Bức di thư bị bỏ quên

                                                                        
                                                                      (Truyện ngắn của Nguyễn Thị Luyến) 
   

      "Năm tôi mười tám tuổi, tôi đã nghĩ cửa thiền ở hoàng cung hay trên núi thì cũng như nhau, cuộc đời tôi chỉ phụng thờ Đức Thế Tôn. Khi tôi mời sư thầy vào cung làm lễ, người chỉ đổi pháp danh cho tôi chứ nhất quyết không làm lễ xuống tóc. Người nói với tôi, vẫn chỉ một câu: Chưa đến duyên! "                                      



Cha tôi họ Nguyễn, tôi không phải là người của Lý gia.

1.       

Một chiều mặt trời đỏ ối trên ngọn dâu, tôi đang hái đầy túi những quả dâu chín sẫm thì bõ già tất tưởi chạy ra cánh đồng. Cánh đồng dâu vốn xanh mướt thu về cùng một màu đỏ lừ trong những giọt mồ hôi trên trán người bõ già:

-          Tiểu thư, mau mau theo lão. Quân triều đình đang truy về nhà ta. Phan Ma Lôi đã bỏ chúa công mà chạy trốn!

Những ngày tháng cha tôi trốn mình trong mật thất để bàn bạc với quân sĩ, đến cả tôi, một đứa trẻ mà mỗi bận các bậc quân sư của cha gặp đều cung kính cúi chào cũng không được vào. Mẹ tôi héo hon bên giường bệnh, cha bước vào nắm tay mẹ được một lần vội vã, nói một câu vội vã: “Đổi được giang sơn này, nàng sẽ là mẫu nghi thiên hạ!”

Chiếc áo bào của cha tôi hôm đó khi bước ra khỏi cửa phòng mẹ cũng hắt lại một màu đỏ ối như mặt trời chiều này. Mẹ tôi cố ngóc đầu với theo chưa kịp nói gì thì thổ huyết. Mắt mẹ trừng trừng nhìn theo bóng người đàn ông đã khuất. Tôi hoảng sợ bắt gặp đôi mắt, chạy theo gào khóc mà cha không quay lại. Cho đến khi bõ già bưng lên chậu nước ấm thì khóe mắt tôi khô khốc. Đôi tay tôi lọt thỏm trong tay bõ già, cầm chiếc khăn giặt bằng nước ấm, lau nhẹ đôi bàn tay đang lạnh từ từ của mẹ, và khẽ vuốt mắt cho bà.

Mặc cho tôi tìm đến mấy lần, mật thất vẫn bất khả xâm phạm. Lối vào mật thất đi qua một gian phòng nồng nặc trầm hương, nhung điều quấn quýt, đung đưa theo từng tiếng cười của đám nữ nhân. Số hầu gái ở đâu về ngày càng nhiều, xiêm y lộng lẫy hơn cả mẹ tôi. Khoảng thời gian sau này tôi đã tự hỏi mình là ai trong ngôi nhà ấy. Rằng đối với cha, mẹ con tôi có nghĩa lý gì. Ngai vị hoàng hậu mà cha hứa với mẹ tôi, có còn ích gì nữa không khi một chiều đỏ ối cha không quay lại dù tôi gào khản giọng.

Và tôi biết: ngoài tôi, cha còn rất nhiều người con!

Tôi không tìm cha nữa sau khi mẹ qua đời. Mỗi chiều, bõ già dắt tôi ra cánh đồng dâu và hái cho tôi những quả chín sẫm. Quãng thời gian ấy tôi đã nghĩ rằng người thân duy nhất của tôi chỉ còn lại bõ già.

-          Tiểu thư, mau mau theo lão chạy trốn!

Tiếng hối thúc của bõ già khiến tôi giật mình. Dường như lúc ấy tôi nhớ ra rằng cha tôi đang bệnh và phải điều trị tách biệt trong mật thất.

