giới thiệu khá cẩn thận, kỹ lưỡng, góp thêm một nền tảng tri thức cần thiết cho lý luận văn học trong nước.

Cũng trong năm 2002, Lại Nguyên Ân trích dịch và giới thiệu công trình Mỹ học tiếp nhận của A.Dranov (Tạp chí văn học, số 3). Công trình giới thiệu về nguồn gốc của mỹ học tiếp nhận (là sự phản ứng với mỹ học nội quan, về tính tự sự của tác phẩm, nguồn gốc của mỹ học tiếp nhận có từ giải thích học, hình thức Nga, chủ nghĩa cấu trúc trường phái Prague, xã hội học văn học… (9).Công trình cũng đề cập đến tư tưởng cốt yếu của mỹ học tiếp nhận xuất phát từ quan niệm của Gadamer, Jauss, của W.Iser trong công trình Cấu trúc vẫy gọi của văn bản … Các vấn đề cơ bản của mỹ học tiếp nhận đã được bàn đến ở đây, nhìn ở một phương diện khác nên góp thêm cái nhìn toàn diện về mỹ học tiếp nhận. Phần phụ chú của bản dịch là chú thích các khái niệm cơ bản của mỹ học tiếp nhận như kinh nghiệm thẩm mỹ, khoảng cách thẩm mỹ, văn cảnh, cụ thể hóa, đồng nhất hóa, hiện thời hóa, tầm đón đợi, tính bất định giao tiếp, tính xác định giao tiếp, tính phi tình thế, chiến lược văn bản, nghĩa ảo, tự động hóa… Đóng góp của công trình dịch này là giới thiệu hàng loạt các khái niệm cơ bản (như đã nêu ở trên), về mỹ học tiếp nhận một cách cụ thể, chi tiết, rõ ràng, thuyết phục, có minh họa dẫn dắt rõ ràng. Đây là một nguồn tư liệu khá hữu ích cho những nhà lập thuyết, nghiên cứu về mỹ học tiếp nhận.

Có thể thấy những năm đầu thế kỷ XXI, phong trào dịch các lý thuyết phương Tây phát triển rầm rộ, trong đó có lý thuyết tiếp nhận, đã đem lại một không khí học thuật mới cho nghiên cứu văn học nước nhà. Năm 2005, Trần Minh Sơn dịch bài Diễn biến lý luận văn học phương Tây thế kỷ XX của Đồng Khánh Bính (Tạp chí nghiên cứu văn học số 8/2005). Công trình này chỉ ra ba lần thay đổi hệ hình tư duy của lý luận phương Tây. Thứ nhất là bước chuyển từ chủ thể sang khách thể, thứ hai là những biến động do ngôn ngữ học chủ nghĩa cấu trúc mang lại, thứ ba là những biến động của chủ nghĩa phản nhân văn và chủ nghĩa phản khoa học (lý luận văn học đương đại gồm chủ nghĩa hậu cấu trúc, phân tâm học, nữ quyền, hậu hiện đại…). Tuy không nói trực tiếp về tiếp nhận nhưng cách phân chia như vậy đã chỉ ra rằng sự thay đổi về tư tưởng, quan niệm của con người về ngôn ngữ đã mang lại sự thay đổi trong tư duy lý luận văn học, dẫn đến sự ra đời của lý thuyết tiếp nhận.

Sau đó, năm 2006, có công trình dịch của Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào, cuốn Bản mệnh của lý thuyết của Antoine Compagnon (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội). Hai nội dung quan trọng trong công trình này đề cập đến mỹ học tiếp nhận là người đọc lịch sử, các vấn đề về người đọc, tiếp nhận và ảnh hưởng. Người đọc hàm ẩn, tầm đón đợi, thể loại như là mô hình đọc, sự đọc tự bon đi, sau người đọc… được tác giả luận giải thuyết phục với các cứ liệu chắc chắn, hợp lý và khẳng định “trải nghiệm về đọc, như mọi trải nghiệm của con người tất nhiên phải là một trải nghiệm kép, mập mờ không rõ, giằng xé giữa hiểu và yêu thích, giữa nghĩa văn học và hình ảnh ngụ ý, giữa tự do và câu thúc, giữa sự chú ý đến người khác và mối bận tâm về mình” (10). Đồng thời, tác giả cũng xác định các khái niệm cơ bản của văn chương: tính văn chương, chủ ý, sự thể hiện, tiếp nhận, phong cách. Đó là lịch sử văn chương và lịch sử của nền văn học, lịch sử văn chương và phê bình văn chương, lịch sử của những tư tưởng, lịch sử xã hội, sự phát triển của văn chương, chân trời chờ đợi, ngữ văn học ngụy trang, lịch sử hay văn chương, lịch sử và văn chương. “Lịch sử văn chương… là sự nối kết, dán ghép những văn bản và diễn ngôn rời rạc gắn với những niên biểu có biến thái cực nhỏ… có loại giàu chất văn chương hơn, dẫu sao phải chăng đó cũng là thử thách của quy chuẩn được truyền thống để lại? (11a).Tác giả cho rằng “hành trình của lý thuyết là một bài học thuyết tương đối và một sự tỉnh ngộ”(11b). Như vậy, mỹ học tiếp nhận với các vấn đề nội quan và ngoại quan, những được và chưa được của nó đã được giới thiệu khá kỹ trong công trình này. Như mọi sự tương đối khác của các lý thuyết, mỹ học tiếp nhận là một nỗ lực bổ sung thêm một hướng mới trong giải mã văn bản. Đó mới là điều quan trọng.

