Hồ Anh Thái và nỗ lực đổi mới văn xuôi Việt Nam sau 1986

(PGS.TS Bùi Thanh Truyền)

 Gần đây, người ta thường nói đến sự thống ngự của truyện ngắn và tiểu thuyết trong văn đàn Việt Nam đương đại. Sự phát triển của hai thể loại này suốt ba thập kỉ qua gắn liền với tên tuổi của những cây bút như Ma Văn Kháng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Khắc Trường, Chu Lai, Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Xuân Khánh, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Trần Thùy Mai, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Bình Phương, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Nguyễn Ngọc Tư...

Trong số những phong cách đã định hình, có chỗ đứng trong công chúng, Hồ Anh Thái là một gương mặt nổi trội. Ngoài sự sung sức, đều đặn, bền bỉ trong sáng tạo, ông còn tạo ấn tượng đối với bạn đọc bởi luôn luôn tìm tòi để không ngừng đổi mới lối viết. Với liên tiếp những sáng tác gây tiếng vang trong dư luận như Trong sương hồng hiện ra, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm, Tự sự 265 ngày, Đức Phật nàng Savitri và tôi, Sắp đặt và diễn, Bốn lối vào nhà cười, Dấu về gió xóa, SBC là săn bắt chuột,… nhà văn này đã khẳng định vị thế của mình, phả vào đời sống văn học một luồng sinh khí mới với một cách viết quen mà lạ. Từ khi là một cây bút trẻ, rất nhạy cảm với môi trường công nghiệp hiện đại, ông đã lựa chọn cho mình một phương thức thể hiện rất riêng. Chính sự hòa kết giữa cái phương Tây mới lạ và nét phương Đông thuần hậu đã ươm mầm cho cách cảm, cách nghĩ, cách chiêm nghiệm về cõi người, cõi đời khá độc đáo trong những trang viết sắc sảo của ông. Điểm qua gia tài văn học của Hồ Anh Thái, có thể thấy đây là một trong không nhiều nhà văn có được thành công trong cuộc chạy tiếp sức qua hai thế kỉ trên cả hai mảng truyện ngắn và tiểu thuyết. Đọc truyện Hồ Anh Thái, ta như bước vào một thế giới với muôn ngàn mảnh ghép chằng chịt của cuộc sống đương đại được kiến tạo từ cái nhìn thấu thị cùng những đánh giá sâu sắc về những vấn đề vừa giàu tính thời sự vừa đậm tính nhân văn. Trong bài viết này, chúng tôi chú trọng tìm hiểu những biểu hiện trong nỗ lực hiện đại hóa văn xuôi của nhà văn trên ba phương diện: hệ thống đề tài, nhân vật và ngôn từ nghệ thuật.

1. Đề tài – tâm thế mới trong ứng xử với hiện thực đa chiều

Như nhiều nhà văn đương đại khác, giai đoạn đầu, Hồ Anh Thái cũng tìm đến đề tài chiến tranh nhưng ông đã có cái nhìn sâu hơn về người lính, kiếm tìm, lật xới, đưa ra ánh sáng những phần khuất lấp bên trong con người họ. Nhà văn đã trực diện nhìn vào hiện thực chiến tranh và không khỏi đau xót trước hình ảnh những cô thanh niên xung phong, một thời phục vụ cho cuộc chiến, hi sinh tuổi xuân, sắc đẹp vì lí tưởng; để rồi chiến tranh qua đi, chính họ lại cô đơn, lạc lõng và trở thành những “người đàn bà trên đảo” trong tiểu thuyết cùng tên. Quay trở về với cuộc sống, họ ngỡ ngàng trước hiện thực, xót xa vì nhận ra cái tuổi đẹp nhất của mình đã vùi sâu dưới lòng đất, nơi chỉ còn những mảnh bom đạn và kí ức. Trong sương hồng hiện ra cũng đề cập đến con người anh hùng, nhưng không phải là những hùng binh chỉ biết ngẩng cao đầu tiến lên, nhằm thẳng hướng quân thù mà họ còn là những anh lính thích nhảy và ưa hát, lại khá tinh nghịch. Chất lính với những hình ảnh rất đời thường, hồn nhiên và đáng yêu như thế rất hiếm thấy trong văn xuôi trước đó, khi mà đa phần người viết đều thiên về nhìn nhận họ như những người hùng, chỉ biết chiến đấu, chỉ biết hi sinh. Nhà văn đã dũng cảm tước bỏ vầng hào quang văn chương do cái nhìn sử thi quy định để chiến tranh hiện ra chân thật, sống động và toàn diện trong ánh sáng đích thực của nó.

Sau 1986, đất nước bước vào thời kì đổi mới, văn học bị chi phối bởi quy luật của thời kinh tế thị trường. Cái hiện thực mà văn học đang cố gắng nắm bắt cũng đã thay đổi một cách căn bản: từ chất liệu anh hùng ca chuyển sang chất liệu đời thường. Bên cạnh hiện thực đời sống hiện ra sống động với trăm ngàn dáng vẻ, thì con người với số phận riêng và những mối quan hệ hết sức phong phú và phức tạp của nó đối với toàn xã hội trở thành mối quan tâm hàng đầu của sáng tác. Trên con đường kiếm tìm và phản ánh hiện thực, đề tài trong văn xuôi Việt Nam lúc này thường ghi đậm dấu ấn về sự khủng hoảng niềm tin của con người trong bối cảnh đổ vỡ các thang bậc giá trị, sự hỗn loạn của trật tự thường hằng. Những tình huống bi hài, nghịch dị trở nên phổ biến. Cái đẹp, cái thiện dần vắng bóng, thay vào đó là cái xấu, cái ác, cái thô kệch. Cán cân thăng bằng giữa các cực xấu - tốt, hài hoà - kệch cỡm, thiên thần - ác quỷ,… bị phá vỡ trong xã hội hậu công nghiệp, dẫn đến sự bời rối không chỉ trong đời sống vật chất mà còn kéo theo cả niềm tin, lẽ sống, lí tưởng. Không phải là sự phó mặc, nhưng có lẽ Hồ Anh Thái cũng như không ít nhà văn hôm nay tin rằng cuộc sống vốn không thể khác một khi đồng tiền, địa vị, sự xấu xa, độc ác vẫn đang hiện hữu và bành trướng, tha hoá con người, đưa họ xa rời những giá trị đạo đức tốt đẹp, khiến cuộc sống bị cuốn vào vòng xoáy của quy luật mạnh được yếu thua.

