Bạc già

(Truyện ngắn của Nguyễn Văn Toan)          

              Cũng trong ngôi nhà của lão Kỉn, tôi lại nghe lão và mấy tay hàng xóm nói chuyện về bà ké ấy. Bà Ẳn. Chỉ khác lần này là trong gian bếp của lão và trong đám ma của bà ké.

                  Lão Kỉn cũng là người Dao, lão còn là họ hàng với bà ké. Lão tuổi trên dưới năm nhăm nhưng tóc đã bạc hết. Người nhỏ thó và lão lại thêm tính huênh hoang, lão luôn tự mãn với chức công an viên của mình. Cái chức vụ mà lũ trẻ trong xóm  người Dao này vẫn gọi mỉa mai gọi là “Cảnh sát thôn”. Ngoài bộ đồng phục ngày nào cũng mặc, lão có một bà vợ, một đứa con nuôi, một anh con rể và một tủ hàng bệ rạc để ngay trong nhà, mà với khả năng của lão chỉ càng ngày khiến nó eo ót đi. Nhà lão bán rượu là chạy nhất, mà lão thì ưa uống rượu, đấy là lẽ đương nhiên. Đàn ông ai chả ưa chai rượu, đàn ông người Dao lại càng mê hơn.

       Tôi gặp lão lần đầu khi đến trụ sở xã để liên hệ công việc và xin tạm trú, đúng buổi đấy lão cũng đi giao ban. Thôn tôi xin ở lại là thôn của lão. Thế là tôi nằm dưới quyền chủ quản của lão - như cách nói của lão sau này. Buổi đấy tôi mời lão và mấy ông trong xã đi ăn uống một bữa gọi là. Khi biết tôi đến từ quê cũ lão chẳng buồn hỏi han gì. Mảnh đất tôi đến lần này thuộc một xã vùng ba của huyện Bắc Mê. Tôi làm dự án trồng rừng cho một tay là con rể của một người có chức sắc trong tỉnh. Việc của tôi là đi vào những nơi xa xôi trước đây vốn lắm cây nhiều gỗ, nhưng đã được người ta “dọn dẹp’’, sau đó trồng những mầm xanh nhợt nhạt lên đó. Công việc cực khổ lại chẳng lấy làm vinh quang như tên gọi, được cái lương đảm bảo cho một trai trẻ mới ra trường, và chưa kiếm được việc hợp chuyên môn như tôi chịu khó dấn thân. Nói vậy nhưng thực ra công việc của chúng tôi chẳng mấy vất vả nếu biết thu xếp. Ban đầu đến thực địa, rồi chia nhau vào bản sau đó là say sỉn, và rồi mỗi thằng lôi về một danh sách người làm thuê mà mình tìm được. Nhận việc rồi tìm người làm cho mình phần nặng nhọc, đấy là mánh khóe tôi học được từ đàn anh đi trước. Mà ở những vùng heo hút này kiếm dăm ba người khỏe mạnh cần những đồng tiền rẻ mạt chẳng khó gì.  Trong đám làm thuê chặt cây cho chúng tôi có Keng, anh ta là con rể lão Kỉn. Anh ta hay chuyện và ngược hẳn tính bố vợ, từ khi biết tôi là người Phương Độ, anh ta mấy lần mời tôi sang nhà vào buổi tối.

        Keng mời nhiều nên tôi cũng không tiện từ chối. Buổi đầu tiên chúng tôi đến theo lời mời, thấy chúng tôi đến lão Kỉn ra chào hỏi sơ rồi đi loanh quanh trong nhà, ra bếp ra dáng bận rộn. Thảng sau khi anh con rể đã pha chè xong lão lượn qua nhấp ngụm nước chè đỏ lòm, rồi nói vài câu xong lại đứng lên. Lúc sau thì lão đi  hẳn, trước khi đi không quên thò đầu vào bếp truyền lệnh cho anh con rể làm các thức cho nhanh. Đến bữa lão có bớt lạnh nhạt đi, ấy là khi bất kỳ thằng nào trong tổ chúng tôi nâng chén mời rượu lão. Riêng tôi, nể tình đồng hương (lần này thì lão đã nhận) lại thêm tôi là sếp con rể nên được lão mời lại một chén. Sau đó thì lão bỏ mặc chúng tôi với anh con rể, quay hẳn sang với mấy ông hàng xóm à ê toàn tiếng Dao.

      Về sau Keng lại mời tôi sang nhà cơm rượu thêm vài bận nữa, kịch bản lần nào cũng vậy nên dần tôi chối đi nhiều. Hôm đấy Keng đến sớm hơn mọi khi. Lệ thường anh ta bao giờ cũng là người đi muộn, bởi chẳng đêm nào là không ngồi khật khưỡng với dăm ba người và chai rượu. Hóa ra Keng đến xin nghỉ và mời chúng tôi tới ăn tết cơm mới của người Dao. Bữa đấy các thức khá đuề huề, khách khứa cũng đông hơn mọi khi, ngoài mấy ông hàng xóm hiếm khi vắng mặt thì có thêm vài người  bạn của Keng. Rượu hai mâm ngồi liền nhau nhưng vẫn phân già trẻ. Trong khi uống thì khách lại đến thêm, vậy nên Keng cứ phải đứng lên mời đón và lấy bát đũa luôn. Đến sau cùng là một bà lão tuổi ước chừng tám mươi, điệu bộ khỏe mạnh, trên tay bà là cây đèn pin phát ra một thứ  ánh sáng lè kè yếu ớt. Lão Kỉn, vợ lão, hai vợ chồng Keng và những người khách đều vồn vã mời chào bà ké. Bà ké móm mém cười, đưa mắt khắp mâm như đáp lại mọi người rồi mới ngồi xuống cạnh vợ lão Kỉn. Chuyện khách khứa trong nhà người ta thường tôi không để ý nhiều, chào hỏi qua loa là xong. Đận này thì khác, bà ké này khiến tôi không khỏi quan tâm. Với cái tuổi của bà tôi tưởng bà ké chỉ ngồi nhấn nhá mấy hạt xôi, miếng nạc và nghe cánh nhậu nhẹt chuyện. Ấy thế mà nhầm, từ lúc đến hễ ai mâm nâng rượu thì bà cũng nâng, cũng cạn, chả thiếu chén nào.

