Đợt sóng cách tân đầu tiên của thơ Việt sau 1975: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều

(vietvan.vn): Có một thế hệ nhà văn cầm bút và trưởng thành sau năm 1975, tiếp nối thế hệ các nhà văn trước 1975 (được quen gọi là thế hệ chống Mỹ). Nhằm nhận diện, đánh giá về diện mạo và thành tựu, kể cả những hạn chế của một thế hệ nhà văn cầm bút và trưởng thành từ sau 1975, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội tiến hành tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia mang tên “Thế hệ nhà văn sau 1975”. Hội thảo đã nhận được 85 tham luận đến từ các trường đại học, cơ quan, viện nghiên cứu trong và ngoài nước. 

  Chúng tôi đã chọn 37 bài tham luận trong số này để in thành tập sách “Thế hệ nhà văn sau 1975: diện mạo và thành tựu” (NXB Hội nhà văn, tháng 4/2016). Do khuôn khổ cuốn sách có hạn, chúng tôi không thể đưa hết các tham luận vào tập được. Thay vì có mặt trong cuốn sách, chúng tôi sẽ lần lượt đăng các bài tham luận lên trang Vietvan.vn để bạn đọc rộng đường tham khảo.

            Lưu ý: mọi dẫn nguồn cần ghi rõ  vietvan.vn.

            Một lần nữa, trân trọng cảm ơn các tác giả tham luận và xin chia sẻ cùng bạn đọc!

+ + +

 

ĐỢT SÓNG CÁCH TÂN  ĐẦU TIÊN CỦA THƠ VIỆT SAU 1975:

DƯƠNG KIỀU MINH, NGUYỄN LƯƠNG NGỌC, NGUYỄN QUANG THIỀU

 (Văn Giá)

Nếu tính mốc tập thơ Củi lửa của Dương Kiều Minh ra đời (1989) cho đến nay đã là 27 năm. Nhìn lại, ngay sau Củi lửa chỉ một năm thôi là hai tập thơ của Nguyễn Lương Ngọc lần lượt ra đời: Từ nước (1990), Ngày sinh lại (1990). Và tiếp liền Nguyễn Lương Ngọc cũng chỉ già năm Sự mất ngủ của lửa của Nguyễn Quang Thiều xuất hiện (1992). Mấy năm liên tục với những tập thơ sáng giá của ba cây bút thuộc cùng trang lứa, độ tuổi 30. Nhớ về những năm ấy vẫn có gì thật lạ.

Bốn tập thơ, trong đó tập thơ của Nguyễn Quang Thiều đoạt giải của Hội nhà văn; còn lại, tuy không có giải mang tính quan phương nào, nhưng chúng đã chiếm được giải cao trong lòng bạn đọc. Sau vài năm, chính nhà thơ Dương Kiều Minh và Giáng Vân, trong bài viết của mình đã đĩnh đạc cho rằng giới phê bình vẫn chưa nhìn ra giá trị của thơ Nguyễn Lương Ngọc, và nhà thơ xấu số này rồi sẽ có vị trí quan trọng trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Theo tôi, ý kiến của hai nhà thơ này càng ngày càng tỏ ra có sức thuyết phục không thể phủ nhận[i]. Riêng về tập Củi lửa của nhà thơ Dương Kiều Minh, càng về sau, người đọc trong giới cũng như bạn đọc rộng rãi đều nhận thấy ở đó ánh lên vẻ đẹp cũng như ý hướng cách tân thơ trong thời điểm ấy. Như vậy, trong bộ ba nhà thơ đặc biệt này, Dương Kiều Minh là người xuất hiện sớm nhất, người gieo những hạt mầm và cho ra những hoa trái thơ ca mang hơi thở cách tân sớm nhất[ii].

Ngày ấy, tôi được chứng kiến và được đọc tất cả các tập thơ này. Tuy lòng  đã cảm phục, nhưng không hiểu sao, không cất lên một tiếng nói chia sẻ nào. Có thể do lúc ấy, như phần lớn những người cùng thời chúng tôi vẫn bị cái mỹ học của thơ thời chiến trì níu, nên chưa nhận ra cái mới cái hay của các tập thơ này. Hay cũng có thể do tâm lý cùng trà lứa, chưa dễ chịu thừa nhận nhau? Hoặc đơn giản hơn, do lười biếng, do tâm thế nước chảy bèo trôi  nên vô tình lướt qua các các phẩm thơ như thế?

Hôm nay nhìn lại, hóa ra, sau thế hệ các nhà thơ thời chiến trước 1975, chỉ đến sự xuất hiện của ba nhà thơ này với 4 thi phẩm trên kia, nền thơ ca Việt Nam mới thấy thực sự đổi khác. Đổi khác này có ý nghĩa không chịu đi theo những tiếng nói thi ca ổn định, có nguy cơ đóng băng. Đổi khác này cũng mang ý nghĩa truyền cảm hứng, hô ứng để nối tiếp những đổi khác khác. Nếu hình dung công cuộc làm mới thơ ca như những đợt sóng, thì ba nhà thơ này, với những thi phẩm này đã làm nên đợt sóng thứ nhất, trong vai trò từ giã những cái trước đó, tạo khác biệt, tạo động lực để làm cho thơ ca bứt lên phía trước. Họ là đợt sóng đầu tiên của công cuộc đổi mới thơ ca sau 1975, đúng hơn là sau 1986.

1.Một thi quyển rạn nứt và thôi thúc

Mỗi một hiện tượng văn học luôn là một sự kiện xã hội tổng thể. Bốn thi phẩm kể trên cần được nhìn trong một bối cảnh xã hội, văn hóa- văn học cụ thể mà nó ra đời, nó thuộc về.

Ngày ấy, tinh thần đổi mới văn học mới được khai thông bởi câu nói nổi tiếng “Hãy tự cứu mình trưóc khi trời cứu” của cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh và Nghị quyết 05 về văn hóa văn nghệ. Thực sự, giới văn nghệ sĩ cảm thấy được kích hoạt mạnh mẽ, lòng tràn trề hy vọng, dự định và nhiệt hứng. Bản chất của sáng tạo là đổi mới. Hẳn là thế, nhưng nếu không có  thời khí đổi mới như những cơn gió lành thì cái nhu cầu sáng tạo, làm mới chưa được kích hoạt, bùng lên mạnh mẽ và phấn chấn như vậy. Tiếp nối tinh thần này, vào đúng thời điểm công cuộc đổi mới văn học vừa mới bắt đầu, nhà văn Nguyễn Minh Châu lại lên tiếng bằng một bài viết hết sức mạnh mẽ, sâu sắc và đau đớn: “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa” (1987)[iii].