31 truyện ngắn trong hai tập truyện Sắp đặt và diễn, Tự sự 265 ngày là 31 mảnh vỡ chắp nối thành cuộc sống với nhiều đường vân dị hình, nhếch nhác, thể hiện tinh vi nỗi hoang mang, ngắc ngoải, đánh mất phương hướng, bản ngã của con người khi đứng trước xã hội lộn xộn, bất an. Thật khó có thể tin được trong bộ máy công quyền lại tồn tại một hệ thống công chức sai lệch giữa học vị và việc làm đến thế: giáo sư văn lại là chuyên gia phân tích xác ướp người, giáo sư sử làm nghề “nghiên cứu viết sách giảng dạy lịch sử nước Mỹ và lịch sử Ai Cập là những nơi ông chưa bao giờ đặt chân tới. Thứ ngôn ngữ tệ hại của vùng đất ấy ông cũng không sử dụng được”. Với điểm đến là Phòng khách, Hồ Anh Thái đã quay cận cảnh sự nhố nhăng, thảm hại của những vị mũ cao áo dài. Họ tìm mọi thủ đoạn để tồn tại, thăng tiến, dẫm đạp lên nhau hòng đạt mục đích. Hiện thực hỗn loạn, trớ trêu, bê tha, con người đánh mất niềm tin vào cuộc sống và vào tất cả được bày ra trần trụi: “Cái nôi văn minh của loài người đã gửi sang châu Âu rặt những kẻ mắt một mí đưa đẩy, gian xảo, ngứa ngáy tắt mắt giữa choáng váng đèn màu châu Âu”.

Không dừng lại ở đó, truyện của Hồ Anh Thái còn miêu tả lối sống nhỏ nhen, ích kỉ, tàn nhẫn, thói vô lương tâm của con người hiện đại mà đa số họ thuộc đẳng cấp danh giá trong xã hội. Đố kị cả từ sở thích riêng tư, vặt vãnh như “sưu tập chim trong lồng” (Chim anh chim em). Trong Sân bay, Tờ khai visa, những soi mói, ghen tị của những người gọi nhau đồng nghiệp, chung một công sở được tái hiện sống động, đầy tính chất u – mua đen (black humour). Ở đó, người ta nghĩ ra trăm phương nghìn kế, dùng mọi thủ đoạn, âm mưu để đạt được mục đích tiến thân: gã bảo vệ, vì đặt trộm máy quay trong phòng ông viện phó, mà vừa được xem phim con heo miễn phí, vừa có “vũ khí” để tiến thân; thằng nhân tình của cô viện sĩ trẻ vô học, đi lên nhờ thói côn đồ,… Con người đã phải trả giá cho những thói tật nhỏ nhen, mất nhân tính của mình. Cái chết của Mai trong Bóng ma trên hành lang, của ông Thiền trong Chim anh chim em là những minh chứng. Không thảng thốt cũng chẳng giật mình trước những quái trạng của hiện tồn, Hồ Anh Thái chỉ thấy nhói đau như vừa đánh mất cái gì quan trọng. Phải chăng đó là sự âu lo trong dự cảm những giá trị chân – thiện – mĩ truyền thống đã và sẽ tiếp tục bị bóp méo, thậm chí huỷ diệt?

Mở rộng không gian phản ánh cũng là một đặc điểm nổi bật trong văn xuôi Hồ Anh Thái. Phạm vi hiện thực được trải ra từ nông thôn đến thành thị. Trong cảm quan của nhiều người, đô thị có một hấp lực lớn bởi đó là chốn phồn hoa có mật độ dân cư đông đúc, tốc độ phát triển kinh tế nhanh, điều kiện sống cao hơn trong tương quan với các khu vực khác, và đô thị còn là nơi có nhiều cơ hội thăng tiến. Trong nhiều truyện, không gian đô thị được khúc xạ qua những hình thái khác nhau, từ không gian địa lí đến không gian tâm tưởng, từ không gian xã hội rộng lớn đến không gian sinh hoạt co hẹp về kích cỡ. Đằng sau chúng là một cuộc sống đang từng ngày biến đổi như trong Chạy quanh công viên mất một tháng, Mây mưa mau tạnh, Mười lẻ một đêm, Cõi người rung chuông tận thế, SBC là săn bắt chuột… Từ những góc độ khác nhau, mỗi truyện đã bộc lộ một cách tiếp cận đời sống, qua đó có thể thấy được quá trình thay đổi đô thị không chỉ ở phương diện cảnh quan mà còn ở đời sống vật chất và tinh thần của con người. Không dừng lại ở đó, trường thẩm mĩ trong truyện còn có tính xuyên quốc gia, với sự xuất hiện của những vùng đất như mới, với hình tượng nhân vật, hình tượng thiên nhiên mang những nét văn hóa đặc trưng như loạt truyện về Ấn Độ: Người Ấn, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Đàn kiến, Đi khỏi thung lũng mới đến nhà; về Mĩ như ở Hàng xóm ở Seattle, Cuộc đổi chát, Sân bay,

Với Hồ Anh Thái, hiện thực gồm "những gì ta thấy, ta nghe, ta trải nghiệm là chưa đủ. Hiện thực còn là cái ta cảm nữa"[i]. Gắn liền với quan niệm mới mẻ này là việc người viết không ngừng nhấn mạnh vai trò tích cực của chủ thể sáng tạo. Có lẽ vì thế, những sáng tác của ông, dù là truyện ngắn hay tiểu thuyết, thường gắn với cảm hứng nhận thức lại - một nhân tố quan trọng làm chuyển biến theo hướng tích cực diện mạo văn xuôi hôm nay. Cảm hứng này thường không tránh khỏi nói đến những mất mát, tiêu cực, nhưng đó không phải là phủ nhận quá khứ mà là để cảnh tỉnh, để góp phần đắc lực trong cuộc chiến chống lại những con người, những sự việc tiêu cực, phi nhân bản, trái với lí tưởng cao đẹp của dân tộc. Điều đáng quý ở đây là, dù viết về cái gì, người hay ma, tốt hay xấu, hôm qua hay hôm nay,... thì cái đích của sáng tác vẫn là cuộc sống hiện tại. Vút lên trên cái nền ngổn ngang, bề bộn của tác phẩm vẫn là khát vọng mong muốn cuộc sống này nhân hậu, tốt đẹp hơn.