-          Cha ta đâu?

-          Chúa công... đã mất rồi! Trước khi đi, ngài dặn lão phải bảo vệ tiểu thư!

Bõ già cõng tôi chạy mãi, chạy mãi. Những quả dâu chín rơi rớt, bê bết màu đỏ tươi như từng vết máu dưới mỗi dấu chân của bõ già.

Một ngôi chùa cách xa gia trại họ Nguyễn. Họ Nguyễn còn ai, tôi không biết. Bõ già bảo chỉ cần tôi còn sống thì lão mới chết nhắm mắt. Theo lời lão kể, đối với cha, tôi rất quan trọng. Tôi băn khoăn, sự thật là cha có từng nhớ đến tôi trong những ngày tháng người vùi mình trong men chiến thắng họ Đoàn ở trận Châu Hồng?

Năm đó tôi sáu tuổi. Sáu tuổi, tôi lần lượt mất mẹ, rồi mất cha. Sáu tuổi, tôi bắt đầu sợ những thứ có màu đỏ. Tôi sợ cả quả dâu chín ngọt mà vốn từng rất yêu thích, chỉ bởi sau lớp vỏ chín thẫm là sắc màu ám ảnh.

Tháng Chín năm sau, Quốc Thánh hoàng thái hậu băng, triều đình thôi truy lùng thân nhân những kẻ làm loạn trước đó. Tôi không cần phải đổi họ khi khắp thiên hạ này bắt đầu nhan nhản họ Nguyễn. Chẳng bao lâu thì bõ già qua đời, tôi hiển nhiên nghĩ rằng đời mình sẽ mãi mãi ở lại chùa này.

Sư thầy cho phép tôi sống riêng trong một căn phòng nhỏ cuối dãy nhà, làm những việc của một chú tiểu. Vừa được theo học sách thánh hiền cùng với y thuật nhà chùa, tôi quen dần và yêu thích những bản kinh kệ như chính cuộc sống nơi cửa thiền này. Sư thầy không vội xuống tóc cho tôi. Mỗi lần tôi tỏ ý, người chỉ lắc đầu và bảo: chưa đến duyên!

Một ngày tôi lên núi hái thuốc.

Khi tiếng vó ngựa phi nhanh vừa kịp rõ bên tai tôi cũng là lúc vạt áo choàng đỏ tươi bay đến trước mặt. Bóng chiều đỏ ối như quay cuồng, cuốn lấy sắc áo bào của cha tôi năm xưa. Mắt mẹ trừng trừng không chớp, máu từ miệng ròng ròng. Những bước chân vội vã của bõ già giẫm nát trời chiều sẫm màu quả dâu chín.

Tôi vùng vẫy cố thoát sắc màu ám ảnh trong cơn mê đến bật tỉnh.

Cạnh mỏm đá trước mặt, tráng sĩ ngồi tựa vào đang thổi khúc sáo Khi tương phùng, khi tương ngộ. Tiếng sáo lúc khoan lúc nhặt, kẻ biến tấu giai điệu như để hồn xuống thung lũng theo đôi chân buông thõng. Bộ y phục của chàng xanh lạ lùng, đẩy bầu trời u ám của mùa thu lên cao và biến mất. Dù nhận ra mình đang ngồi lên vạt áo choàng đỏ nhưng tôi không còn sợ. Bởi trong mắt tôi chỉ còn màu xanh. Không gian kia như chỉ còn màu xanh yên bình.

-          Chú tiểu… không sao chứ? Để ta đưa… chú về nhé?

Chàng lên tiếng khiến tôi giật mình. Lưng chừng núi, chuông chùa đã điểm giờ Dậu. Tôi thấy vẻ vội vàng trong ánh mắt của chàng khi nghe tiếng chuông, mới chủ động từ giã:

-          A Di Đà Phật! Bản tự cũng ở gần đây, tiểu tôi không dám phiền lỡ việc của ngài.