Hội thảo văn học “Chung quanh mấy vấn đề thời sự văn học” của khoa Ngữ Văn - Đại học sư phạm Hà Nội năm 1989 do Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh chủ trì, tập hợp những tiếng nói đổi mới mạnh mẽ nhất, sắc nét nhất của cả đội ngũ sáng tác và lý luận-phê bình đương thời. Lúc đó, trong Hội thảo, về giới sáng tác, một số cây bút đang nổi như cồn đều có mặt: Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Dư Thị Hoàn. Nhìn rộng ra, trên diễn đàn văn nghệ, công khai những cuộc tranh luận về mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị, về nhiệm vụ phản ánh hiện thực, về tính dân tộc, về lối viết (phương pháp sáng tác), về cách đọc…Có thể nói, chưa bao giờ các vấn đề của văn học, nghệ thuật lại được thảo luận sôi nổi, công khai, cởi mở như bấy giờ. Nhìn lại, một số vấn đề thảo luận lúc đó cho đến nay chưa hẳn đã ngã ngũ, cần thảo luận tiếp (vả lại, những vấn đề đó đặt trong bối cảnh hôm nay lại tiếp tục nảy sinh những vấn đề khác), nhưng rõ ràng, đối với sáng tạo văn chương nói chung, trong đó có thơ ca, các văn nghệ sĩ đã có những chân trời sáng tạo rộng rãi, gợi mở cho những băn khoăn viết cái gì và viết như thế nào.

Như chúng ta đều biết, những cuộc cách tân văn học, thường khi diễn ra không đồng đều trên các thể loại. Có cuộc cách tân được dẫn dắt bởi truyện ngắn, tiểu thuyết, có cuộc cách tân lại được dẫn dắt bởi thơ. Hiếm có trường hợp nào, như giai đoạn 1932-1945, cùng một lúc cả văn xuôi cả thơ (thậm chí cả kịch, phê bình) lại nhất loạt đồng khởi và thành tựu như vậy.

Xét những năm cuối của thập niên 80, cuộc cách tân văn học phải ghi công cho văn xuôi, bắt đầu bằng Nguyễn Huy Thiệp, rồi đến Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anh (trước nữa phải tính từ những Nguyễn Minh Châu, Lê Lựu, Ma Văn Kháng)…Đối với thơ, ghi danh đầu tiên cho cách viết táo bạo, có tính khiêu khích, mới lạ của Dư Thị Hoàn. Lúc ấy, trước Dư Thị Hoàn, chưa có một xuất hiện nào đáng kể, vẫn là các “soái” thuộc về thế hệ thời chiến trước 1975.

Nhìn lại lập Lối nhỏ (1988), sự cách tân chưa phải thuộc về thi pháp, mà chủ yếu nghiêng về cảm hứng, chất liệu (cái được biểu đạt). Nhưng rõ ràng, vào thời điểm này, chỉ với một câu thơ của nữ thi sĩ đã làm xôn xao thi giới, như một sự khiêu khích gay gắt đối với thơ trước đó: Sau phút giây/ Êm đềm trên ghế đá/ Anh không cài lại khuy áo ngực cho em (Tan vỡ).

            Cũng phải nói cho công bằng, trước Dư Thị Hoàn cũng đã có không ít những cựa quậy, tự làm mới mình của không ít các nhà thơ đàn anh: Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Trần Vàng Sao, Nguyễn Trọng Tạo, Thi Hoàng… Các đổi mới của những nhà thơ này thực chất là mới trong một khung  hệ hình không còn mới, mà nhiều người gọi theo những cách khác nhau: thơ trữ tình công dân, thơ sử thi lãng mạn, thơ “lửa cháy”, thơ diễn tả cảm xúc, thơ vụ nghĩa, thơ Mới kéo dài. Một số sáng tạo của các nhà thơ này đã bước vào véc-tơ của sự chuyển mình (trữ tình cá nhân, đời tư, vụ chữ…), nhưng chưa đủ mạnh để trở thành một cuộc lên đường mới, dứt khoát[iv]. Tuy nhiên, thơ của họ cũng đã làm nên một phần năng lượng cho sự bứt phá của các cây bút tiếp theo như Trần Quốc Thực, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Bình Phương  và những cây bút khác.

Tôi muốn nói đến một trường hợp thuộc thế hệ thời chiến trước 1975 có mặt vào những năm đầu đổi mới này trong vai trò trợ lực và kích hoạt cho một số tiếng nói thơ trẻ: Trúc Thông. Lúc bấy giờ ông được xem là người tập hợp và quan tâm đặc biệt đến rất nhiều cây bút thế hệ sau ông, nhất là những cây bút trẻ: Trần Quốc Thực, Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Bình Phương... Ở ông, người ta đọc thấy một ý hướng muốn làm mới thơ một cách mạnh mẽ, thường trực. Điều này không chỉ được thể hiện trong các lần gặp gỡ, trò chuyện, mà còn ở trong những tiểu luận, những bài bình về thơ, đặc biệt thể hiện ngay trong những bài thơ như những minh chứng thuyết phục. Vào thời điểm lúc bấy giờ, sự tự ý thức về thơ (bằng các hoạt động phê bình) của ông đối với công cuộc làm mới thơ Việt, so với cùng thế hệ, ông đã đi xa nhất, thuyết phục nhất. Sau này, với toàn bộ sáng tạo của mình, có thể nói ông đã thiết lập được một mô hình thơ khác, với một thi pháp khác và một giọng điệu khác so với thơ thời chiến trước 1975. Ông đã vượt lên chính ông, và vượt lên thế hệ mình để làm khác thơ Việt. Chỉ mấy dòng thơ này thôi, ông đã đem đến cho thơ Việt lúc này một hơi hướng khác hẳn: Nhoai lên, quành xuống / giữa núi xanh / tiếng chim rơi tịch mịch / nỗi người đi muôn trùng” (Đường lưng đèo Gió). Hẳn là, để chứng minh cho nhận định trên, cần phải dài lời hơn, cụ thể hơn. Tuy nhiên, bạn đọc hãy đọc bài viết xuất sắc của nhà nghiên cứu phê bình Chu Văn Sơn để hiểu những điều tôi vừa nói ở trên trong khi tôi chưa thể nói được điều gì hơn thế[v]. Có điều, “tính công” cho việc đổi mới thơ của Trúc Thông là căn cứ vào toàn bộ đời thơ của ông, còn nếu như chỉ căn cứ vào tập Chầm chậm tới mình (1985), thì ông chưa có được một diện mạo và công lao như vậy. Ông dần dần hoàn tất thi pháp có tính cách tân của mình tiếp tục bằng các tập sau này như: Maratong (1993), Một ngọn đèn xanh (2000), Vừa đi vừa ở (2005). Nói điều này để thấy rằng ông là người vừa có tác động, lại vừa đi cùng các nhà thơ trẻ vào thời điểm bấy giờ - cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 của thế kỷ XX.