 Chiều sâu trong cái nhìn nghệ thuật của Hồ Anh Thái trước hết thể hiện ở chỗ ông biết vượt qua những lối mòn tư duy coi văn học như là tấm gương phản ánh hiện thực một cách đơn giản - điều mà nhà văn gọi là hiện thực thô sơ - để nhìn cuộc đời như nó vốn có. Tính nhiều chiều trong cách nhìn, cách ứng xử với hiện thực đã làm cho sáng tác của ông có chiều sâu, giàu chất triết luận, nhờ thế đạt đến thế quân bình văn học, bởi chúng vừa hướng ngoại lại vừa hướng nội. Một mặt, người viết tái hiện bức tranh hiện thực sống động với những mặt đối lập riêng - chung, cá nhân - cộng đồng, trăn trở đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mang tính nhân văn về những vấn đề của đời sống xã hội, đời sống người đời; mặt khác, và là mặt chủ yếu, nhà văn chú trọng khai thác một hiện thực khác, phong phú và dồi dào chất liệu không kém, đó là thế giới bên trong thầm kín, thế giới vi mô con người. Tác giả đã không ngại ngần khi dấn thân vào một cuộc hành trình, theo như cách nói của Nguyễn Minh Châu, thể hiện rất rõ "niềm hạnh phúc lớn nhất và cũng là cái điều khổ ải nhất của anh cầm bút xưa nay".

2. Nhân vật - những độc sáng trong tri cảm cõi người

Truyện của Hồ Anh Thái đã phản ánh một cách trung thực những bộn bề, phức tạp của cuộc sống thời khủng hoảng, thời xây dựng. Nhân vật trong các sáng tác của ông, vì lẽ đó, cũng trở nên gần gũi với tầm đón nhận, thị hiếu của người đọc hôm nay. Đó là những con người ta có thể bắt gặp xung quanh hay ngay trong chính mình. Mỗi người là một nhân vị riêng với những mảnh đời, những bi kịch khác nhau với tất cả chất người tự nhiên của nó.

Hướng tới xác lập phong cách riêng qua đó mang lại sinh khí mới cho đời sống văn học bằng việc xây dựng chân dung con người mới hiện đại chính là tham vọng, nỗ lực của Hồ Anh Thái. Nhân vật trong trang viết của ông phức tạp, đa dạng và đều là những lát cắt chân thực cuộc sống đương đại với đầy đủ những cung bậc đa sự, đa đoan. Đó không phải là những con người đơn trị, dễ hiểu mà là con người đa chiều, đa diện. Khuynh trong Người và xe chạy dưới ánh trăng luôn sống với hai cuộc đời thật - giả. Khát vọng quyền lực đến mức bệnh hoạn đã đẩy Khuynh đến bi kịch. Không ai hiểu được Khuynh ngoại trừ mẹ anh, bà biết: “Con bà nếu làm chồng làm cha sẽ là một người chồng người cha dửng dưng, lạnh lẽo. Nếu là một người yêu sẽ là một người yêu ích kỉ, không bao giờ yêu hết mình, ngoại trừ nỗi đam mê xác thịt cuồng bạo”. Khi tất cả đã trở thành vô nghĩa, điều đầu tiên Khuynh muốn là gỡ bỏ cái mặt nạ về một gia đình hạnh phúc, ấm êm để đến với Hoài - người Khuynh yêu. Việc lựa chọn ra đi của Khuynh thể hiện sự nhận thức sâu sắc của nhân vật về cuộc đời mình. Anh không còn gì ngoài hai bàn tay trắng và tình yêu cuối mùa với người đàn bà có bộ mặt nhàu nát theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bi kịch của Khuynh không đơn giản chỉ là vấn đề của một cá nhân mà còn mang dấu ấn thời đại khá rõ; ở đó, con người không ngừng bị chi phối, giăng mắc trong vô vàn mối quan hệ, bị tác động bởi không ít những “hóa chất” có sức tha hóa nhân tính cực mạnh: danh vọng, địa vị, sự đố kị, lòng tham,... Tương tự như Khuynh, Đông trong Cõi người rung chuông tận thế đã có một quá trình tự vấn, đứng chênh vênh giữa hai bờ thiện ác để sám hối, để thức tỉnh, để tự tìm cho mình một con đường hợp lẽ. Hành trình dấn thân - tự vấn của nhân vật đã giúp cho người đọc nhận biết được phần ẩn khuất bên trong của Đông và cũng là của chính mình.

Con người được nhìn nhận như một cá thể bình thường nên nó trần trụi hơn trong tác phẩm của Hồ Anh Thái. Thế giới nhân vật ở đây là những cá thể phàm tục trăm phần trăm. Chỉ biết hưởng thụ, sống gấp, họ thu mình lại trong ốc đảo cá nhân hết sức vị kỉ. Đó là mảnh đất màu mỡ cho sự sinh sôi nảy nở của cái xấu, cái ác. Họa sĩ Chuối Hột trong Mười lẻ một đêm sống cô lập, tách biệt với mọi người xung quanh và có cái sở thích kì lạ đến quái đản: “48 cái xuân xanh là 48 mùa cởi mở, thời trang yêu thích nhất là bộ cánh lúc lọt lòng mẹ”. Trong Cõi người rung chuông tận thế, bộ ba công tử Bóp, Phũ, Cốc là những kẻ dư thừa tiền bạc nhưng lại lệch lạc về tâm sinh lí, nhân cách. Cốc chìm đắm trong cuộc sống tình dục vô hạn độ. Bóp tìm khoái cảm bệnh hoạn bằng cách bóp cổ những con vật cho đến chết. Thú tiêu khiển quái gở của của Phũ là sưu tập những chiếc quần lót của các cô gái sau khi đã qua đêm với mình. Người đọc không khỏi lo sợ cho một thế hệ thanh niên hiện đại với lối sống buông thả, bất cần, sống gấp. Nhân vật nữ của truyện cũng không là ngoại lệ. Yên Thanh, một hoa khôi có khuôn mặt đồng trinh, trong sáng đến lạ lùng, bỗng chốc trở nên “dâm đãng”, “không thể sống nổi một tháng mà không có đàn ông”. Rõ ràng, bất kể nam nữ, họ dường như đều tự thiết lập cho mình một thế giới riêng biệt nằm ngoài vòng cương tỏa của xã hội.

Tường trong Người đàn bà trên đảo cũng vậy. Là kẻ tật nguyền, bị loại ra khỏi vòng quay tàn nhẫn của chiến tranh, y đã rất ý thức về trị giá giống đực của mình và tận dụng mọi cơ hội, bày đủ mọi thủ đoạn để biến mình thành người... phối giống cho tất cả những người đàn bà Đội Năm. Nhân vật Bà mẹ với năm lần đò và vô vàn những cuộc phiêu lưu tình ái trong Mười lẻ một đêm cũng kinh hoàng không kém. Ham muốn tình dục vượt ngưỡng khiến người mẹ trẻ này sẵn sàng gạt sang bên cái gọi là phẩm hạnh thiêng liêng đối với một phụ nữ bình thường – đó là chăm lo, gìn giữ hình ảnh của mình trong mắt của con cái: bà không cần giấu giếm khi để cho đứa con gái “phải chứng kiến tất cả các thể loại đàn ông của mẹ”. Trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi, nàng công chúa Ấn Độ cổ đại Savitri cũng có những cuộc mây mưa liên tiếp, với đủ các thế: “Những là rắn. Những là ngựa. Những là voi là hươu những là ong đất... quấn vào nhau triền miên không có điểm dừng”.