TrongVăn bản là gì? của Paul Ricoeur (Trương Đăng Dung dịch, Tạp chí văn học nước ngoài số 4, 2005), khái niệm văn học vốn xưa nay đồng nhất với tác phẩm, đã được làm sáng tỏ trong một tầm nhìn mới, hiện đại, tường minh. Văn bản văn học là cái mê cung của mọi sự liên kết, tạo nghĩa không ngừng. Cái văn bản tưởng như đã hoàn thành và khép kín ấy, luôn tạo ra khả năng, để có thể lý giải bằng hàng ngàn cách khác nhau, mà tính độc đáo không lặp lại của nó vẫn không thay đổi.

Riêng vớiĐi tìm sự thật biết cười của Umbeeto Eco, (Vũ Ngọc Thăng dịch, NXB Hội nhà văn 2004), tính chất mở của tác phẩm nghệ thuật được nói đến như một phương diện thiết yếu: “Tính chất mở là điều kiện của mọi sự thưởng thức thẩm mỹ và tất cả mọi hình thức, nếu mang giá trị thẩm mỹ, đều mở”. Do đó, khó có thể đạt được mục đích tiếp cận tác phẩm văn học như chính nó, và mọi sự đánh giá cũng như khác biệt ý kiến về một tác phẩm, đều liên quan đến các kiểu đọc. Tác phẩm văn học không đồng nhất với sự đọc.

Trên đường đến với ngôn ngữ của Martin Heidegger (Trương Đăng Dung dịch, Tạp chí văn học nước ngoài, số 1,1999) đã khái quát tư tưởng triết học của nhà hiện tượng học này, như một phát hiện mới so với quan niệm của siêu hình học cổ điển của Hy Lạp và phương Tây. Ông cho rằng thế giới không phải là khách thể nằm ngoài, người ta chỉ thông hiểu điều mà người ta thực sự hiện hữu,và người ta chỉ thực sự hiện hữu như người ta thông hiểu. Chính quan điểm này đã chi phối cái nhìn của ông về vai trò và bản chất của ngôn ngữ. Theo Heidegger, ngôn ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp và cao hơn thế, ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể. Ngôn ngữ là nơi diễn ra đời sống của con người, là cái đầu tiên tạo ra thế giới. Như vậy, công trình dịch này của Trương Đăng Dung đã giới thiệu và khẳng định, trong lịch sử đời sống văn học, Heidegger là người đầu tiên đưa sự hiểu lên bình diện mới, bình diện tường giải học triết học. Đây là cơ sở chuẩn xác của sự hiểu trong tiếp nhận văn học, nhìn một cách tổng quát và thuyết phục nhất, thuyết minh cho sự hiểu – như một tồn tại của độc giả trong tiếp nhận văn bản tác phẩm.

Công trình Cái chết của tác giả của Roland Barthes, do Trần Đình Sử dịch từ tiếng Nga, Phan Luận dịch từ tiếng Anh, Lý Thơ Phúc dịch từ tiếng Pháp, đã nêu ra những luận điểm quan trọng có ảnh hưởng lớn đến tư duy lý luận trong nước, đặc biệt là mỹ học tiếp nhận. Đó là hệ quả của việc thay đổi quan niệm về tác phẩm và người đọc của người nghiên cứu. Tác giả, tác phẩm không còn vị trí quyền lực duy nhất chi phối cách hiểu của người đọc. Ngược lại, tác giả được xem cũng là một kiểu người đọc hiện đại, là “người biên chép” – sinh thành cùng với văn bản của mình, không tồn tại trước hoặc vượt ra ngoài sự viết.