Cũng phải nói thêm vào quãng thời gian này có sự tái xuất hiện đồng loạt của một số cây bút như Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán,  Hoàng Cầm, Phùng Cung; và lớp sau một chút là Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng. Tất cả họ không chỉ có số phận chính trị đặc biệt mà số phận thơ ca cũng đặc biệt không kém. Mỗi người một vẻ, họ đã thể hiện những nỗ lực phi thường và đáng khâm phục phụng sự cho sự cách tân thơ Việt. Họ không chỉ sáng tác, mà còn lý thuyết hóa lao động nghệ thuật của mình bằng các tiểu luận, ghi chú, thẩm bình về thơ với những gương mặt tiêu biểu nhất như Lê Đạt, Dương Tường, Hoàng Hưng. Các khái niệm chìa khóa của những cách tân thơ  ở họ là “thơ dòng chữ” (đối lập với thơ “dòng nghĩa”),  thơ “con âm”/”bóng chữ” (“vụ chữ” chứ không “vụ nghĩa”), “thơ âm bồi”, “thơ vụt hiện”…nhất loạt bước vào sinh hoạt và thảo luận thơ lúc bấy giờ. Tuy hồi ấy không có mấy hưởng ứng công khai, nhưng các sáng tạo của những nhà thơ này đã có một tác động ngấm ngầm và mạnh mẽ cho ý thức đổi mới thơ Việt. Những tìm tòi của các nhà thơ sau 1975 không thể không bị tác động ít nhiều của từ trường này. Ba nhà thơ đang nói đến trong tiểu luận cũng vậy.

Ngoài ra, lúc này văn học dịch từ nguồn văn học thế giới trong đó có thơ, cùng các lý thuyết văn học được có mặt ở Việt Nam khá cởi mở, không còn bị cấm kỵ tẩy chay như trước nữa. Cánh cửa văn học đã được khai thông với thế giới. Đó là những tham khảo, những kích thích tố quan trọng cho sự tìm tòi và đổi mới văn chương, trong đó có thơ ca.

Tất cả những điều trên cho thấy lúc này đã có được một không khí dân chủ thực sự, thúc đẩy sáng tạo, tìm tòi, làm nên những khác biệt và những khác biệt được quyền chung sống bên cạnh nhau, không loại trừ nhau, cùng nhau tạo nên bức thảm thi ca đa dạng, đa điệu. Và như vậy, chúng đã làm nên một thi quyển, ở đó các nhà thơ của thế hệ sau 1975 đã thiết tạo một diễn ngôn thơ mang sứ mệnh cách tân thơ Việt mà ba nhà thơ kia đã làm nên đợt sóng đầu tiên. Quả là, từ sau năm 1975 đến 1986 là quãng thời gian văn học cựa quậy, chuyển mình, rạn nứt và đòi được khác, được mới. Không có sinh quyển này, cũng không có cuộc đổi mới văn học tổng thể, trong đó có thơ ca.

2.Ba nhà thơ xuất hiện và tham dự

Không phải sự xuất hiện nào cũng có khả năng  khiêu khích. Ba nhà thơ Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc và Nguyễn Quang Thiều xuất hiện cùng với các thi phẩm mang tính chất khiêu khích nền thơ đương thời. Nói là “khiêu khích” không nên hiểu ba nhà thơ này chủ trương chọc ghẹo ai, gây sự với ai (trên thực tế, họ bị gây sự hơi nhiều), mà bản thân những sáng tác của họ tự chúng mang tính đối thoại, chất vấn với thơ của những tác giả khác, nhất là những tác giả trước 1975. Lý do là ở chỗ: ba nhà thơ này đã tạo ra được những khác biệt, xin nhấn mạnh là KHÁC BIỆT, chứ không bàn đến hơn kém như một thái độ xếp chiếu hoặc hơn thua. Điều này thể hiện ở mấy điểm sau:

1)Thứ nhất, ba nhà thơ ở các mức độ khác nhau, đã dám lên tiếng, bộc lộ quan niệm nghệ thuật và thơ ca của mình, một kiểu quan niệm riêng, mới và khác trước. Về điểm này, hiển nhiên là các nhà thơ khẳng định tư cách nghệ sĩ của mình bằng tác phẩm, chứ không nhất thiết phải tuyên ngôn. Nhưng nếu có tuyên ngôn cũng không sao, miễn là giữa tuyên ngôn và tác phẩm cần có sự tương thích cần thiết (sợ nhất là có không ít người tuyên ngôn to hơn tác phẩm mà họ làm ra).

Quan niệm nghệ thuật có hai dạng, thường bổ sung cho nhau: bằng các phát ngôn trực tiếp dưới dạng mệnh đề (thông qua các tiểu luận, các phát biểu, trả lời phỏng vấn…), và  bằng tác phẩm, trong tác phẩm (có khi mượn lời nhân vật, có khi thể hiện qua hình tượng làm hiện lên toàn bộ cách cảm nhận và cắt nghĩa về đời sống của tác giả). Với ba nhà thơ này, các quan niệm nghệ thuật của họ được thể hiện trong các tác phẩm như một ý thức chủ động.

Một điểm chung  dễ nhận thấy ở cả ba nhà thơ này là họ đều có một ý chí mãnh liệt muốn cách tân thơ, muốn viết những bài thơ khác trước, mới mẻ, độc đáo, không bị lặp lại với những gì đã có nguy cơ khô héo, đông cứng.

Với Dương Kiều Minh, người xuất hiện đầu tiên, tuy khá dè dặt, nhưng trong một số bài thơ của mình anh bộc lộ khát vọng tự do một cách mạnh mẽ. Anh viết:  Một sớm quờ lên chân lý/Lời đồng dao vén mở bên hè” (Cố hương); Ở đâu dòng sông/ở đâu cánh đồng/ở đâu những hạt buồn gieo xuống/tự do trái cây êm dịu giữa mùa” (Bộc bạch V;  “Cơn khát tự do/Tự do như nắng/Tự do cơn mưa cuốn chạy trên đồng” (Cổ tích)[vi]. Khao khát tự do chính là biểu hiện của cái cảm giác đang thấy mình không có tự do, thấy thèm tự do. Trong nỗi khao khát tự do nhiều chiều kích đó, chắc chắn có tự do biểu đạt thơ ca, làm mới thơ ca. Một câu thơ tuyệt hay của thi sĩ này được xem như một ngụ ý  biểu đạt cái tư thế, vẻ đẹp, khát vọng tự do, khát vọng mình được là mình:  “Bông loa kèn nở ngang tàng mùa hạ” (Không đề 1).