 Nếu chỉ dừng lại khắc họa nhân vật ở cái mặt trái này thì có lẽ Hồ Anh Thái cũng không thoát khỏi tình trạng đáng buồn thường xuất hiện ở không ít các cây bút văn xuôi gần đây khi cố tình tô đậm mặt tính dục như một “chiêu” kích thích thị hiếu tầm thường của số ít độc giả vừa tầm. Chất nhân văn đằm sâu tạo thành sức hút, thành “thương hiệu” Hồ Anh Thái là ở chỗ, đằng sau những bi kịch nhân sinh, nhà văn không mất đi niềm hi vọng vào con người. Ông dám nhìn thẳng vào những nhức nhối bủa vây nhân thế để gióng lên hồi chuông khẩn thiết về sự khô kiệt nhân tính đang có mặt khắp nơi. Sau quá trình trôi nổi ngỡ như vô định, người viết đã đưa nhân vật quay lại cái phương Đông thuần hậu, chất phác. Đông đã có hành động tuyệt giao với cái ác, cái xấu “để thanh lọc cái tâm hồn tội lỗi của mình”. Con người biết suy ngẫm, biết trăn trở, biết từ bỏ cái xấu để về bên cái đẹp, biết đau đớn cho những điều trông thấy trong cõi nhân gian phức tạp hôm nay, con người ấy thật đáng thương, đáng quý.

Trong Đức Phật nàng Savitri và tôi, ta lại bắt gặp một con người hoàn toàn khác lạ. Người viết đã xây dựng thành công kiểu con người tâm linh, con người giác ngộ, vô ưu, tĩnh thiền để nhìn vào cõi lòng mình, thực hiện một cuộc hành trình ngược hướng đầy vất vả để tìm lại cái “bản lai diện mục” của chính mình. Đây có lẽ là con người đẹp nhất, toàn bích nhất mà tác giả dành tất cả lòng tôn kính để khắc xây. Người ấy có một gia thế sang quý, đẹp về ngoại hình và trí tuệ siêu phàm. Quan trọng hơn, con người đó luôn đầy ắp tình yêu thương; đó là động lực để hoàng tử Siddhattha từ chối cuộc sống vương giả, hạnh phúc riêng tư, cung vàng, điện ngọc, cởi bỏ xiêm y lộng lẫy để mặc lên mình tấm áo xô gai, bắt đầu một cuộc đời mới, một hành trình đi tìm sự sống thật sự. Có thể nói, tiểu thuyết này là một món lạ, bổ sung thêm một hương vị mới, độc đáo vào “thực đơn” của Hồ Anh Thái, làm cho trang viết của ông tránh được sự đơn điệu, nhàm chán. Món ăn ấy vừa có vị đậm đà của của những lớp trầm tích văn hoá, vừa có vị thanh nhẹ của những suy tư, nỗi niềm, vừa có vị cay của những chiêm nghiệm cuộc đời, vừa có vị đắng của những khổ đau, mất mát, lại vừa ngọt ngào bởi những chân giá trị vĩnh hằng của con người.

Về bút pháp, dễ thấy ở nhà văn này là biệt tài trong việc dựng chân dung con người bằng kĩ xảo làm mờ, làm nhoè, tẩy trắng tính cách hệt như trong truyện cổ. Nhân vật được tái hiện khá giản đơn, mang tính chất phiếm chỉ rất rõ. Bên cạnh số ít người được nhận mặt đặt tên vẫn hiện hữu một số lượng lớn nhân vật chức năng, được nhà văn đưa vào như những thanh công cụ, có tác dụng trợ giúp đắc lực nhằm hiển thị tính đa diện của vấn đề như nhân vật đám đông, nhân vật phân thân. Họ hiện lên như một khối hỗn tạp, xen lẫn thực ảo. Đó là điểm chung của những sáng tác ít nhiều chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa hậu hiện đại: xu hướng nhạt hóa, mờ hóa nhân vật.

Nhan nhản trong truyện của nhà văn gốc Nghệ này là kiểu nhân vật không tên, không tuổi, không nguồn cội. Tác giả làm “giấy khai sinh” cho họ bằng nhiều hình thức: gắn với nghề nghiệp, địa vị, chức tước: ông giám đốc, võ sư, ông sử, bà viện phó, gã chuyên viên, ông viện trưởng, chị nhà văn, ông Việt kiều, chàng thư kí toà soạn, ông tổng biên tập, hoạ sĩ, ông giáo sư, ngài luật sư, gã buôn đất, cô phóng viên… Nhân vật đôi lúc chỉ được xác định bằng hành động, dáng dấp, thói quen, dung mạo: thằng Rú, thằng Phập, thằng Bạo, Cá Sấu 1, Cá Sấu 2,… Cách số hóa, kí hiệu hóa nhân vật cũng thường xuyên xuất hiện: ông Số Một, bà Số Hai, cô Số Ba, Số Bốn (Tờ khai Visa), cô Nhất, cô Nhị, cô Tam, cô Tứ (Bến Ôsin), ông A, bà B, chú C (Lọt sàng xuống nia), Trạng 1, Trạng 2, Trang 3, Trạng 4, Trạng 5 (Tin thật lòng)… Bằng những cách ấy, các nhân vật bị xoá nhoè lai lịch. Họ xuất hiện đột ngột, không xuất xứ, hệt như bị vô tình ném ra giữa cuộc đời, trở thành những thân phận vô danh trong vòng quay bất tận của cuộc sống. Cách định danh như thế làm cho con người có nguy cơ bị huỷ hoại, thủ tiêu bản sắc cá nhân, đánh mất quan hệ với đồng loại – nhân tố cốt lõi làm nên chân giá trị của mỗi cá thể như quan niệm về thế giới và con người của văn chương truyền thống. Với thủ pháp này, người viết buộc người đọc tiếp xúc với hình tượng bằng điểm nhìn từ phía bên ngoài. Nhân vật dường như chỉ là cái bóng của hiện thực, là những khuôn mặt tượng trưng cho một loại người trong xã hội: vô lương tâm, vô tình, bàng quan, vật dục, lố bịch, hợm hĩnh… Ở họ luôn tiềm tàng nỗi cô đơn, lạc loài, tâm trạng hoài nghi trước cuộc sống, mất khả năng giao tiếp, khó hoà hợp với thế giới xung quanh.