Năm 2012, Lã Nguyên dịch Khái niệm văn bản của IU.M.Lotman (lythuyetvanhoc.wordpress.com/Languyen.vị-thế-của-văn-học-trên-sân-chơi-văn-hóa). Với các phần văn bản bao gồm tính biểu thị, tính phân giới, tính cấu trúc, trật tự thứ bậc của khái niệm văn bản, ký hiệu tạo hình bằng ngôn từ…, bài dịch đã giới thiệu các đặc trưng của văn bản nghệ thuật với quan niệm bên trong lẫn bên ngoài. Ở đây, vấn đề quan hệ giữa “các cấu trúc của người nói” – tác giả, và cấu trúc của người nghe – độc giả, với toàn bộ sự phức tạp của vấn đề này được xem là hệ quả tất yếu trong nghệ thuật. Quan hệ người phát – người nhận cũng được xem là một phương diện quan trọng khi bàn đến định nghĩa hoàn chỉnh về văn bản nghệ thuật. Công trình cũng khẳng định sự khác biệt giữa văn bản và chỉnh thể của tác phẩm nghệ thuật. Từ đây, khái niệm văn bản và tác phẩm đã thêm một lần nữa được khẳng định, soi sáng từ nhiều góc nhìn khác nhau, từ quan niệm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới.

Công trình Viết ra sự đọc (2012) của Roland Barthes do Lý Thơ Phúc dịch từ nguyên bản tiếng Pháp E’crise la lecturein (Le bruissementcle la langue, Seuil, 1984, pp.33-36, R.Barthes; phêbìnhvănhoc.com.vn/vietrasudoc/). R. Barthes đã đặt ra vấn đề của sự đọc, phủ nhận cách đọc truyền thống “tìm cách thiết lập điều mà tác giả muốn nói chứ không phải điều mà người đọc hiểu”. Đó là sự đọc sinh ra từ các hình thức xuyên cá nhân (transindividuelle) do con chữ của văn bản, từ những mã, từ ngôn ngữ, từ những tín hiệu của văn bản, từ chân lý của trò chơi… Thông qua sự đọc, người đọc “sẽ khắc in vào văn bản một tư thế nào đó, mà nhờ đó văn bản có được sự sống” [phêbìnhvănhoc.com.vn/vietrasudoc]. Như vậy, R. Barthes đã chỉ ra sự độc lập của người đọc đối với ý đồ sáng tạo của tác giả, sự đọc không bị chi phối bởi chân lý nào mà chỉ có chân lý của trò chơi. Cũng năm 2012, Lý Thơ Phúc tiếp tục dịch Về sự đọc của R.Barthes (Sủ la lecture – 1984, pp 37 -38). Ở đây, R. Barthes trình bày quan niệm của mình về sự đọc, như một cách định vị, một cách hiểu: Đọc là gì? Đọc như thế nào? Tại sao đọc? tuy không hướng tới việc phác dựng một lý thuyết về sự đọc nhưng những phương diện quan trọng trong tiếp nhận của bạn đọc đã được R.Barthes đề cập tới. Theo ông, sự đọc bao gồm: Thứ nhất, sự quan yếu: sự lựa chọn cách nhìn, cách tra vấn, phân tích ngôn ngữ - bị chi phối bởi ham muốn của người đọc; Thứ hai, sự dồn nén: có hai loại dồn nén nghĩa vụ, nghĩa vụ đào xới giá trị nhân văn và nghĩa vụ riêng biệt cá nhân mà mỗi người tự nhận biết trong xã hội ngày nay, loại dồn nén thứ hai là dồn nén của Thư viện – một món nợ người đọc cần phải trả. Thứ ba, sự ham muốn, đó là thứ tính dục (e’rotisme) của sự đọc (trong sự đọc, ham muốn ở cùng đối tượng của nó, đó là định nghĩa về tính dục). Tác giả cũng chỉ ra đặc trưng tách biệt, gạt bỏ thế giới bên ngoài, tự đồng nhất mình với say mê và thần bí của sự đọc – nơi sẽ xảy ra sự hòa hợp giữa chủ thể người đọc và hình ảnh – tức là Sách, nơi sẽ xảy ra ba khoái cảm đọc. Và đặc trưng thứ tư của sự đọc là chủ thể. Người đọc được xem là một nhân vật của sự hư cấu và/hoặc của văn bản. Tác giả kết luận “khó có thể hy vọng một cách hợp lý vào một khoa học về sự đọc, vào một tín hiệu học về sự đọc, trừ phi ta hiểu rằng… có thể có một khoa học về sự bất tận, về sự chuyển di vô hạn”. Và sự đọc là năng lượng không thể cạn kiệt – là nơi mà cấu trúc trở nên điên đảo. Như vậy, vai trò của người đọc, sự đọc đã thật sự được bàn kỹ đến trong công trình này, tác giả đã xác định những đặc trưng cơ bản của sự đọc, và khả năng “vẫy vào vô tận” của sự đọc. Khả năng phá vỡ cấu trúc văn bản và không thể cạn kiệt của sự đọc mà R.Barthes đặt ra là những nền tảng cơ bản của mỹ học tiếp nhận.