-          Thợ rượu chính hiệu đấy chú ạ.-  Keng nói khi tôi hỏi về bà ké.

-          Bây giờ vẫn tự nấu rượu, tự bán đấy, lại còn bán đắt nhất cả làng nữa…bao 

giờ chú mua mà uống thử… Bà này nhiều chuyện vui lắm…

        Keng nói xem chừng đã lê tê phê lắm. Anh ta hay rượu nhưng chẳng uống được kiểu vồn vập. Bữa nay khách đông, phần nhiều lại là bạn anh ta nên việc mời qua, chúc lại khó mà từ được. Kiểu uống của người Dao là lai rai, dùng dằng, có khi cuộc rượu chẳng có gì, chai rượu với ấm chè họ có thể ê a với nhau cả ngày, cả đêm mà rất tâm đắc. Keng đang nói với tôi thì có người nâng chén mời, anh ta xin phép tôi rồi đi sang bên anh kia cụng li. Trong đám khách có một người là giáo viên cắm bản. Tay này là khách của Keng và cả bố vợ anh ta. Gã trụ ở bản này bốn năm, tự nhận đã thông tỏ mọi truyện trong bản. Ban nãy khi tôi hỏi Keng về bà ké anh ta đã nhấp nhỏm, giờ được dịp anh ta quay sang tiếp tôi. Chắc hẳn anh ta cũng say không kém chủ nhà nên thông tin duy nhất tôi có được: bà ké cũng là người từ quê tôi đến.

        Không cần hỏi thêm tôi cũng biết họ rời quê hương khi nào và lí do họ bỏ đi. Những năm pháo Tàu thổi sang ấy làng tôi cũng lũ lượt kéo nhau đi sơ tán. Đấy là tôi nghe cha mẹ kể qua chứ tôi đây khi cha mẹ quay về làng mới sinh chẳng biết rặt gì. Tôi chỉ không hiểu vì sao những người Dao này lại chạy giặc đến tận nơi đây. Vẫn biết là chạy giặc, ở đâu an toàn là đến, nhưng chạy tới tận vùng heo hút bậc nhất của đất Bắc Mê này thì tôi không ngờ.

        Mấy hôm sau khi Keng đi làm tôi đem thắc mắc này ra hỏi anh ta. Cái gã con rể ông cảnh sát thôn này ngày thường đã không rời hơi rượu, mấy hôm còn dư âm lễ tết này thì không khi nào tỉnh táo cho cả. Ngoại trừ tật nói ngọng, nhiều câu khó nghe thì xem ra Keng là người kể chuyện khá. Anh ta nói muốn biết câu trả lời chỉ cần biết chuyện của bà ké Ẳn là xong hết.

     - “Cũng khá dài đấy’’- Anh ta nói rồi uể oải buông cào xuống và ngồi lên nó. Tôi cười hiểu rằng cái tôi đền đáp anh ta, chính là để anh ta thoải mái trong buổi làm này. Cả buổi làm hôm ấy tôi ngồi nghe kể về cuộc đời của bà ké, câu chuyện về những tháng ngày xa xôi và huyền hoặc…

      Lúc ấy bà Ẳn mới mười sáu, mười bảy. Ẳn không giống những cô gái cùng bản. Thường cô nào cô nấy bắp chân ngắn tủn đen đúa, mặt sưng mắt xếch. Ẳn thì khác, từ cặp chân dài và dáng người cân đối, dễ ưa đến nước da trắng hồng. Đã vậy cô cũng chẳng hề thua ai trong việc leo núi, xuống ruộng, bốn bên vách nhà và dưới gầm sàn chất đầy củi. Ở thôn Khuổi My này từ trước tới giờ chưa ai có được nhan sắc ấy, và sau này cũng vậy. Ấy là lời những người mê mẩn Ẳn nói với nhau.  Con gái người Dao tầm tuổi Ẳn thường đã về nhà chồng cả, vậy mà Ẳn vẫn chưa đám nào rước, ấy không phải do cô. Nhà chỉ có Ẳn là con gái lại xinh đẹp khác người, cha cô thách cưới con gái cao lắm. Tiền thách cưới đương nhiên tính bằng bạc trắng, bốn mươi đồng bạc trắng là số tiền thách cưới bất kỳ ai muốn có con gái ông phải bỏ ra. Thứ tiền to gấp đôi đồng xu Bảo Đại ấy, cái thứ trắng lạnh xoa vào nhau cứ phát ra tiếng choành choạch ấy, từ lúc Tây về gom hết bạc của dân rồi đúc ra ai cũng mê. Nhưng từng bản người Dao ở tổng này hỏi được bao người có nổi chục đồng bạc ấy. Thế nên trong những cuộc kháo nhau về món tiền thách cưới của Ẳn, những người ác miệng thường nói:

-Bảo thằng bố mê bạc của nó mang con lên mà gả bán cho người làm ra nó.