Ở Nguyễn Lương Ngọc, với một bản tính quyết liệt, sáng trắng, sắc sảo, không che chắn, anh mượn thơ tuyên bố: “Khi mắt đã no nê/Những quy tắc lên men/Khi sự thật bị thay bằng  cái giống như sự thật/Có gì không ổn/Có gì như bệnh tật/Khi mồ hôi vẫn ê a thiên chức nghệ sĩ/Anh không còn muốn nhìn những gì mình đã vẽ/Chính nước mắt, hay máu tứa từ cái nhìn bền bỉ/Đã cho anh chiếc lăng kính này đây/Để anh đủ sức đập vụn mình ra mà ghép lại/Nung chảy mình ra mà tìm lõi/Xé toang mình ra mà kết cấu” (Hội họa lập thể). Nói hội họa để nói văn chương, nghệ thuật nói chung. Vào thời điểm bài thơ ra đời, không ít người, nhất là các đầu óc bảo thủ đánh giá không mấy thiện cảm về Nguyễn Lương Ngọc. Bài thơ có tính tuyên ngôn, gây hấn thực tiễn sáng tác lúc bấy giờ. Ở đây là câu chuyện về cái cũ đã đông cứng, rắn lại cần phá hủy, và khát vọng hướng về cái mới bằng việc đi tìm cái lõi của sự thật gồm cả về nội dung biểu đạt và cách thức biểu đạt. Đoạn thơ như một tuyên ngôn cứa vào những ai tha thiết với công cuộc làm mới thơ Việt lúc bấy giờ. Phần lớn các bài trong hai tập Từ nước Ngày sinh lại là một minh chứng  cảm động cho nỗ lực làm mới thơ ca của Nguyên Lương Ngọc[vii].

Với Nguyễn Quang Thiều, sự xuất hiện Ngôi nhà 17 tuổi (1990), tuy chưa bắt nhịp ngay vào sự đổi mới thơ ca, nhưng, như anh nói: “Trong bài thơ này tôi viết về tôi trong “một bản đồng ca thánh thót” và ý chí ra đi khỏi dàn đồng ca đó. Những câu thơ của “Lạc nhịp” đã tuyên ngôn con đường sáng tạo của tôi: Thế mà tôi lạc nhịp đi ra/Cánh chim mỏng ngược  về nơi chớp giật/Và ngọn gió đón tôi vào đội ngũ/Một nửa tôi hóa bão cuối chân trời/Thế mà tôi lạc nhịp đi ra/Như ngựa hoang cắt mình qua cỏ cháy/Cỏ xòe lá đón tôi vào với cỏ/Một nửa  tôi thành gai trên lá cỏ non mềm”[viii]. Về tập thơ này, cũng như chính tác giả thú nhận: “trên gương mặt tôi đôi lúc thoáng hiện lên một gương mặt khác, trong giọng nói tôi đôi lúc lại pha một giọng nói khác”[ix]. Phải chờ đến Sự mất ngủ cuả lửa, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mới tạo ra được giọng nói của riêng mình, tức là một kiểu thơ khác biệt so với trước đó của chính anh, và so với người khác trước đó và cùng thời. Cái ý thức cách tân được khởi lên từ Ngôi nhà 17 tuổi đã được quán triệt và thực hành dõng dạc ở tập thơ ngay sau đó: Sự mất ngủ của lửa.

Như vậy, nhìn vào ba tác giả vào thời điểm những năm đầu 90 của thế kỷ XX, họ đều có ý thức vươn tới một kiểu thơ khác biệt so với trước đó và chung quanh. Đây là  ý chí và khát vọng của người trẻ và chỉ có người trẻ mới thực hiện được. Mọi cuộc cách tân văn học (dường như cũng đúng với tất cả các lĩnh vực khác) đều thuộc về người trẻ.

2)Thứ hai, điểm mới so với trước đó của ba nhà thơ này ở những tập Củi lửa, Từ nước, Ngày sinh lại, Sự mất ngủ của lửa, về cơ bản đã từ chối cảm xúc trữ tình công dân (hướng về cộng đồng, giai cấp, dân tộc, cái chung, sử thi) để đào sâu vào trữ tình cá nhân (cá thể, bản thể, đời tư) với tất cả các biểu hiện đa dạng và với các cấp độ của nó. Nguồn thi hứng của họ là những chuyện tâm tình cá nhân, riêng tư, có khi bé nhỏ, thường ngày, lắm khi rất thầm kín, bản năng, có khi lại thuộc về thế giới tâm linh bí ẩn - những thứ mà thơ thời chiến trước 1975 về cơ bản bị xem thường, hoặc kiêng kỵ, bỏ qua.

Giờ đây họ công khai đi vào những tâm tình cá thể, cái mà nhà thơ Dương Kiều Minh định danh: “Điều gì dào lên trong những hạt li ti” (Hy vọng). Thơ không thích sự to tát, không thích những cái phi thường, chỉ muốn cố nắm bắt và biểu đạt những thứ “ hạt li ti” của đời sống con người. Và ở Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, tâm tình cá nhân được đẩy đi rất xa đến cõi bí ẩn mơ hồ của tâm giới, linh giới.

Thơ Dương Kiều Minh phục sinh lại một khu vườn cổ tích của tuổi thơ, mẹ, quê hương với một điệu buồn mang mầu hoài niệm, nỗi buồn tự cảm: “Màu xanh rưng rức dậy buồn” (Bộc bạch IV), “Khát vọng/mang vạm vỡ nỗi buồn” (Trômpet)…Các nhà thơ xem nỗi buồn như một trạng thái tâm lý tất yếu, đồng thời như một vẻ đẹp của đời sống, không thể và không nên né tránh, cần phải được cất lên thành thơ ca và nghệ thuật. Nguyễn Lương Ngọc khi viết về một nhà thơ đã khuất, ở trong con người này, còn hơn cả nỗi buồn là nỗi đau khổ của bi kịch xã hội, bi kịch nghệ sĩ: “Anh không đủ can đảm mang đến người yêu nỗi buồn/Nỗi buồn, anh còn yêu chị/Anh không đủ dũng khí ứa ra một giọt nước mắt/Nghìn giọt chất mãi nhão cả ngực/Anh không đủ dũng khí bắt mọi người phải khóc vì họ/Hôm nay bao người khóc” (Với một nhà thơ vừa tắt)…Còn đối với Nguyễn Quang Thiều, cả một thế giới làng quê được dựng lên mang mầu sắc, ánh sáng, hương vị của một nỗi buồn gần như là định mệnh - định mệnh làng. Nỗi buồn phổ vào phong cảnh, nhà cửa, mồ mả, bến sông, thấm sâu vào mỗi con người sống trong không gian đó. Cảm xúc buồn trong thơ Nguyễn Quang Thiều là một thứ cảm xúc mỹ học, mỹ học về cái buồn. Anh nhìn đời sống chỉ thấy một trạng thái buồn thăm thẳm, phổ lên tất cả. Trong nỗi buồn miên viễn đó, con người sống, khát vọng, làm tình, yêu thương, và cùng nhau tạo dựng lịch sử, nhất là lịch sử tâm hồn cộng đồng làng. Bởi thế, nỗi buồn trong thơ Nguyễn Quang Thiều chính là hiện thân của Cái Đẹp. Nó cho phép xuất lộ những câu thơ khác lạ, độc quyền, không có ở bất cứ nhà thơ nào: “Tôi xin ở kiếp sau làm một con chó nhỏ/Để canh giữ nỗi buồn - báu vật cố hương tôi”  (Bài hát về cố hương).