Vô nghĩa và trống rỗng -  những trạng thái tâm hồn thường thấy ở văn học hậu hiện đại – cũng được thể hiện khá rõ qua các nhân vật mang đậm tính nghịch dị (grotesque) trong truyện Hồ Anh Thái. Nhân vật không có chiều dài vật chất, thực thể mà chỉ giống như những giọng nói, những hình dung, những biểu tượng, là những đối tượng siêu thực, ít có khả năng hiện hữu và hành động không thể nắm bắt, không thể giải thích bằng lí trí thông thường. Ông Thiển trong Chim anh chim em có những hành vi lập dị, thậm chí quái đản với ham muốn thủ dâm tư tưởng. Vị giáo sư trong SBC là săn bắt chuột lại có chuyên môn chính là… hủ hóa, từ đám học trò ngờ nghệch đến mụ nạ dòng nhàu nhĩ, cơm nguội cơm sốt, hạt mảy hạt tấm ông đều xơi hết. Tác giả đã chú ý bơm phồng một vài nét hiện thực, biến nó thành một tồn tại bất bình thường, một sự lộ liễu quá mức hình dung sẵn có về đối tượng. Chính từ những nhân vật nghịch dị này, nhà văn đưa chúng ta vào những phạm vi hoạt động xã hội cũng đầy những quái trạng. Các tình huống đó tạo ra những ấn tượng mạnh mẽ về một đời sống lệch chuẩn, thậm chí mất chuẩn: những chân giá trị và ngụy giá trị xâm thực, chồng chéo, che phủ lẫn nhau, người ta không có cách nào phân biệt rạch ròi. Thường kết thúc bằng những sự thật trớ trêu, ê chề, truyện của Hồ Anh Thái, do vậy, thấm đẫm tâm trạng hoài nghi tồn tại. Điều này đã đưa sáng tác của tác giả xích lại gần với quan niệm hiện sinh - hậu hiện đại[ii].

Với thái độ không khoan nhượng khi đối diện cái ác, cái xấu, những mặt trái của xã hội qua cách khám phá thế giới vi tế của nhân vật, Hồ Anh Thái đã thật sự đặt ra những vấn đề “nổi cộm” của thời đại và chúng trở thành những thông điệp có ý nghĩa sâu sắc. Đứng trước vòng xoáy ghê gớm của đồng tiền, của những bi hài thời kinh tế thị trường, bằng trực cảm và trí tuệ sắc sảo, nhà văn nhận ra con người không còn là chính mình, họ hoài nghi người khác và cả bản thân cùng những thang giá trị truyền thống. Tinh thần đối chứng trước tính chất kì lạ của con người đương đại tạo điều kiện để nhà văn đi sâu vào từng ngõ ngách, những khuất nẻo nhân sinh để thể hiện chân ảnh con người trần thế nhất với tất cả thuộc tính của nó. Vượt qua được cái bóng của sự kiện, nhân vật dường như được soi ngắm kĩ lưỡng hơn. Người viết đang thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm những hạt mầm thiên lương đang le lói trên những gương mặt dị dạng, trong những tâm hồn u tối để kéo họ về với cõi người bằng niềm tin ở khả năng hướng thiện của họ. Chính điều đó đã tạo nên giá trị đích thực trong những trang viết của tác giả. Thực tiễn sáng tác của ông là một minh chứng cho thấy tư duy nghệ thuật văn xuôi đương đại đang trở về với con người cá nhân với những cái lăn tăn, khổ đau, ngậm ngùi riêng nhỏ, âm thầm của nó. Đây là nguyên nhân cơ bản làm thay đổi nghệ thuật khắc họa hình tượng nhân vật, cấu trúc của sáng tác, đổi thay nguyên tắc thể hiện viễn cảnh trong truyện ngắn và tiểu thuyết thời đổi mới.

3. Ngôn từ - khúc tân cổ giao duyên của người lang thang trong chữ

Hồ Anh Thái từng cho rằng, để tác phẩm trở thành món ăn được ưa thích trong bàn tiệc tinh thần quá nhiều cao lương mĩ vị, nhiều món bắt mắt thực khách hôm nay, ngôn ngữ nhà văn phải giàu có, sinh động, nhiều cá tính, có thể sai khiến được để thao diễn trong mọi trường hợp, có thể dùng như công cụ, đồng thời có thể chơi đùa với nó được. Và khi ấy, ngôn ngữ, theo ông, bản thân nó là là tư tưởng, là cốt truyện, thậm chí thay cho cốt truyện. Thường trực ý hướng này, nhà văn luôn chú trọng sức mạnh của chất liệu văn học, luôn ý thức làm mới mình qua từng trang viết để sáng tác không bị già cỗi, lạc hậu trước thực tế đa phồn và không ngừng thay đổi.

Tìm tòi và làm mới những ngôn từ có nguồn gốc từ dân gian là một nỗ lực để Hồ Anh Thái chứng minh tư cách “viết văn” thực thụ của mình chứ không đơn thuần chỉ là “kể chuyện” gây chán nản cho người đọc. Với ông, trở về với lời ăn tiếng nói hàng ngày của quảng đại quần chúng không phải đơn thuần là lặp lại cái cũ, cái lạc hậu, khuôn mòn mà qua chúng sẽ mở ra một truyền thống mới.

Ngôn ngữ mang dấu ấn dân gian trong truyện Hồ Anh Thái vừa đằm thắm, mộc mạc, vừa sắc nhọn, đa thông tin. Đó là những mảnh ghép hoàn hảo trong cấu trúc tác phẩm, thể hiện rõ nỗ lực đổi mới thi pháp văn xuôi của nhà văn. Cuốn Tự sự 265 ngày với 238 trang khổ vừa đã có tới 120 câu thành ngữ và tục ngữ. Nhiều truyện, chúng xuất hiện với số lượng lớn: Tự truyện: 24 câu, Chạy quanh công viên mất một tháng: 18 câu, Phòng khách: 17 câu, Tờ khai visa: 13 câu, Mây mưa mau tạnh: 12 câu,… Hơn một nửa trong số đó được sử dụng nguyên dạng, tự nhiên như kiểu tiện tay nhón lấy: Miếng ăn là miếng nhục, Ăn xó mó niêu, Nâng khăn sửa túi (Phòng khách); Nhập gia tuỳ tục, Ông nói gà bà nói vịt, Lá ngọc cành vàng (Tờ khai visa); Rau nào sâu đấy, Giơ cao đánh khẽ (Bãi tắm); Thần cây đa ma cây gạo cú cáo cây đề, Gà què ăn quẩn cối xay, Bút sa gà chết, Sinh dữ tử lành, Nhất cử lưỡng tiện (Tự truyện); Mật ngọt chết ruồi, Suy bụng ta ra bụng người (Chạy quanh công viên mất một tháng); Gái một con trông mòn con mắt, Con chăm cha không bằng bà chăm ông, Vỏ quýt dày có móng tay nhọn (Cây hoàng lan hoá thành cây si); Mất lòng trước được lòng sau, Tiền mất tật mang, Lọt sàng xuống nia (Trại cá sấu); v.v...