      Đồng bạc trắng hoa xòe, Ẳn từ khi sinh ra mới được thấy một lần chứ chưa được sờ vào. Vậy mà hôm ấy Ẳn nhìn thấy nhiều, thật nhiều. Từ trong buồng nhìn ra qua phên nứa Ẳn thấy bố mình ngồi tiếp hai người đàn ông. Họ nói những gì cô nghe không hiểu, không nghe rõ. Lúc sau, một người ước chừng bốn mươi năm mươi, cao to mắt như mắt rắn, nâng túi bên cạnh lên rồi dốc ngược nó. Những mảnh bạc tròn xoe rơi xuống giữa bố cô và người kia, bạc trắng lóa sáng cả nhà. Ẳn thấy bố luồn những ngón tay đen đúa vào đống bạc, bàn tay to bè không sao mà vốc hết được. Bạc lạnh rơi, kêu lạch xạch, hai mắt bố cô tròn xoe. Thế là Ẳn về làm dâu thôn Nà Thác dưới chân đồn Tây. Người dám bỏ ra đống bạc là lão Cùi, lão cưới cô về cho thằng con. Chồng Ẳn là thằng Dùi nó mới mười ba tuổi. Ngày đón dâu nó nhìn thấy Ẳn nó đừ người ra, nó mê cô. Lão Cùi hai đời nhà lão theo Tây mót bạc, bố lão chết đến lão. Lão biết tiếng Kinh, tiếng Tày; quan Tây cho lão quản việc trong các bản người Dao. Vốn tính gian xảo, lại hết lòng khúm núm, phục dịch quan Tây nên lão càng được tin tưởng, càng có nhiều bạc trắng.

      Đêm đầu tiên về làm dâu, thằng Dùi uống say ngất rồi mới dám chui vào buồng với cô. Nó thấy cô không nằm mà ngồi thu một góc mà khóc nó chẳng biết nói gì, làm gì. Thế là nó lăn ra ngủ. Sau đám cưới, Ẳn với chồng lúc chăm lúa, lúc lấy củi nhưng chẳng nói chuyện với nhau. Xong việc Dùi chỉ nói “về thôi”.

      Hai tháng sau lão Cùi bắt dâu con làm cỗ, nói để thết quan Tây. Lão sai mổ trâu, mổ lợn, gà, hôm đấy tiệc còn lớn hơn bữa cưới Ẳn về. Đến chiều tối lão gọi cô ra một góc, rồi bảo cô tắm rửa thay quần áo đẹp vào. Ẳn không nghĩ gì chỉ gật đầu rồi làm theo lời bố chồng. Gà lên chuồng thì quan tây và tùy tùng xuống ăn cỗ. Ẳn phải ra tiếp rượu quan Tây với đám gái bản bố chồng gọi về. Cô mặc áo tự may, áo đen viền đỏ, khăn đính bạc đến là đẹp. Bố chồng bắt Ẳn ngồi cạnh quan Tây, bắt chuốc rượu cho quan. Ẳn đã trắng, đã đẹp, uống rượu vào càng đẹp. Ẳn ngồi bên quan Tây: mặt mày, chân tay đầy lông lá to kềnh thực không khác nàng tiên bên con trâu đực. Đến khi quan Tây ngà ngà say, một tay nâng chén chuốc cho Ẳn , mồm nói “bông hoa của núi rừng”, tay kia lông lá đặt lên đùi Ẳn; thì gian dưới người ta cũng thấy lão Cùi một tay túm vai thằng con, một tay vả vào mặt nó. Lũ lính Tây say xỉn thấy cảnh ấy thì cười hô hô. Ẳn sợ quá đánh rơi cả chén rượu, vùng đứng lên chạy vào buồng. Quan Tây vẫn ngồi ngả người với theo túm chân cô, quan say vồ trượt lăn kềnh ra nền cười sằng sặc. Ẳn khóc như mưa. Lão Cùi thấy vậy sai người nhà tống thằng con xuống dưới, xong lão xộc vào buồng con dâu bắt ra tiếp rượu quan. Bọn lính Tây đang ngả ngốn cười thấy sếp ngã chúng hè nhau lại đỡ dậy rồi khiêng luôn vào buồng Ẳn. Đêm ấy, sau hơn hai tháng về làm dâu Ẳn mới trở thành đàn bà, nhưng trớ trêu thay người ngủ với cô lại không phải chồng. Từ đấy Ẳn trở thành vật mua vui cho quan Tây. Ẳn không phải làm gì cả, không phải xuống ruộng, lên núi, cả chăn trâu cũng không. Cũng chẳng bị ai trông coi quản thúc. Bởi tờ mờ sáng hôm ấy Ẳn đau đớn bỏ về nhà ôm chân mẹ mà khóc. Cha Ẳn ngồi gục đầu chỉ nói: “ Bạc người ta tao nhận rồi tiêu rồi, mày là ma của nhà người ta rồi’’ Ẳn lại lủi thủi trở về. Lão Cùi để cô tha thẩn ở nhà, chỉ khi nào quan tây xuống thì bắt nấu nướng rồi hầu ngủ quan. Mỗi lần, quan Tây ngủ với cô hắn lại đưa ra một nắm bạc trắng, xoa lên bầu ngực căng tròn, làn bụng phẳng lì của cô. Quan Tây về, Ẳn cứ  mặc những đồng bạc trắng lạnh trên người mình, hai mắt nhìn lên mái nhà, trên đấy một mạng nhện có con bướm từ khi nào đang giãy giụa không sao thoát ra được. Cô cứ nằm vậy đến khi đứng lên mặc quần áo, những đồng bạc bám lấy da thịt cô không khác gì những con vắt không rơi.