Như đã nói ở trên,  các nhà thơ này còn đào sâu vào thế giới tâm linh, một thế giới mà hầu như bị vắng mặt ở nền thơ ca trước 1975. Sau này, đến Trúc Thông với tập Chầm chậm tới mình (1985), nhà thơ mới dám công khai nói về thế giới tâm linh huyền hồ mà bí ẩn gắn liền với hình ảnh cha mẹ, nhất là người mẹ đã khuất: “Lá ngô lay ở bờ sông/Bờ sông vẫn gió, người không thấy về” (Bờ sông vẫn gió). Vào thời điểm này, những câu thơ về cõi tâm linh vẫn đang còn rất hiếm. Trước 1975, vùng tâm linh bí ẩn và mờ khuất trong đời sống tinh thần của con người gần như bị cấm kỵ hoặc bỏ quên. 

Nếu ở tập Chầm chậm tới mình (1985) của Trúc Thông đang còn thấp thoáng, thì đến các tập thơ của ba nhà  thơ này, thế giới tâm linh đã tràn vào với một mật độ khủng khiếp, đặc biệt là càng ngày càng đầy lên nếu tính từ Dương Kiều Minh, qua Nguyễn Lương Ngọc đến Nguyễn Quang Thiều. Dương Kiều Minh khi nhớ về tuổi thơ và cố hương, hay nhắc đến phần tử (mộ cha mộ mẹ), cánh đồng, dòng sông, khu vườn của những ngày thơ ấu trong cái cảm từ phía tâm linh: “Chiều. Chiếc lư lớn khổng lồ/sương khói dâng lên ngùn ngụt (…)/Nhiều khi buồn nức nở/ngóng cánh đồng bên sông Hồng cuộn đỏ/đấy cố hương/Và đây cố hương” (Cố hương). Rất gần với Dương Kiều Minh, nhưng đậm đặc hơn, ám thị hơn, đó là tâm linh làng, thuộc văn hóa làng tự ngàn đời trong thơ Nguyễn Quang Thiều. Đó là những hình ảnh thuộc không gian làng: dòng sông, cánh đồng, ngõ xóm, những người vợ liệt sĩ, những đám ma, những người đàn bà gánh nước đêm, hình ảnh người bà, cha, mẹ…Tất cả được chìm trong màn sương của huyền thoại làng, tâm linh làng, ẩn ức làng (Sông Đáy, Tháng Mười, Những ví dụ, Âm nhạc, Bài hát về cố hương…) – cái mà phân tâm học gọi là “vô thức tập thể” (K.Jung).

Sâu và xa hơn tâm linh, còn là những cơn mộng mị, những trạng thái tinh thần bất định, đột hiện, không thể cắt nghĩa được, gây nên những hoang mang. Các nhà thơ đã cố gắng nắm bắt và diễn đạt một cách đầy ám gợi về những biểu hiện bí ẩn này. Nguyễn Quang Thiều viết về người cha với một câu thơ khiến gai người: “Tiếng chó lại rộ lên từ đầu làng về ngõ nhà ta/Tóc cha trắng một tiếng cười ngửa mặt” (Tiếng cười). Về điểm này, ở tập thơ “Củi lửa”, hầu như chưa có biểu hiện nào đáng kể mà phải chờ đến các tập sau; càng về sau, nhà thơ Dương Kiều Minh càng rút sâu vào cõi mê, thậm chí nhiều khi mê sảng, bất định, cô độc. Nhưng với Nguyễn Lương Ngọc, ngay từ đầu nhà thơ cũng đã rất sớm nhận ra cái chiều sâu tăm tối, bí ẩn, khó nắm bắt của tâm giới con người. Có hai bài thơ cho đến nay vẫn được xem như thuộc trong số những  bài thơ hay của tập thơ  Từ nước, nhưng vẫn còn là một ẩn số bởi tính mờ nghĩa của chúng: Tiên cảm, và Lời hát. Những câu “Mơ, mơ/Chân đâu/Mình đâu/Buồn tiên cảm hát chân cầu lưu thủy (Tiên cảm) còn cho phép đoán định nét nghĩa nào đấy cho dù cũng rất đỗi mơ hồ. Nhưng đến mấy câu thơ: “Cuộc sống lạnh lẽo sao/Cuộc chết ấm áp sao/ (…)/Yêu không thể giải thích/Chen chúc hoa lên tịch mịch/Yêu không thể giải thoát/A…a…a…A…a…a/ Người là người, ta là ta/Ta là người, người là ta/ A…a…a…A…a…a” (Lời hát), nghĩa hầu như đã chạy trốn khỏi mọi thăm dò, đoán định  của người đọc. Biểu đạt miền tâm giới mơ hồ bất định, trong số ba nhà thơ này, Nguyễn Lương Ngọc là người đi xa nhất.

Như vậy, dò tìm và gọi lên thành thơ cõi tâm linh với nhiều tầng bậc và sắc thái của đời sống tinh thần là một trình độ chiếm lĩnh nhận thức về con người, là sự chối bỏ dứt khoát cái nhìn duy lý và thô sơ về con người được phô diễn bởi ý thức hệ và sự vụ lợi trước đó. Đây là điểm cốt tử làm nên nét khác biệt bản chất giữa thơ của ba nhà thơ này, những người tiên phong của thế hệ sau 1975, đối với thơ của các bậc đàn anh trong thời kỳ chiến tranh trước 1975. 