Tiểu thuyết Hồ Anh Thái cũng hiện diện một khối lượng lớn thành ngữ, tục ngữ. Theo khảo sát của chúng tôi, nhà văn đã sử dụng 17 câu thành ngữ, tục ngữ trong Cõi người rung chuông tận thế, 16 câu trong Mười lẻ một đêm, 20 câu trong Người và xe chạy dưới ánh trăng, Trong sương hồng hiện ra là 11 câu,... Chúng xuất hiện trong rất nhiều văn cảnh và thường được trích dẫn nguyên văn: chết trẻ khỏe ma, buôn phấn bán hương, thân nhau lắm cắn nhau đau, lên voi xuống chó, mèo mả gà đồng, gậy ông đập lưng ông, đầu tắt mặt tối, thầy bói nói mò, trai mồng một gái hôm rằm, nhà rách vách nát v.v. Cách dùng lời ăn tiếng nói của dân gian làm cho câu văn ngắn, gọn, súc tích mà giá trị trần thuật lại nhân lên rất nhiều.

Ngoài những thành ngữ, tục ngữ trực tiếp lẩy ra từ kho kinh nghiệm ngôn ngữ - văn học dân tộc, truyện Hồ Anh Thái cũng có một số lượng không nhỏ thành ngữ, tục ngữ dân gian được tái tạo lại dưới những dạng thức khác nhau: Lấy ý và biến đổi cấu trúc: “Kêu to đích thực là thùng rỗng”, “Cướp của chạy lấy người”, “Đào mỏ sẽ chết vì sập hầm”, “Đất rừng nào có chúa sơn lâm rừng ấy”, “Để là hòn đất, cất thành thần linh”… Đôi khi chúng cũng được sử dụng dưới dạng lời dẫn gián tiếp – một thành phần trong ngôn ngữ đối thoại của nhân vật: “Không nghe dân gian người ta nói à, càng già càng dẻo càng dai, bế cháu kêu nặng cõng trai trèo tường”; “Tôi cũng xiêu lòng theo, con chăm cha không bằng bà chăm ông, con chăm mẹ không bằng ông ké chăm bà già”; “Một người làm quan cả họ được nhờ, một người làm thơ cả họ bơ phờ” (Cây hoàng lan hoá thành cây si); “Bà nội chị bảo đói thì khó sạch rách thì khó thơm cho nên ngày xưa các cụ mới phải dạy đói cho sạch rách cho thơm. Giấy rách phải giữ lấy lề. Phải đàng hoàng để người thành phố người ta không coi thường mình… Lọt sàng xuống nia đi đâu mà thiệt” (Bến Ôsin);… Bên cạnh những tinh tuý được chắt lọc từ truyền thống, trang viết của ông cũng có không ít tục ngữ mô phỏng, nhại theo phong cách dân gian: “Túm kẻ nhuộm tóc ai túm kẻ đen đầu” (Tự truyện); “Quân với dân như cá với thớt” (Mảnh vỡ của đàn ông); “Yêu cá trong niêu cho mèo tiêu một bữa” (Mây mưa mau tạnh); “Chia uyên rẽ thúy, chia loan rẽ phượng, chia sim rẽ dế”, “Nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà, nuôi ma trong máy tính” (SBC là săn bắt chuột);… Tính chất “tân cổ dao duyên” trong ngôn từ nghệ thuật như thế đã giúp truyện của nhà văn này không lỗi mốt, lạc kênh tiếp nhận của độc giả đương đại. Thành công ấy cũng thể hiện ý thức luôn biết lắng nghe, biết học hỏi dân gian, sự nâng niu, trân trọng những giá trị truyền thống – người mẹ luôn gánh trên vai mình những đứa con của hiện tại và tương lai - cùng  tài năng, bản lĩnh, cá tính, tâm huyết của tác giả.

Lẽ thường, một sự vật sẽ ít nhiều đổi thay về diện mạo, tư cách khi thay đổi môi trường, địa vị, chức năng của nó. Khá am tường điều đó, Hồ Anh Thái đã rất dụng công trong vận dụng và sáng tạo ngôn ngữ dân gian bằng cách đặt chúng vào những hoàn cảnh mới với những công năng mới. Có thể là sự bóc trần thực trạng xã hội hoặc nhân cách con người hiện đại (Phòng khách, Chạy quanh công viên mất một tháng, Mười lẻ một đêm, SBC là săn bắt chuột). Kèm với sự “nắn gân”, “bắt mạch” kịp thời những căn bệnh thời đại là sự bày tỏ quan điểm, thái độ của người kể chuyện: “Cờ bạc là bác thằng bần. Cờ bạc biến một bậc minh quân thành mê tối ngu đần. Biến những thương nhân lắm tiền nhiều của thành lũ ăn mày nhếch nhác. Thậm chí biến cả những bậc trí giả kiêu hãnh thành một lũ kiến bò miệng chén hoang tưởng đuổi theo ảo ảnh” (Một bà năm ông). Việc vay mượn, sắp đặt hệ thống ngôn ngữ dân gian rất tự nhiên, không cố nắn chữ cho vừa dòng, không lạm dụng quá đà đã tạo được một mê trận ngôn từ dân gian – hiện đại hài hoà để nhận chân hiện thực và truyền tải những triết lí, suy nghiệm của hôm qua và hôm nay trong cách nhìn nhận về con người, cuộc đời.

Làm một phép so sánh chúng ta sẽ thấy, với những truyện được Hồ Anh Thái viết trước đây, đặc biệt là những sáng tác về Ấn Độ như Người đứng một chân, Người Ấn, Tiếng thở dài qua rừng kim tước, Kiếp người đi qua, Thi nhân, sự hiện diện của ngôn ngữ dân gian rất ít, thậm chí không có mặc dù người viết triển khai câu chuyện dựa trên những motif của tôn giáo, thần thoại, sử thi nước Ấn: quá trình tu luyện và giác ngộ cho những con người đang rơi vào bể khổ của Đức Phật, sự tích Ramayana, sử thi Mahabharata, v.v... Sự khác biệt trong ngôn từ nghệ thuật giữa hai giai đoạn sáng tác thể hiện phần nào tiến trình vận động, phát triển trong phong cách văn xuôi của nhà văn. Chính yêu cầu của cuộc sống hiện đại đã thôi thúc tác giả tìm tòi phương thức biểu hiện mới. Bên cạnh phổ ngôn từ của thời mở cửa với tất cả nồng độ bụi bặm, bỗ bã thì ngôn ngữ mang dấu ấn dân gian cũng là phương tiện hữu hiệu để người viết bộc lộ quan điểm nhìn đời, nhận người sâu sắc nhưng cũng không kém phần hóm hỉnh. Sẽ không ngoa khi nói rằng thành ngữ, tục ngữ, ca dao là vũ khí lợi hại được nhà văn sử dụng để vén màn hiện thực, chạm đến những vấn đề bức thiết của thực tại xã hội và tâm tính con người thời đổi mới.