       Mấy ngày sau, người ta thấy lão Cùi đưa người nhà theo hai lính Tây đi gom hết thanh niên trai tráng trong các bản người Dao, người Tày rồi đưa họ mở đường lên đỉnh Khau Phạ. Người Pháp, sau khi chiếm Hà Giang thì chia làm các tổng để cai trị, lúc bấy giờ Phương Độ là một trong các tổng ấy. Pháp chiếm đến đâu xây đồn đến đấy. Ở Phương Độ chúng kéo quân lên bản Nà Thác rồi xây một căn cứ nhỏ. Mấy bữa trước quan tổng trấn bắt lão Cùi đưa lên đỉnh núi cao nhất trên bản, đỉnh Khau Phạ. Từ đấy nhìn ra được khắp từ biên giới giáp Trung Quốc, những đồn bốt xung quanh. Quan hài lòng lắm, nói với đám người đi cùng cho xây đồn ở đây thì tốt.  Dân trong tổng từ người Dao đến người Tày, đàn ông trai tráng đều phải lên rừng, xẻ đá, san núi xây đồn cho tây. Công việc cực nhọc không biết đâu mà kể. Rừng thiêng nước độc đã đành lại thêm bị tay sai đánh đập thúc bách, đồn chưa xây nhưng dân chết không ít.

       Đêm nào lão Cùi cũng ôm hòm đựng bạc, vục tay vào đấy rồi mang từng đồng để trên đầu ngón tay, đưa lên sát tai rồi búng. Lão ưa nhất là nghe tiếng bạc ngân, nghe cái tiếng phát ra khi búng ngón tay vào đồng bạc. Lão biết quan tây còn mê con dâu hờ của lão thì bạc già còn đến tay lão nhiều, lão cũng không phải lo người Tày, người Kinh hớt tay trên. Đối với thằng con sau đêm tiệc thết quan lão cho  người đưa nó lên nương thảo quả giữa rừng già, bắt ở đấy trông cấm không cho về. Lão nói vào mặt nó khi nó cự lại “ Mày là con tao, mày không phải lo, tao còn bạc trắng còn cưới được khối vợ cho mày. Lấy cho mày con vợ khác hơn mười con Ẳn”. Thằng Dùi còn nhỏ quá, nhưng nó cũng biết nghĩ, nó biết bố nó cưới Ẳn về là để cho quan Tây. Nó hận nó còn nhỏ, chưa có bắp tay bắp chân cứng như gỗ sến, gỗ lim. Cứ nghĩ cảnh quan Tây lông lá, bò vào buồng nó, dày vò Ẳn là nó sôi máu. Hơn hết khi gặp ánh mắt u sầu của Ẳn nó thấy người run lên uất hận. Bị bố đuổi lên ở giữa rừng già, Cùi không mang cơm gạo gì cả chỉ có con dao với cây nỏ. Đói nó săn thú rừng mà ăn, khát uống nước nguồn mát lạnh. Thi thoảng người ta vẫn bắt gặp nó xuống bản. Nó xuống trộm ngắm vợ nó.

      Ẳn từ ngày trở thành người của quan Tây sống chết chẳng xong, bỏ đi chẳng được. Đến cả ra ngoài cô cũng không dám, cô sợ gặp người ta. Bởi từ khi Tây đến tổng, đàn bà bị ức hiếp không ít nhưng trở thành vật mua vui cho Tây như Ẳn thì chưa có bao giờ. Chỉ những lúc sáng sớm và buổi trưa cô mới ra khỏi nhà, cũng chỉ ra đến bờ suối gần nhà rồi về. Thảng cô thấy có người rình trộm mình sau những bụi cây, ban đầu cô sợ nhưng rồi cô biết đấy là Dùi. Cô gọi nó nhưng Dùi chẳng dám ra mặt.