3)Thứ ba, về lối viết,  thơ của ba nhà thơ này đã  lần lượt phá vỡ tính nhân quả, sáng rõ, từ chối lý tính, thiết lập những liên tưởng xa, bất ngờ, coi trọng khoảng trống, tính mơ hồ. Về điểm này, tập Củi lửa chưa đi được xa hẳn, mới thấp thoáng. Phải chờ đến Nguyễn Lương Ngọc và Nguyễn Quang Thiều, mỗi nhà thơ mỗi cách, đem đến những lối kiến tạo câu/đoạn thơ rất biến hóa, phóng túng. Cả hai nhà thơ này không hề tìm đến thơ cách luật truyền thống (thơ 7, 8 chữ theo lối Đường thi/ cổ phong/hành,  thơ lục bát), mà tất cả một lối thơ tự do với nhiều biến ảo, và một vài bài thơ văn xuôi như cố ý chen vào. 

Nguyễn Lương Ngọc, ngoài những bài thơ rất lạ đi theo tinh thần tạo lập khoảng trống, liên tưởng bất ngờ, mơ hồ hóa về nghĩa (Tiên cảm, Đàn giang), có một ca đặc biệt: bài “Lời hát” (đã dẫn ở trên)  rất gần với “thơ con âm”, gần với trò chơi, mang hơi hướng ma thuật…Các câu thơ có vẻ như rời rạc, không gợi lên ý nghĩa xác định nào, đặc biệt âm “a” vang lên, kéo dài, lặp lại, thuần túy âm thanh, như tiếng kêu, siêu ngôn ngữ. Ấy thế mà lại ám gợi. Có phải là tiếng kêu tuyệt vọng của con người trước cõi bí ẩn vô cùng của cái sống cái chết, cái thực tại và cái hư huyền…

Nguyễn Quang Thiều đã thiết tạo một thế giới thi ảnh trùng điệp của những tương quan so sánh thông qua mối nối của quan hệ từ “như”. Xin dẫn vài ví dụ trong  rất nhiều trường hợp: “Sông Đáy chảy vào đời tôi/Như mẹ tôi gánh nặng rẽ vào ngõ sau mỗi chiều đi làm về vất vả”, “Năm tháng sống xa quê tôi như người bước hụt/Cơn mơ vang tiếng cá quẫy tuột câu như một tiếng nấc”, “Cho đôi mắt nhớ thương của tôi như hai hốc đất ven bờ…”, “Mẹ tôi đã già như cát trên bờ” (Sông Đáy); “Những chiếc dậm đan bằng tre trên vai họ như vầng trăng khuyết từ bùn vớt lên/Những cái giỏ bên hông như những cái đầu trọc lắc lư theo nhịp bước, “Họ lặng lẽ đi như đội quân thất trận”, “Những tấm áo rách sặc mùi bùn phơi trong lòng dậm như cờ ngày việc làng giã đám” (Trên đại lộ), vv…Cách làm này, thoạt nhìn bề ngoài dễ khiến ai đó cho là bị khẩu ngữ hóa, thừa chữ “như”. Nhưng ở Nguyễn Quang Thiều, chữ “như” và các cặp quan hệ so sánh đó lại có cái lý của nó. Sự xuất hiện dầy đặc các tương quan như vậy không gì khác hơn là cuộc đua tranh với tạo hóa của thi sĩ nhằm biểu đạt cho được những trạng thái muôn màu muôn vẻ của đời sống. Nếu vế so sánh không có gì mới so với những gì đã có trong nền thơ thì không có chuyện để bàn, nhưng ở Nguyễn Quang Thiều, vế so sánh trong mối tương quan với vế được so sánh bao giờ cũng hiện lên hết sức mới mẻ, bất ngờ, độc đáo, ấn tượng. Điều này làm cho các câu thơ mang phẩm chất mới lạ, tinh khôi, riêng khác. Nếu ai đó tiến hành một bảng thống kê về các tương quan hình ảnh trong hình thức so sánh, ví von sẽ thấy được một cường lực liên tưởng mạnh mẽ, một trữ lượng hình ảnh thực tại giàu có đến kinh ngạc, từ đó cũng xác quyết tính độc quyền của hệ thống thi ảnh mang tên Nguyễn Quang Thiều. Các bài thơ của Nguyễn Quang Thiều đều chan chứa những vẻ đẹp phong nhiêu, phồn thực của hình ảnh thuộc về  thực tại lẫn tâm linh. Chỉ cần mấy câu thơ này thôi đã là một xác quyết mạnh mẽ cho lối thơ Nguyễn Quang Thiều mà các nhà thơ trước đó không thể có được: “Ta gặp cha ta năm người hai mươi tuổi/Dưới những nhát búa cùn/Từng khúc xoan tươi toác ra tiếng cười của lửa” (Mười một khúc cảm). Câu thơ cuối cùng với 10 chữ đã bao quát cả một quá trình của sự sống nhờ sự liên tưởng hết sức bất ngờ, mới lạ đến kinh ngạc. Nó là kết quả của cảm giác có tính siêu việt về thực tại, phi logic, phi thời gian, xuyên thấu, dồn nén. Câu thơ biểu thị một hiện đại tính trong toàn thể câu chữ, hình ảnh. Thơ hiện đại Việt Nam phải chờ đến thế hệ này mới có được những câu thơ tân kỳ, mang tính quốc tế đến vậy.

Đến đây, một câu hỏi được đặt ra: tại sao đến lúc này, thơ lại hướng mạnh mẽ vào cõi tâm linh, tâm giới đầy bí ẩn, bất ngờ đến kinh ngạc như vậy? Câu trả lời nằm ở chỗ: các nhà thơ trẻ lúc bấy giờ đã vỡ lẽ ra một điều mà thế hệ các nhà thơ lớp trước do giới hạn lịch sử không nhận ra (hoặc có nhận ra nhưng cũng không dám theo đuổi) rằng, sự sống luôn luôn phức tạp, phong phú, bí ẩn vô cùng vô tận và bất khả tri. Cùng với ý thức chi phối đời sống, lại còn thế giới của cái vô thức, tiềm thức, cái bản năng; cùng với tính nhân quả trực tiếp, sáng rõ, cắt nghĩa được còn là phi nhân quả, phi tuyến tính, đa chiều, bất khả giải…Trong nền văn học chiến tranh từ sau 1945 đến quãng những năm 80 của thế kỷ XX, chưa có một thức nhận nào khả dĩ thăm dò vào những vùng mờ tối của cõi tinh thần như vậy. Tất cả đều hiện lên dưới ánh sáng của lý tính mạch lạc, sáng sủa, tuyến tính, đơn chiều, và nhờ vậy, tất cả đều dễ hiểu. Về cơ bản, nền thơ trước 1975 là một nền thơ của sự dễ hiểu.