Khẩu ngữ, tục ngôn là những nhân tố quan trọng làm gia tăng chất văn xuôi cho văn học sau 1986. Người viết truyện ngắn, tiểu thuyết những năm gần đây thường đặt mình vào thế ít nhiều đối lập với ngôn ngữ thi ca, sử thi. Hồ Anh Thái cũng là người có duyên, có tài và đặc biệt nghiêm cẩn trong tiếp biến hệ thống lời ăn tiếng nói đời thường để tạo nét riêng và sức ám gợi cho trang viết. Việc làm đó khiến sáng tác của tác giả đôi lúc giống như một hình tượng ngôn ngữ giễu nhại với sự tổng hòa nhiều sắc độ: lúc suồng sã, thân mật, lúc hoài niệm, triết lí, lúc bặm trợn, chao chát, lúc cợt nhả, chợ búa... Với quan niệm xem hiện thực như những “mảnh vỡ”, nhà văn đã tổ chức sáng tác của mình trên cơ sở ghép dán chúng lại. Vì vậy, ngôn ngữ ông dùng thường không trơn tuột, bằng phẳng mà nhấp nhô, thô ráp, sần sùi theo kiểu: “Liên thanh. Súng máy. Ngôn ngữ chao chát tung tẩy. Ngôn ngữ ngồn ngộn sặc sỡ ẩm thực Đông Nam Á”; “Chíu chíu, tặc tặc như tiểu liên tắc cú một hồi là hiểu nhau" (Mười lẻ một đêm). Hứng thú sử dụng lời ăn tiếng nói bình dân hơn những lời nói quyền uy, cao đạo đã thông lối để phương ngữ, khẩu ngữ, tiếng lóng, những ngôn từ đặc trưng của xã hội hiện đại cùng ùa vào trang viết Hồ Anh Thái, thu hẹp khoảng cách giữa truyện kể và những chuyện của đời thực. Có lẽ, chưa bao giờ ngôn ngữ đường phố, chợ búa, những câu nói tục, chửi thề được đưa vào văn học nhiều đến thế. Độc giả truyền thống không khỏi bị sốc hoặc ngỡ ngàng khi đọc những đoạn văn kiểu như: “Thằng Phũ dí cái vật dính dấp trên ngón tay vào mặt cô Tì. Đây là bong bóng cá mè, định lừa bố mày à, bố mày đi làm một quả để thi cuối năm cho son mà mày dám đưa sọt thủng, lôi ngay con khác ra đền đi, không có à, vậy chạy ngay ra đường mà săn bò lạc, các bố mày chờ" (Cõi người rung chuông tận thế). Chủ trương đưa ngôn ngữ thông tục vào tác phẩm như một cách "dĩ độc trị độc" của tác giả xuất phát từ nguyên tắc: “Đời bây giờ phải dùng những lời thật thô, thật độc mới điểm trúng huyệt của nó được. Màu mè là trò trẻ con” (Người và xe chạy dưới ánh trăng). Phương cách dụng ngôn này vừa thể hiện tính dân chủ trong sáng tạo nghệ thuật, vừa khẳng định cá tính của nhà văn trong việc tái hiện một thế giới gần gũi với con người chứ không phải một cõi siêu thực để người ta ngưỡng vọng mà mặc cảm, bất lực. Đó còn như một dự báo, cảnh tỉnh cho con người hôm nay trước những độc hại làm băng hoại nhân tính, phá hủy không ít những nền tảng đạo lí, những giá trị của văn hóa truyền thống.

Sự bùng nổ thông tin đã tác động đến ngôn ngữ đời sống và cũng để lại dấu ấn khá rõ nét trong truyện ngắn và tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Nhiều lớp từ mới xuất hiện cho thấy sự bén nhạy của nhà văn trong việc nắm bắt chiều hướng vận động của ngôn từ nghệ thuật. Lớp ngôn ngữ đặc trưng của thời đại kĩ thuật số, công nghệ thông tin, các khái niệm kinh tế, tiền tệ, những từ ngữ vốn chỉ mới xuất hiện gần đây đã đường hoàng chiếm chỗ trong truyện: cave (gái làm tiền), víp (nhân vật quan trọng), ôsin (người giúp việc), sếp (cấp trên), gay, đồng cô (người đồng tính), choice (thuốc tránh thai), ok (bao cao su), sex (giới tính, làm tình), v.v... Tiếng nước ngoài nguyên dạng cũng xuất hiện với tần số cao: Gang of four, Good bye, Bupffe, The Apocalypse, Land Cruiser, Let bygones be bygones… Hệ thống từ vựng này sẽ thay thế cho rất nhiều diễn giải và liên tưởng, dẫn bạn đọc tới hiện trạng xô bồ, hỗn tạp, ăn xổi ở thì: “Rồi sẽ tới lúc người ta không hình dung nổi chuyện những năm đầu thập niên thứ chín của thế kỉ hai mươi có một lũ thanh niên choai choai phóng xe máy như mất trí trên đường phố hẹp đủ mọi thành phần xe cộ (…) vui chơi giải trí đều có thứ tàu nhanh, yêu thì cũng là thứ tình yêu tốc độ, đã được đảm bảo bằng tự do cá nhân và bao cao su Ok Nhà vô địch cùng thuốc tránh thai Choice. Chỉ còn mỗi phương tiện giao thông công cộng là chậm và thiếu” (Cõi người rung chuông tận thế).  