       Trong cả tổng Phương Độ lúc bấy giờ không có nhiều thợ làm đá. Ngoài vài người khắc bia, đục cối ra thì đám còn lại chỉ biết quai búa là khá rồi. Cả tổng, nhà cửa làm cùng một loại bằng gỗ xưa nay. Tìm thợ xẻ gỗ thì dễ, giờ quan bắt tìm thợ xẻ đá khiến lão Cùi lo lắm, không vừa lòng quan thì nguy. Thế mà cái nguy ấy tới thật, chỉ mấy bữa sau lão thấy lính Tây rong lên một đám người lạ hoắc. Họ ăn mặc xác xơ, mình mẩy người nào cũng hệt cây nứa tép khô, vậy mà khi nhìn vào mắt họ lão thấy lành lạnh sau gáy. Có đường lên, có đá tốt, có phu xẻ quan Tây thúc dục lão Cùi khẩn trương cho người xây đồn. Đỉnh Khau Phạ tít tắp lưng trời, với người trong tổng đó là đỉnh núi cao nhất trên đời. Từ rừng thảo quả đi lên đến đó cũng phải mấy tiếng, chỗ thì cây cối trùng điệp không thấy mặt trời, đồi nào thưa cây thì hổ sói vô kể, đã thế lại quanh năm giá lạnh. Người Dao, người Tày, từ xưa đều nói lên đến đó là tới trời rồi.Vậy nên mới gọi là Khau Phạ - tức sừng trời. Việc xẻ đá làm đúng giữa đông, lúc này bao phủ khắp nơi là những cơn lạnh thấu xương. Dưới các bản trời âm u xám xịt. Trên mỏ đá từ lúc bước vào mùa đông trời cứ mưa không ngớt, lạnh càng thêm lạnh, chim không buồn hót, khỉ chẳng muốn hú. Trời đất khắc khổ vậy người sinh ra ở đây chịu đựng đã cực, những phu xẻ từ xuôi lên cực gấp đôi. Từ mỏ đá lên tới chỗ xây đồn ước chừng một cây số, vừa dốc vừa trơn, lại nhỏ hẹp, khi khuân đá chỉ một người trượt chân, hòn đá từ vai người đó sẽ lăn xuống. Sợ nhất là những đòn roi từ lão Cùi và tay chân lão. Một phần, vì muốn làm hài lòng quan Tây, một phần vì lão vốn ác cảm với những người này. Vậy nên đoàn phu xẻ hơn ba mươi người sau một tháng đã có hai người phải vùi xác nơi núi rừng. Một người chịu cực không nổi đang đêm lẻn trốn đi, chạy chẳng bao xa đã nghe tiếng thét ghê rợn vang khắp rừng rồi im bặt. Người thứ hai chính tay lão Cùi làm chết.

      Trước buổi đấy lão về nhà. Cơm rượu xong xuôi khách về hết, lão đang ngồi bên hòm bạc mân mê chúng, thì Ẳn đi vào rồi đổ xuống trước mặt lão những đồng bạc mới tinh. Bốn mươi đống chẵn rồi cô nói: “Bạc này tôi trả ông tiền sính lễ cha tôi nhận của ông. Ông cho tôi về nhà !”. Con gái người Dao đi lấy chồng gặp nhà tốt thì chăm chỉ làm lụng cung phụng nhà chồng, phải nhà xấu là bỏ về với bố mẹ đẻ không ai chê trách, miễn hoàn lại tiền thách cưới là được. Lão Cùi thấy vậy chẳng buồn nhìn Ẳn, tay vơ bạc bỏ vào hòm xong nói: “Bạc ai cho mày tao không cần biết nhưng mày đã là ma nhà tao, ở nhà tao thì tiền này cũng là của tao”. Ẳn nghe lão nói vậy chỉ biết câm lặng mà về buồng, cô nhìn những đồng tiền còn vương vãi dưới chăn, những đồng bạc sau mỗi lền ê chề thân xác được rắc lên người cô. Những đồng bạc lạnh tanh gặp cơ thể trằng hồng nóng hối của cô cứ bám lấy không rời, vậy mà chúng chẳng giúp được cô thoát khỏi cảnh giam hãm. Ẳn gom một nắm bạc rồi vung nó ra khỏi cửa sổ, không một đồng nào rời tay cô, từ da thịt cô có một hấp lực kỳ dị khiến chúng bị hút lại. Những lúc phải hầu hạ quan Tây, Ẳn thoát y, bạc vương khắp buồng lại tự động lăn về dính vào cô. Cô chẳng tâm trạng đâu để ý, chỉ quan Tây lông lá thấy kỳ dị thì vô cùng thích thú. Ẳn ném bạc, bạc không đi, cô từ từ cởi quần áo trên người. Khi cô trần truồng nằm xuống từ các góc buồng những đồng bạc vô tri động đậy…Bên kia, lão Cùi vẫn đương mê mẩn hòm bạc trắng lóa, dùng dằng không sao đậy nắp hòm được, đúng lúc ấy thì lão gặp chuyện kinh hãi nhất trần đời. Những đồng bạc trên cùng rung lên rồi từng đồng lăn tròn khỏi buồng lão.