Khi xuất hiện những bài thơ như: Từ nước, Vẽ chim, Tiên cảm, Lời hát, Đàn giang (Nguyễn Lương Ngọc), Cái đẹp, Bầy kiến qua bàn tiệc, Trên đại lộ (Nguyễn Quang Thiều)…, người ta nhận thấy chúng đã từ chối mọi cắt nghĩa thô thiển của những thói quen đọc thơ dễ hiểu, công khai trình hiện một lối thơ của những vùng nghĩa mơ hồ. Đến các nhà thơ trẻ này, mơ hồ như một phẩm tính thơ ca mới được quyền sống chính đáng . Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều, vào thời điểm ấy, đã cấp hộ chiếu chính thức cho tính mơ hồ hiện diện công khai và kiêu hãnh trong cõi thơ[x].

Chưa phải đã chỉ ra và cho thấy hết những điểm đặc sắc, mới lạ theo tinh thần cách tân có được ở mấy tập thơ của ba nhà thơ này, nhưng với những gì đã phân tích ở trên đủ cho phép khẳng định ba nhà thơ này là những người đầu tiên đã có những mối bận tâm khác và cách biểu đạt khác hẳn cho với lớp nhà thơ trước 1975. Kể từ sau 1975, đi qua quãng lặng hơn mười năm ngưng đọng, đến 1989 thơ Việt Nam đã có một đợt sóng cách tân đầu tiên tươi mới, trẻ trung, khác biệt, để rồi chỉ ít năm sau nữa thôi, cả một thế hệ thơ ca lần lượt xuất hiện, bứt phá, cùng nhau tạo nên một hệ mỹ học mới.

3.Những đợt sóng gối nhau

Chính họ chứ không ai khác, ba nhà thơ này tiếp tục bùng nổ bằng  các tập thơ tiếp theo mà ở đó, người đọc chứng kiến những bài thơ xuất sắc nhất của chính họ và của nền thơ đương thời.

Nếu Dương Kiều Minh trong veo hồn hậu ở Củi lửa, thì đến các tập Dâng mẹ, Những thời đại thanh xuân, Ngày xuống núi, Tựa cửa, Tôi ngắm mãi những ngày thu tận, Khúc chuyển mùa, càng ngày thi cảm của anh càng rút sâu vào bản thể với những cơn mơ, những ám ảnh cái chết, những nỗi cô đơn có phần giá lạnh, tuyệt vọng. Bút pháp thơ anh ngày càng đa dạng hơn, biến hóa hơn. Những bài thơ như Chào bản Giốc, Phố Bưởi, Gửi con gái Nhật Ngân đầu xuân 2010, Trăng xuân, Vừa giấc mơ dịu dàng đậu xuống ở các tập thơ sau này thuộc phần tinh hoa nhất của thơ Dương Kiều Minh cả về thi cảm lẫn thi pháp[xi].

Nguyễn Lương Ngọc liên tục vận động, biến hiện, đa dạng và hoàn tất thi pháp của mình ở Lời trong lời (1994). Đến tập thơ này, tác giả đã tỏ ra hết sức tự tin, thoải mái trong những chiêu thức của mình. Anh đã có những thi phẩm đỉnh cao, không chỉ của chính anh, mà là của nền thơ cùng thời: Gọi hạc, Những cúc, Một cái ngủ, Liên bút từ sen. Ở đây, độ chơi ngôn từ của anh đã đạt tới mức cao cường. Ngôn ngữ cũng ảo diệu hơn, tâm linh hơn, nhòe mờ hơn. Nó đã rất xa thế giới của thực tại mặt đất, của những cái thông thường để đi vào thế giới của cái siêu việt, siêu linh mang dấu hiệu rõ rệt của triệu chứng hậu hiện đại.

Nguyễn Quang Thiều sau Sự mất ngủ của lửa là các tập Những người đàn bà gánh nước sông, Nhịp điệu châu thổ mới, Bài ca những con chim đêm, Cây ánh sáng, đó chính là con đường làm giàu có và hoàn mỹ hơn những phẩm chất đã có ngay từ Sự mất ngủ của lửa. Vì thế, hồn thơ này đạt tới độ vạm vỡ, tươi mới, liên tục biến hóa, không chịu cũ.

Từ đợt sóng đầu tiên, các tác giả đã đi tiếp con đường của mình, có tác giả đã đi xong do định mệnh bắt phải vậy. Giờ đây, Nguyễn Quang Thiều là tác giả duy nhất còn lại đi ra từ đợt sóng đầu tiên để vỗ sóng tiếp vào nền thơ Việt Nam đương đại.

Tuy nhiên, nếu chỉ có ba nhà thơ này sẽ không có một nền thơ đa dạng, phong phú và nhiều thành tựu như ngày hôm nay.

Chỉ sau ít năm của đợt sóng đầu tiên, có tác giả gần như đồng thời, đã xuất hiện một lứa các nhà thơ cộng hưởng và góp sức. Người ta thấy nhất loạt những giọng nói của Mai Văn Phấn, Nguyễn Bình Phương, Trần Quang Quý, Trần Anh Thái, Giáng Vân, Trần Tiến Dũng, Trần Hùng, Trương Đăng Dung…Cho đến thời điểm này, Mai Văn Phấn đang rất cường tráng, biến hóa, và hội nhập. Trương Đăng Dung giàu tư tưởng và hiện đại. Trần Hùng trong lành và tươi mới. Có thể nói, thế hệ các nhà thơ tiếp liền với thế hệ trước  1975 khá đông đảo, và mỗi người một sắc thái góp phần tạo dựng một nền thơ đa dạng, nhiều thành tựu, khác hẳn trước đó, góp phần đưa nền thơ Việt Nam  có được một vóc dáng mới, đa giọng điệu, hội nhập.

Tiếp lứa thơ này là các thế hệ tạm gọi theo cách ước lệ: 7X, 8X. Họ cũng mang niềm tự trọng và kiêu hãnh không kém các thế hệ đi trước. Họ cũng vật vã cách tân, muốn làm mới hơn những gì đã có. Họ hội nhập thế giới mạnh mẽ hơn bằng tất cả ưu thế của chính mình và thời đại mình. Cứ thế, họ lại làm nên các đợt sóng tiếp theo, có khi dữ dội hơn, mang những trữ lượng phù sa khác trước, cùng với những hệ lụy khác trước.

Tuy nhiên, với một cái nhìn khách quan và mang tính quá trình, không thể không ghi công cho đợt sóng cách tân đầu tiên, mang tinh thần tiên phong, đột khởi với ba nhà thơ Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Nguyễn Quang Thiều.