Cũng thường gặp trong kĩ thuật tạo lời văn nghệ thuật theo lối hiện đại của tác giả là cách thức hoàn cảnh hóa ngôn ngữ văn học. Những vốn từ được người viết khai thác theo chiều kích mới không còn tuân theo chuẩn từ điển mà gắn chặt với bối cảnh sinh thành; một khi tách khỏi ngữ cảnh, chúng trở nên vô nghĩa và không thể giải thích. Đứng trước thực trạng xã hội bị khoa học hoá, công nghệ hoá, vi tính hoá, nhu cầu đối thoại trực tiếp dường như giảm sút đến mức tối thiểu, con người giao tiếp với nhau thông qua những máy móc trung gian. Đó là cơ sở hình thành một “hố thẳm” ngày càng nới rộng chiều kích giữa các cá thể trong cộng đồng, có nguy cơ huỷ hoại cuộc sống tinh thần của con người. Truyện ngắn Nham! cho thấy sự hiện diện của ngôn ngữ mạng đã phần nào thủ tiêu vẻ đẹp, sự trong sáng của tiếng Việt và cũng thiêu trụi bản chất của sự thật sau những câu chữ vô âm sắc, vô tình điệu: “Lao Viet Nam nhan tin bang dien thoai di dong, dai loai: anh dai loan oi, anh ra cho lon mua buoi cho em an, an xong roi mang xe deo em cho vui nhe”. Từ bề sâu con chữ vang vọng lời cảnh tỉnh khẩn thiết của người viết: Ngôn ngữ - kết tinh văn hoá cao nhất của loài người, niềm tự hào của mỗi dân tộc – đang đứng trước nguy cơ bị sát thương, huỷ diệt bởi mặt trái của sự phát triển khoa học kĩ thuật. Thức nhận rõ rằng “ngôn ngữ là nơi tránh con đường này thì luôn có thể mở ra một con đường mới, mở ra khả năng mới”[iii], trong sáng tác của mình, nhà văn không hề che giấu khát vọng tạo sinh một trật tự ngôn ngữ khác lạ, ở đó tất cả mọi trò chơi ngôn từ, kể cả ngộ luận (paralogie), đều có quyền hiện diện. Đó là cách thức sử dụng với tần số cao ngôn ngữ lệch chuẩn theo kiểu tính từ giữ vai trò của động từ, danh từ riêng lại đảm nhận vị thế tính từ, động từ: “Bảo với chúng nó nhá, chúng nó cặp nhiệt độ nhau thì phải kiếm chỗ cho bất khuất, đừng có Nghĩa Lộ quá trước mắt bà, bà Lũng Cú lên, bà thịt băm cho mấy nhát thì anh ả đứt phựt dây đàn” (Trại cá sấu); “Anh không thích bạo liệt và gạo cội thì cứ dịu dàng xe chỉ luồn kim” (Vẫn tin vào chuyện thần tiên),…

Trong tiểu thuyết SBC là săn bắt chuột, Hồ Anh Thái đã mượn lời người kể chuyện để bộc lộ quan niệm dụng ngôn cẩn trọng, đầy trách nhiệm của mình: “Người viết văn không phải vì thế mà bạ gì cũng viết. Biết sử dụng chữ cũng phải thận trọng như biết dùng súng dùng dao. Không khéo thì sẩy tay cướp cò. Trúng vào người vô tình ngang qua. Trúng vào chính mình. Chớ cậy có chữ. Nhà văn là người biết được mình nên viết gì. Nói vậy đúng quá. Nhà văn là người biết được mình không nên viết gì. Nói vậy đúng hơn nhiều. Có chữ, viết gì mà chẳng được, ấy thế, đó mới là lúc phải biết không nên viết gì. Chớ viết nhờn tay quen tay. Chớ viết gì ngứa chân ngứa tay ngứa đầu. Viết phải từ thôi thúc tự thân”. Không cợt đùa, không khinh nhờn, cũng không dễ dãi, hời hợt sơ sểnh với chữ nghĩa, cách sinh tạo ý lời của một ngòi bút luôn nhạy cảm với cái mới mà vẫn thiết tha thổi hồn cho cái cũ này đã cho thấy phần nào sức sống, thế mạnh cũng như tính lịch sử - xã hội của chất liệu văn chương Việt. Những cố gắng để "luyện đan" ngôn ngữ của Hồ Anh Thái chứng tỏ văn xuôi đương đại, dẫu nỗ lực thám hiểm cuộc sống, nắm bắt bản chất của tinh thần thời đại, không ngừng cách tân để tiến kịp văn học nhân loại vẫn không phải là những đứa con “thất cước với giống nòi”. Tính song kết giữa hai mặt truyền thống và hiện đại trong ngôn từ nghệ thuật như thế hẳn sẽ là nhân tố quan trọng để sáng tác của nhà văn này là những “ma trận” ngôn từ cuốn hút, tiếp tục cuộc hành trình chinh phục độc giả đồng thời chung sức đẩy nhanh tiến độ hiện đại hóa văn học đương đại.

*

Là nhà văn luôn trăn trở với sự tồn sinh của nhân thế, khôn nguôi tìm kiếm câu trả lời cho bài toán hóc búa về sự hòa giải giữa quá khứ truyền thống, ổn định và hiện tại hiện đại, không ngừng biển chuyển, truyện của Hồ Anh Thái bộc lộ khá rõ ý thức, nỗ lực tái tạo hiện thực dưới góc nhìn mới lạ để có thể tái hiện một cách chân thực, không giản lược toàn bộ đời vật chất và tinh thần của con người đồng thời góp phần thay đổi quan niệm về thi pháp của loại hình văn xuôi sau 1986, đổi mới kinh nghiệm đọc của độc giả, đưa văn chương đương đại Việt Nam nhìn ra thế giới. Nỗ lực phát hiện những hình thức biểu đạt nhằm lạ hoá phương thức trần thuật, mỗi sáng tác của ông là một lần người đọc được dịp trải nghiệm qua một không gian mới, một quan niệm sống mới, thoát khỏi cái quen nhàm thường gặp. Đây là một minh chứng cho khát vọng khám phá những tiềm năng thể loại nhằm tạo ra sự chuyển đổi theo hướng tích cực, hiện đại, nhân bản trong bản chất và sứ mệnh của văn học ở đội ngũ sáng tác hôm nay. Trên tinh thần đó, không quá võ đoán khi cho rằng, Hồ Anh Thái là một gương mặt tiêu biểu cho sự tìm tòi, thể nghiệm, tạo dựng một thứ văn học mới có khả năng lật trở, soi chiếu nhiều phương diện của thực tại đương đại, một “con người của chữ nghĩa, Man of Letters”[iv](4) đích thực.

 

-

(Tham luận Hội thảo khoa học quốc gia "Thế hệ nhà văn sau 1975" do Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tổ chức, 4/2016)

 



[i] Hồ Anh Thái: Cõi người rung chuông tận thế - Tác phẩm và dư luận, Nxb. Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2003, tr.268-269.

[ii] Xem Bùi Thanh Truyền – Lê Biên Thùy: Hồ Anh Thái và dấu ấn hậu hiện đại, Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, số 335, tháng 5/2012.

[iii] Hồ Anh Thái: Lang thang trong chữ, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2016, tr. 367.

[iv] Hồ Anh Thái: Lang thang trong chữ, Sđd, tr.162.

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN TIẾP THEO

 


 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com