       Từ lúc gặp chuyện lão Cùi thức cả đêm không sao ngủ được, trời gần sáng lão thiếp đi. Trong cơn mê mải lão lại thấy mình đứng trước cửa buồng Ẳn, bên trong Ẳn trần truồng và những đồng bạc trắng lạnh bám kín người cô. Rồi Ẳn đứng dậy bước ra cửa, đi xuyên qua người lão mà không bị cản lại. Cô đi xuống cầu thang ánh sáng bên ngoài chiếu vào cô lấp lánh. Lão hoảng hốt chạy theo, nhìn qua anh sáng lóa lão thấy cô cố bóc những đồng bạc trên người mà không được. Hai hàng nước mắt đặc sệt, lấp lánh bạc chảy xuống. Rồi lão thấy cô đi về phía chum lớn để hứng nước từ máng, nước chảy tràn. Cô nhúng tay vào đó bạc rời ra rồi hóa thành nước. Lão Cùi kinh lắm chạy lại kéo cô ra, đổ nước trong chum đi. Lão không thấy bạc ở đáy, giận giữ lão lôi Ẳn đến gần chum rồi bắt cô vào đấy. Lão đậy đá to lên trên, chum động đậy một lúc rồi im. Khi lão vần đá xuống, không thấy Ẳn đâu chỉ thấy bạc trắng tràn chum. Tỉnh dậy lão  không dám đi làm cứ quanh quẩn từ buồng ra gian giữa trước của buồng Ẳn. Lão đang bồn chồn như vậy thì một tên tay chân chạy lên báo có chuyện ở mỏ đá. Lão chỉ kịp ra lệnh cho tên này không cho bất kỳ một ai ra khỏi mỏ rồi đi. Tới bãi đá, đập vào mắt lão là cảnh những người phu xẻ ngồi tụm lại với nhau bên đống đá ngổn ngang. Mấy tên gia nhân chạy lại phía lão, chỉ tay vào một phu xẻ chừng ba mươi tuổi nói: “Chính tên này xúi giục cả lũ ngừng việc”. Lão Cùi tiến về phía kẻ đó, cả khu mỏ đá im phăng phắc, chưa một ai từng nhìn thấy một lần khuôn mặt lão lúc này. Người phu chưa kịp thốt hết lời định nói, một tiếng “binh” khô khốc vang lên, thân hình gầy còm của anh ta bắn văng ra xa rồi rơi xuống đống đá. Những người phu bật dậy, có tiếng súng chỉ thiên. Lão Cùi mặt trắng như người chết rồi, chĩa súng vào đám phu đang sục sôi gằn lên từng tiếng: “Lũ chúng mày đứa nào làm phản tao bắn, tao giết!”. Lúc sau, quan Tây và lính đến, mọi sự đã dịu đi. Buổi làm việc hôm đấy chỉ những phu trong tổng đi làm, phu từ xuôi lên được gom về lều tạm. Nguyên đêm ấy, sau những ngày chịu đựng cực khổ, và sự đối sử tàn tạ của lão Cùi, một người trong đám phu xẻ đá bỏ trốn trong đêm bị thú vồ chết. Đám phu xin tay chân lão cho người nghỉ tìm xác bạn. Lão đang uống rượu ở nhà chỉ nói “không cho thằng nào đi đâu cả”. Sáng sớm, họ lại xin với đám tay chân lão không được nên xúi cả phu trong tổng đình công. Nếu là một ngày khác lão sẽ không tự mình xuống tay, và cũng không mạnh tay như vậy. Đến chiều tối thì người phu kia chết, máu từ cơ thể gầy gò cứ chảy ra từ đầu anh ta sau cú va đập vào đá sắc. Những người phu khốn khổ đề nghị với tổng trấn phải phải tôn trọng tính mạng của họ, và chấm dứt sự đối xử tồi tệ của lão Cùi với họ. Những yêu cầu của họ phần nào được đáp ứng. Lão Cùi bớt đánh đập họ, nhưng với bản tính đa nghi gian xảo lão lờ mờ thấy đám này có dấu hiệu lạ, và nghĩ cách hạn chế bọn họ tiếp xúc với phu trong tổng.

       Hơn một năm số đá cần để xây đồn mới được chuyển lên hết. Lúc này không một ai trong tổng dám nghĩ đến chuyện Tây sẽ bị đuổi ra khỏi vùng đất này. Người Pháp càng không tin có chuyện đó. Ẳn về làm dâu hờ cho nhà lão Cùi, ê chề làm vật mua vui cho quan Tây hơn một năm, thì thấy quan tây bớt xuống dày vò mình hơn, khi xuống cũng không còn mang bạc rắc lên ngươi cô nữa. Cô thấy lão Cùi cũng không hay vắng nhà như trước, công nợ xưa nay lão đều cho người đi đòi về cả. Đối với Ẳn lão cho người quản chặt hơn. Trước lão chẳng bận tâm mỗi khi sáng và trưa cô hay ra suối gần nhà, giờ không cho đi nữa. Đó là những ngày tháng người Nhật với thanh kiếm của họ đã lên tới Hà Giang. Người Pháp cao to, súng ống đầy đủ không dám làm gì họ. Thóc lúa thu của dân ta, người Nhật đòi lấy Pháp không dám không cho. Nhật sờ đầu Pháp, Pháp lại đè đầu dân ta, khổ lại thêm khổ. Cả Vị Xuyên và các tổng lân cận lúc này người Nhật đều có ở, duy còn tổng Phương Độ chúng chưa cho người đến. Tổng trấn và tay sai chưa bị o ép nhiều, nhưng dân thì đã khổ lắm, lúa gạo làm ra không kịp cho Pháp thu, Nhật cướp nói gì đến ăn. Phải vào rừng, săn thú không được thì đào củ mài mà ăn, đào củ mài hết thì ăn củ nâu, ăn lõi cọ.

       Thế rồi người Nhật cũng xuống tay với người Pháp. Khắp tổng truyền tai nhau rằng: “Tây ở trong lô cốt thò ra một thằng thì Nhật lấy kiếm đâm chết một thằng”.

      Tổng trấn và tùy tùng như cá nằm trên thớt, còn đâu mà nghĩ đến chuyện chống lại, chỉ còn một đường trốn sang Trung Quốc. Lão Cùi được gọi lên để thu dọn đồ đạc cho quan, lẽ thường quan cho lão đi trốn cùng. Nhưng ấy là ý quan, còn lão từ lúc người Nhật lên Hà Giang, rồi thấy người Pháp khúm núm với chúng, lão bỏ một buổi đi xem người Nhật là loại gì mà khiến Tây đen, Tây trắng sợ. Đến khi nhìn thấy một lũ người thấp tè vàng ủng như mình, trần truồng tắm ở sông Lô thì trong đầu lão nghĩ về thằng Tây đã khác. Lão không khinh ra mặt, nhưng đã tính trước chuyện có ngày hôm nay. Lão đã có chủ ý riêng. Thế nhưng mọi tính toán của lão đều đổ bể. Khi đã thu dọn xong đồ cho quan, lão xin về nhà dọn đồ mình rồi mang Ẳn chạy cùng với quan. Quan Tây đồng ý giục lão đi sớm. Lão dắt dao đi  đến gần khe xẻ đá thì bị một đám người nhảy ra đè ghì xuống.