Thi pháp tác phẩm mở của Umberto Eco (Nguyễn Văn Dân dịch, The peotics of the open work – Văn học nước ngoài số 7 – 2011). Đây là bài viết tiêu biểu cho lý thuyết tác phẩm mở (open work) của Umberto Eco, liên quan mật thiết đến quan niệm về người đọc và ký hiệu học của ông. Ở đây, Eco cho rằng người đọc cần dựa vào cấu trúc diễn ngôn để lý giải tác phẩm. Cấu trúc đó gồm bảy yếu tố: từ điển cơ sở, các quy tắc cùng tham chiếu, những lựa chọn văn cảnh và tình huống, siêu mã hóa, suy luận dựa vào những khung cảnh chung, suy luận dựa vào những khung cảnh liên văn bản và siêu mã hóa tư tưởng”. Từ các mã diễn giải ấy, Umberto Eco cho rằng có hai loại văn bản: khép kín và mở. Văn bản khép kín là loại văn bản nhận được những giải mã khác nhau và có khả năng có những diễn giải “sai lạc” so với ý đồ của tác giả. Những văn bản mở là những văn bản có khả năng “điều khiển” bạn đọc theo chủ ý cấu trúc nội tại của nó. Nghĩa là bạn đọc đọc văn bản như muốn bạn sử dụng nó”. Tác phẩm mở không phải là tác phẩm mà người đọc có thể tùy tiện muốn hiểu thế nào thì hiểu” (12). Như vậy, có thể thấy, quan niệm về người đọc, sự đọc, tác phẩm mở của Umberto Eco đã khẳng định vai trò, vị trí của người đọc tồn tại không phải độc lập hay tùy tiện, mà phụ thuộc vào giá trị của tác phẩm và chủ ý của nhà văn.

Quan niệm tôn sùng người đọc không nên đẩy đến cực đoan để quên mất giá trị gốc vẫn là ở tác phẩm, dẫn đến việc diễn giải tác phẩm xa rời tính thẩm mỹ của nó. Ở công trình viết về giải cấu trúc của Roland Barthes, Nguyễn Văn Dân đã chỉ ra những điểm thiếu cơ sở và không thuyết phục của R.Barthes trong giải cấu trúc, khiến danh hiệu “nhà lý luận văn học” dành cho R.Barthes không còn giữ nguyên ý nghĩa của nó nữa.

Trên đây là những điểm qua về công trình dịch thuật liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mỹ học tiếp nhận. Có thể nói việc dịch, giới thiệu các lý thuyết mới của phương Tây vào Việt Nam đóng vai trò quan trọng cho sự chuyển đổi hệ hình văn học trong nước. Điều đó đã được chứng minh qua giai đoạn văn học 1930-1945 của thế kỷ XX. Công lao đầu phải kể đến những nhà khoa học nước nhà như Trần Đình Sử, Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy, La Khắc Hòa, Đặng Anh Đào, Trần Hồng Sâm, Lộc Phương Thủy, Đào Tuấn Ảnh, Trịnh Bá Đĩnh, Trần Ngọc Vương, Nguyễn Văn Dân… Có thể còn có một số hạn chế, song đây là cách nhanh, và hiệu quả giúp lý luận văn học trong nước bắt kịp với thế giới.