Cự Lộc, 3/3/2016

VG     



[i] Ý kiến của nhà thơ Dương Kiều Minh: “Xin nói thẳng một điều: Sáng tạo thi ca của Nguyễn Lương Ngọc chưa được Hội Nhà văn Việt Nam đánh giá một cách công bằng. Hầu như tất cả những nhà thơ có vai vế và có quyền định đoạt trong làng thơ Việt Nam thờ ơ trước tác phẩm của nhà thơ đầy nhiệt huyết sáng tạo này (…). Tiếc rằng, khi anh mất, nhiều bạn bè công tác tại Hà Nội và có điều kiện đang nắm giữ những vị trí ở các diễn đàn báo chí văn chương, đã viết về anh, nhưng chỉ nói những câu chuyện về những sinh hoạt của anh trong mối quan hệ với bạn bè văn chương, mà chưa thấy nhắc đến đúng mức vị trí sáng tạo của anh trong nền thơ của nước nhà, nhất là vai trò của anh trong lớp các nhà thơ xuất hiện sau năm 1975” (“Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc như tôi đã biết”, in trong ”Nguyễn Lương Ngọc, thơ và người”, NXB Hội nhà văn, 2006).

Còn ý kiến của nhà thơ Giáng Vân: “…tôi muốn khẳng định với Ngọc và với độc giả yêu thơ rằng: Thơ Nguyễn Lương Ngọc có một vị trí đáng kể trong nền thơ Việt Nam đương đại bởi một dấu ấn, một con đường riêng, giàu tính nhân văn và hiện đại. Nếu ai không tin, xin hãy đợi sự thử thách và sàng lọc của thời gian” (“Nhớ Nguyễn Lương Ngọc”, Sđd).

Cho đến bây giờ, sau 10 năm, ý kiến của hai nhà thơ này càng tỏ ra thuyết phục.

 

[ii] Đọc bài “ Dương Kiều Minh- Người chưa chạm tay vào giải thưởng” của Hiền Nguyễn, lược thuật về Tọa đàm “Dương Kiều Minh trong diễn trình đổi mới thơ đương đại” tổ chức tại Khoa Viết văn-Báo chí, ĐH Văn hóa Hà Nội 26/5/2012 (http://toquoc.vn/Sites/vi-vn/details/49/doi-song-van-hoc/107644/duong-kieu-minh-nguoi-chua-cham-tay-vao-giai-thuong.aspx)

[iii] Từ năm 1979 đã có bài “Về một đặc điểm của văn học và nghệ thuật ở ta trong giai đoạn vừa qua” của Nhà NCPB Hoàng Ngọc Hiến như một tiếng nói khẩn thiết dóng lên hồi chuông đổi mới văn học. Có điều, vào thời điểm lúc bấy giờ, bài viết này không được giới quản lý văn nghệ ủng hộ, cũng vì thế không được cộng hưởng bởi những người trong giới và công chúng. Tuy nhiên, tư tưởng của bài viết vẫn âm thầm sống và gây ảnh hưởng lên một số người trong giới văn học.

[iv] Có một số ý kiến khi hình dung về nền thơ ca Viêt Nam sau 1975 dựa trên trục cách tân, đã chia ra làm ba loại thơ: thơ truyền thống, thơ truyền thống cách tân, và thơ cách tân. Theo cách phân chia này, một số  nhà thơ cách tân thế hệ thời chiến trước 1975 này thuộc trường hợp  thứ hai.

[v] Đọc bài của Chu Văn Sơn: “Ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ (Nghĩ về Trúc Thông và cách tân thơ)” (Tạp chí Thơ, tháng 11-2015).  Do bài viết của nhà NCPB Chu Văn Sơn dài, tôi xin tóm tắt thật gọn lập luận chính của ông: Trúc Thông là trường hợp cách tân tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trước 1975 do ông thiết lập được một thế giới nghệ thuật riêng thể hiện trên mấy luận điểm: 1)Quan niệm nghệ thuật (hay “hệ điều hành mỹ học”) chi phối việc kiến tạo thế giới nghệ thuật của ông là nhà thơ quan tâm và tha thiết đến thế giới của cái : TRONG, ĐẠM; 2) Từ đó, ông thiết lập một thế giới của Cái Đẹp mơ hồ; 3)Theo đó, nhà thơ tìm đến các thủ pháp “thơ LỤA”, nghĩa là mơ hồ hóa (xa xôi hóa không gian và xa xưa hóa thời gian), tối giản, gợi, hệ chữ dịu êm. Tất cả làm nên một Trúc Thông khác, mới lạ, riêng, cách tân, tác động vào công cuộc cách tân thơ Việt.

[vi] Từ đây, tất cả các trích dẫn thơ của ba nhà thơ này đều được lấy từ bốn tập thơ được khảo sát như đã nêu trên.

[vii] Ở tập thơ sau mang tên “Lời trong lời” (1994),  trong bài “Gọi hạc”, Nguyễn Lương Ngọc có những câu thơ khiêu khích hơn, gây ra nhiều tranh cãi, và cũng gây ra không ít khó chịu cho một số người: “Hạc trắng!/Hạc trắng!/những con đã sinh ra thì đã chết/nhưng con chưa chết thì chưa sinh ra”. Mặc dù có vẻ không dễ hiểu, mấy câu thơ vẫn nằm trong động lực cách tân mạnh mẽ, thường trực  của nhà thơ đã có từ các tập thơ trước.

[viii] “Lời mở sách”, in trong “Sự mất ngủ của lửa”, (NXB Hội nhà văn-Liên Việt tái bản lần thứ nhất, 2015).

[ix] “Lời mở sách”, sách đã dẫn

[x] Tinh thần thơ của cõi mơ hồ này đã hiện diện khá mạnh mẽ với những sắc thái đa dạng khác nhau ở các nhà thơ Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Cung, Dương Tường, Đặng Đình Hưng, Hoàng Hưng. Nhưng vào thời điểm 1988-1991 các tập thơ của các tác giả này chưa ra mắt bạn đọc: Bến lạ (Đặng Đình Hưng, NXB Văn nghệ TPHCM, 1991): Ngựa biển (Hoàng Hưng, NXB Trẻ, 1988),  Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng, NXB Văn hóa thông tin, 1993), Về Kinh Bắc (Hoàng Cầm, 1992), Cổng tỉnh (Trần Dần, 1994), Bóng chữ (Lê Đạt, NXB Hội nhà văn, 1994); Xem đêm (Phùng Cung, NXB Văn hóa thông tin, 1994). Vì thế, cũng không dám nói rằng các nhà thơ của đợt sóng cách tân đầu tiên sau 1975  đã chịu ảnh hưởng từ các cách tân “trong bóng tối” này.

[xi] Xem bài “Dương Kiều Minh-lữ thứ đời, lữ thứ thơ”, in trong tập “Người khác và tôi” (Văn Giá, NXB Hội nhà văn, 2013.

--

 

(Nguồn: Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 843 , cuối tháng 4/2016. Chúng tôi sử dụng bản đầy đủ do tác giả cung cấp)

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN TIẾP THEO

 


 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com