        Đó là đám phu mà bấy lâu lão hành hạ. Tây lo chạy chết không quản lũ này, đến lão cũng bấn lên quyên phéng chúng.

      Họ trói gô lão lại rồi năm người được giao giải lão xuống bản. Nhóm kia gậy gộc hè nhau đuổi theo Tây, họ hẹn nhau ở nhà lão. Lúc này đang mùa thu, trời không một gợn mây, rừng núi hanh hao vàng. Bỗng nhiên mây đen phút chốc từ đâu kéo về, những cánh rừng nhanh chóng chìm vào bóng tối âm u dù đang trời chiều. Khi nhóm người đến cánh rừng sau nhà lão, họ trói lão vào gốc cây sồi đang ngả ngốn trong mưa gió. Sau đó họ chia nhau bao vây nhà lão. Lão Cùi sớm đã đề phòng bọn người “Việt Minh”, vậy mà chỉ chút sơ hở mà ra nông nỗi. Lúc này chỉ còn biết nghĩ tới sự trả thù của chúng, lão gục đầu căm hận, sợ hãi tột độ. Đúng lúc ấy thì lão thấy dây trói lỏng ra, lão chúi người về phía trước. Khi ngẩng đầu lên, qua màn mưa lão thấy một người trẻ tuổi cao lớn đứng trước mặt mình. Không ai khác chính là thằng Dùi, nhưng giờ đã khác lúc lão đuổi nó vào rừng lắm.

       Chưa kịp nói gì lão đã nghe nó nói: “Ông đi khỏi đây đi, họ không tha ông đâu! Quan Tây của ông bỏ chạy, tôi đã bắn mũi tên vào tim nó rồi”

      Lão nhìn thằng con rồi nói:

     - Mày là con tao, chúng nó cũng không tha mày đâu.

     - Tôi biết, những người đi đào củ mài đã nói cho tôi biết rồi, vậy nên tôi đến đón vợ tôi đi đây.

       Dùi nói xong thì chạy xuống nhà, lúc này trời mưa tầm tã ,nước trút lá trôi, sấm chớp chằng chịt như muốn xé trời ra. Trên nhà lửa bếp sáng rực, hai người thân cận lão Cùi đã bị đánh gục. Những người phu kia đang lục tìm đồ đạc. Ẳn vẫn bị nhốt trong buồng. Khi Dùi lên nhà, đám phu không nhận ra nó, lúc sau một người Dao trong họ mới nhận ra. Lửa từ bếp sáng rực, bọn kia xúm vào vây quanh Dùi. Khi họ định bắt nó thì ván dưới chân họ rung lên rồi gẫy đôi. Chỉ trong một ánh chớp lóe lên, lão Cùi đã hạ gục nhóm phu đang choáng váng sau cú rơi xuống gầm sàn. Nền đất ngổn ngang xác người và ván. Dùi chạy lên nhà phá cửa buồng . Ẳn sau phút bàng hoàng nhận ra Dùi.

      - Không ở đây được nữa, Ẳn đi với tôi !

       Dùi nói, rồi không để cô trả lời, nó lôi cô đi. Lúc này lão Cùi cũng đã ở trên nhà, lão xục ngay vào buồng lật tung chăn chiếu lên tìm bạc trong đó. Rồi như sực nhớ điều gì lão xách túi bạc chạy đuổi theo Dùi và Ẳn. Ngoài trời mưa to hơn, nước đã chảy tràn cả nền nhà, gió mạnh tấp cả mưa và lá cây vào mặt người. Qua làn chớp giật lão thấy Ẳn và thằng con đang đi xuống phía rừng cọ, lão đuổi theo. Lão giằng Ẳn ra khỏi Dùi rồi nói:

  - Nó là con quái mày không biết đâu, mày đưa nó theo chỉ hại mày thôi

     Xong lão nhìn Ẳn rồi nói:

 -Bạc trắng còn trên người mày đúng không? Nói xong lão toan đưa tay xé áo cô ra. Ẳn gạt tay lão rồi nói:

-Ông đừng đụng vào người tôi, bấy lâu vì những đồng bạc trắng mà ông biến tôi thành trâu ngựa cho ông. Giờ tôi không nghe ông nữa, bốn mươi đồng bạc này tôi sẽ đưa ông, tôi sẽ chuộc thân ông phải cho tôi về nhà!

      Ẳn định đưa tay vào trong áo bứt bạc cho lão thì Dùi ngăn cô lại.