Các công trình dịch thuật đều tập trung giới thiệu các tư tưởng then chốt, căn bản, trung tâm của mỹ học tiếp nhận như văn bản, tác phẩm mở, người đọc. Người đọc trước đây chỉ tồn tại trong ý đồ của nhà văn được ban phát, giáo huấn bởi tư tưởng chính thống của tác giả, thì nay độc giả diễn giải văn bản với tư cách đồng sáng tạo. Đó là đọc, như một hành động sáng tạo, khi đọc, độc giả đã mang vào cuộc viễn du cùng tác giả những kinh nghiệm, vốn hiểu biết, vốn văn hóa của chính mình,… và chính tầm đón đợi của độc giả sẽ quyết định giá trị của văn bản.

Các công trình dịch thuật này đã góp phần hình thành những tri thức, khái niệm mới trong lịch sử văn học đương đại, tác động mạnh mẽ vào cả giới sáng tác lẫn bạn đọc và người làm công tác nghiên cứu. Đây là cách tác động mà Foucault gọi là “quy tắc hình thành” diễn ngôn: hình thành các khách thể, các phương thức diễn ngôn, hình thành các khái niệm, hình thành các chiến lược [dichthuattinviet.vn/index.php/tin-tức-dịch-thuật/]. Chính từ những công trình này, các thuật ngữ, khái niệm, các phương pháp mới được phổ biến rộng rãi tạo nên một không khí mới cho đời sống văn học. Văn bản, tác phẩm, tác phẩm mở, độc giả, tầm đón đợi… là những vấn đề mới cho các nhà nghiên cứu phê bình. Một số điển phạm cũ đã bị phá bỏ, tạo lập các điển phạm mới, từ đó chọn một chỗ đứng, một quan điểm nghiên cứu để xác lập một khuynh hướng trong nghiên cứu, phê bình, là việc làm cần thiết cho nghiên cứu văn học nước nhà.

Từ đó, các tư tưởng mới mẻ, hiện đại được giới thiệu và xác lập vị trí trong đời sống văn học. Tư tưởng của chủ nghĩa hiện đại đến chủ nghĩa hậu hiện đại đều được giới thiệu qua các công trình dịch thuật. Trương Đăng Dung, Đỗ Lai Thúy là những người tiên phong trong việc giới thiệu các tư tưởng của E. Hussel, hiện tượng học, quan niệm về khách thể – chủ thể, vai trò của ngôn ngữ, nghĩa chủ ý của văn bản văn học. Đồng thời, tư tưởng của Martin Heidegger với những điều mới mẻ về thế giới, thời gian, ngôn ngữ cũng là những gợi ý mới trong nghiên cứu văn học. Bởi ông cho rằng “thời gian là cái gì đó cấu trúc nên đời sống của con người trước khi được dùng để đo, đếm. Tức là trong những nền tảng của hữu thể đều mang tính thời gian”. Các nhà dịch thuật cũng đã chọn lọc, dịch, và giới thiệu tư tưởng then chốt của Heidegger về ngôn ngữ. Ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể. Ngôn ngữ là nơi diễn ra đời sống của con người, là cái đầu tiên tạo ra thế giới” (Heidegger). Như vậy, có thể thấy, các công trình dịch đã chỉ ra vai trò của Heidegger với mỹ học tiếp nhận. Ông là người đầu tiên đưa sự hiểu lên bình diện mới, bình diện tường giải học triết học. Hans Georger Gadamer và Tường giải học triết học cũng được giới thiệu, dịch ở Việt Nam với các vấn đề về nghĩa của văn bản, vai trò chủ ý của nhà văn trong nghĩa của văn bản, việc hiểu các tác phẩm mà về mặt lịch sử và văn học, là xa lạ với người đọc, việc hiểu đó là khách quan hay phụ thuộc và tình thế lịch sử cụ thể. Đây là những vấn đề then chốt của lý luận văn học, không dễ có câu trả lời. Từ đó, các quan niệm của Gadamer về văn bản, nghĩa của tác phẩm cũng được tường giải. Theo ông, nghĩa của tác phẩm không bộc lộ trong chủ ý của tác giả mà tự bộc lộ, mang nghĩa mới trong quá trình vận động từ tình thế văn hóa – lịch sử này sang tình thế văn hóa – lịch sử khác. Và, mọi sự hiểu một văn bản làsự hiểu một cách khác. Đó là khả năng thay đổi văn bản, những đối thoại quá khứ, hiện tại khi đọc một tác phẩm. Ông cũng đưa ra tư tưởng trò chơi trong sáng tạo (trò chơi) và tiếp nhận (sự chơi). Đặc biệt, tư tưởng về sự cắt nghĩa văn bản cũng đã được giới thiệu trong các công trình Trương Đăng Dung dịch: khác với hiện tượng vật lý, tác phẩm chỉ tồn tại nếu có sự hiểu, sự cắt nghĩa về nó. Tức chỉ có sự chơi làm cho trò chơi tồn tại và ngược lại.

Như vậy, có thể thấy từ nhiều điểm nhìn khác nhau, bên trong và bên ngoài, các  nhà khoa học dịch và giới thiệu các công trình nghiên cứu về mỹ học tiếp nhận, đã góp cái nhìn tương đối hoàn chỉnh về lý thuyết này, cả những thành tựu và hạn chế. Mỹ học tiếp nhận, dù còn có những khiếm khuyết, những thiếu sót do tính cực đoan, phiến diện trong nội tại, vẫn là một “cố gắng lớn trong việc khẳng định một phương diện quan trọng của toàn bộ tiến trình văn học, một phương diện mà lâu nay vẫn bị khoa học văn học bỏ quên, hay chưa chú ý đúng mức, phương diện tiếp nhận và tác động thẩm mỹ, cùng với phương diện sản xuất thẩm mỹ và phân phối, nó sẽ làm cho tiến trình văn học thành một hệ thống hoàn chỉnh”(13).Như vậy, vai trò của việc dịch và giới thiệu lý thuyết về mỹ học tiếp nhận là không thể phủ nhận. Nó đã góp phần đáng kể trong nghiên cứu, phát triển văn học, cả sáng tác lẫn lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học. Đó là đóng góp lớn của các nhà khoa học, dịch thuật và nghiên cứu cho lý luận văn học nước nhà.Bởi: “Lý luận tiếp nhận ngày nay giải phóng cho sức sáng tạo của người đọc, mở cửa cho sự phê bình nhiều phía nhiều chiều, nhưng cũng đòi hỏi hơn bao giờ hết sự cẩn trọng. Nó dập tắt cái tư tưởng chỉ sùng bái một vài cây bút được gọi là quyền uy, mặc dù tài năng không phải là thứ được chia đều cho mọi người.” (14)

 

                                                Huế, 9/1/2015

HTH

 

 

 

Chú thích :

(1). Độ không của lối viết của R. Barthes, NXB Hội Nhà văn, 1997, trang 16.

(2). Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, NXB văn học Hà Nội, 2011, tái bản lần thứ 2, xuất bản lần đầu năm 2002, trang 10.

(3). Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, NXB văn học Hà Nội, 2011, tái bản lần thứ 2, xuất bản lần đầu năm 2002, trang 305.

(4). Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, NXB văn học Hà Nội, 2011, tái bản lần thứ 2, xuất bản lần đầu năm 2002, trang 340

(5). Trịnh Bá Đĩnh, Chủ nghĩa cấu trúc trong văn học, NXB văn học Hà Nội, 2011, tái bản lần thứ 2, xuất bản lần đầu năm 2002, trang 34

6. Cấu trúc văn bản nghệ thuật của Iu.M.Lotman do Trần Ngọc Vương, Trịnh Bá Đĩnh, Nguyễn Thu Thủy dịch, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, 2004, trang 55,56,57.

(7). Theo vết chân những người khổng lồ, Đỗ Lai Thúy biên soạn, NXB Văn hóa thông tin 2006, trang 249.

(8). Đặc trưng mỹ học của Lukacs Gyorgy, Tạp chí văn học nước ngoài số 5 (9/10/1998), trang 218.

(9). Mỹ học tiếp nhận của A.Dranov, Tạp chí văn học, số 3, trang 92

(10). Bản mệnh của lý thuyết của Antoine Compagnon (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội trang 238.

(11a,b). Bản mệnh của lý thuyết của Antoine Compagnon (NXB Đại học Sư phạm Hà Nội – trang 328.

(12). Nguyễn Văn Dân (2011), Thi pháp tác phẩm mở, Tạp chí văn học nước ngoài, số 7-2011, http:phebinhvanhoc.com/thi-pháp-tác-phẩm-mở.

(13). Hồng Vân, Vấn đề tầm đón đợi và xác định tính nghệ thuật trong mỹ học tiếp nhận của Hans Robert Jauss, http://vienvanhoc.org/news/tapchi/586/home.aspx

(14). Trần Đình Sử- Lý thuyết tiếp nhận và phê bình văn học - Trần Đình Sử, Nguồn: khoavanhoc-ngonngu.edu.vn

 

 

 

 

 

 

 

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN TRƯỚC

•  

CÁC TIN TIẾP THEO

 


 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com