       Nó nhìn bố nó rồi nói: “Ẳn không phải chuộc thân gì hết, thằng quan Tây chết rồi, chính tay tôi giết nó trả thù cho Ẳn rồi. Giờ Ẳn là vợ tôi, Ẳn đi với tôi, mình đi chỗ khác sống với nhau thôi”

     Lúc này trong cơn mưa gió những thân cọ vật vã giữa nền trời đen kịt, trong chớp lóe, nhìn chúng như những người khổng lồ khua kiếm lên cố chống lại trời hung hãn. Nước mưa từng vốc đổ xuống ào ào từ các tàu cọ, sương mù từ đâu bốc lên mọi thứ càng trở nên hư ảo. Giọng nói của ba con người nhỏ bé nhòa vào những âm thanh nguyên sơ đất trời và đêm tối. Lúc này, lão Cùi đã bị thằng con tách ra khỏi Ẳn. Lão nhìn cô trừng trừng, khiến Ẳn cảm thấy ánh mắt quái dị của lão. Chẳng ai biết trong đầu lão nghĩ gì. Chỉ thấy lão cứ nhìn Ẳn như thế. Lúc sau, lão cười rống lên những tiếng hoang dại, lúc đấy cơ hồ mưa và sương mù như bị tiếng cười ấy làm cho ngưng đọng. Rồi lão Cùi bỗng thấy mình vung cán dao vào gáy thằng Dùi, lão chẳng buồn nhìn nó ngã úp mặt vào bùn nước. Lão kéo Ẳn đi theo lão, vừa kéo lão vừa nói: “Trời đất cho ta tiên bạc, ta chôn đi là có bạc. Bạc trắng đấy tràn, ta đi chôn tiên bạc lố”. Lão lẩm nhẩm những câu vô nghĩa. Người lão tràn đầy sức lực, lão lôi Ẳn đi lên cánh rừng sau nhà chỗ lão bị trói ban nãy. Lão thấy mình bắt Ẳn đào đất dưới một gốc trám, lão thấy mắt Ẳn lại có hai hàng lệ đặc sệt ánh bạc lấp lánh. Khi phiến đá mỏng lấp miệng hố được lật lên lão lại ngửa cổ lên trời cười sằng sặc. Rồi lão thấy mình ấn đầu Ẳn vào miệng hố giấu của tròn như cái mâm. Chớp giật, đất trời sáng bừng lên. Giây lát lão Cùi nhìn thấy hai tay mình ghì lấy đầu Ẳn. Giây lát ánh sáng chiếu cả xuống đáy hố đen sâu, bạc trắng ứ ự, sáng lóa. Ánh sáng tắt, lập tức một tiếng nổ long trời kèm theo một luồng sáng xanh lét giáng xuống. Cây trám bằng hai người ôm ngọn bị phạt đứt, lão Cùi thân thể khô đét lao đầu xuống hố. Ẳn tỉnh lại, không thấy lão Cùi đâu chỉ thấy cây cối ngổn ngang, trời đất khét lẹt, mưa gió vẫn gầm rú. Ẳn xuống đồi cọ lay Dùi tỉnh dậy. Lá cọ che mưa cho họ chạy khỏi vùng đất hết chốn dung thân...

      Nghe xong tôi tự hình dung về quãng đường còn lại đã dẫn hai người đến vùng đất này. Những núi rừng, sông suối họ đi qua. Những vùng đất họ đi qua và không dám dừng chân, cho tới khi gặp mảnh đất này.  Nghĩ về mảnh đất quê hương mình với bao thăng trầm đi qua, bao con người đã sống những tháng ngày khốc liệt mà bản thân mình không biết và cũng không mảy may một lần tìm hiểu... Phải lúc sau tôi mới nói với Keng : “Anh kể chuyện hay lắm!”

       Keng chỉ cười rồi nói tiếp. “Ù dồ! Anh thì không nhớ mình đã nghe bao nhiêu lần chuyện đời bà ké nữa, những đứa trẻ làng này sinh ra nghe tiếng đầu tiên là tiếng của bố mẹ, rồi nghe thứ là chuyện đời bà ké. Cứ thế người già hơn kể cho người trẻ, người nghe rồi kể cho người chưa nghe. Anh thì nghe nhiều nhất từ bố vợ, dù sao ông cũng là những người đầu tiên sau bà ké tới mảnh đất này ”.

      Tôi hỏi Keng bố vợ anh có quan hệ gì với bà ké? Keng nói: “Cháu đấy”! Rồi nói tiếp: “ Mãi mấy năm sau, ông Dùi mới tìm đường trở lại Phương Độ để tìm cha mẹ vợ, chôn cất cho bố ông ta, dù sao cũng không nên để bố mình chết mà đầu cắm xuống đất, chân chống lên trời. Thế thì sau này chạy pháo Tàu bố vợ anh mới biết mà chạy sang tận đây chứ. Chú mà biết tiếng Dao nghe bố vợ anh kể chuyện bà ké mới hay, chỉ tội mỗi khi kể đến những đồng bạc là hai mắt ông sáng lên’’. Chúng tôi cùng cười phá lên.

      Bà ké chết trong lúc đi nhặt củi để nấu rượu, cả cuộc đời bà từ khi đến mảnh đất này chỉ làm một việc đấy. Những lúc khó khăn nhất bà cũng không bao giờ đụng đến số bạc đã gắn với cuộc đời bà. Bốn mươi đồng bạc trắng hoa xòe. Có người bảo bà giữ chúng chẳng được sự gì đâu, chết rồi con cháu chẳng chôn chúng theo bà đâu. Bà kệ.

       Ngày cuối đám ma bà ké, tôi sang nhà lão Kỉn để đi cùng lão lên viếng bà ké. Trong đám tang người ta vẫn kể lại chuyện đời bà. Bên xác bà, con cháu bà đặt những đồng bạc trắng tinh. Những đồng bạc ấy, chỉ lúc nữa thôi sẽ được con cháu hơ trên lửa để người chết ở âm ty ngửi thấy mùi.

 

 

 

                                                                                     Hà Nội 30/10/2014

 

                                                                                                NVT

       

       

 

      

    

     

      

     

      

      

     

                                                                                                                        

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com