-          Như thế sao được...

Cùng lúc, tiếng ngựa hí như giục giã chủ nhân. Nhìn cách bận trang phục và phong thái ấy, tôi đoán chừng chàng không chỉ là một lãng tử, liền nhanh chóng dứt khoát:

-          A Di Đà Phật! Ngài cứ yên tâm lo công vụ, tiểu tôi tự về được rồi!

Và chàng, chỉ chần chừ một lúc rồi nhảy lên lưng ngựa. Chú ngựa tung cao hai vó trước, phi thật nhanh theo đường mòn.

Năm đó, tôi mười sáu tuổi.

2.       

Năm Kỷ Hợi, Thiên Ứng Chính Bình thứ 8 (1239).

Tháng Hai có loạn Kiểu Hiền ... đến tháng Tám thì bị giết. Triều đình bố cáo quân phản loạn chấm dứt hẳn. Trăm họ an cư.

Cuối tháng Chín năm ấy, bỗng có một đợt rét đầu đông kì lạ. Đợt rét sớm giá buốt kéo dài như vào giữa đông. Lá bồ đề trên cành gần gốc nhất bắt đầu chuyển sắc. Dần dần, toàn bộ lá trên cả cành ấy đều rủ một màu vàng man mác. Những chiếc lá rớt rơi.

Tôi thỉnh sư thầy tới xem:

-          Thưa thầy, bình thường phải hết mùa đông bồ đề mới thay lá, tại sao năm nay lại thế ạ?

Người cúi nhặt những chiếc lá rơi rụng, trầm ngâm nhìn kỹ. Tôi cầm chổi định quét đám lá ấy đi, sư thầy ngăn vội:

-          Hẵng khoan!

Rồi sư thầy lật đật đi vào điện, một lúc sau bê ra một chiếc hộp gỗ, người bảo tôi:

-          Con hãy nhặt hết những chiếc lá đặt vào hộp này!

Nói xong, người đi thẳng vào chính điện thỉnh chuông và bắt đầu niệm kinh. Mặc dù không hiểu hết ý của sư thầy nhưng tôi nhận ra sự trịnh trọng và một chút bất thường trong dáng vẻ của người.

-          A Di Đà Phật! Dám phiền chú tiểu...

Đang miên man với những suy nghĩ đoán ý sư thầy và lo sợ với một điềm báo nào đó, tôi giật mình bởi âm thanh trầm trầm của một nam nhân. Liền đứng dậy đối diện người lạ mặt, tôi cũng chắp tay đáp lễ:

-          A Di Đà Phật!

Người đàn ông bận áo nâu, tướng mạo sáng sủa có phần cao quý mặc dù trang phục hơi lấm lem bất ngờ sững sờ nhìn tôi, thốt lên đầy xúc động:

-          Chiêu Thánh!... Nàng ở đây ư?

Tôi lúc ấy có lẽ còn sững sờ hơn cả người đối diện. Ngoảnh đi ngoảnh lại, quanh sân chùa chỉ có tôi và vị khách. Nhìn phong thái đĩnh đạc ấy, hẳn không phải là kẻ tầm thường kiếm cớ vào chùa quậy phá. Tôi càng điếng người trong cách gọi của ông ta, xem phần nhận ra tôi là nữ nhi. “Nhưng xem kìa, ông ta gọi tên một người khác.” Tôi lấy lại bình tĩnh rồi chắp tay chối từ:

-          A Di Đà Phật! Hẳn thí chủ nhầm lẫn tiểu tôi với ai đó!

-          Không thể nào! Dù nàng có cải trang ta cũng nhận ra! - Người đàn ông quả quyết. Rồi với giọng lạc đi, nét mặt ông ta sầu não hơn: -  Ta chỉ hỏi nàng một câu thôi: Có phải cuộc phản loạn của Kiểu Hiền là do nàng chủ mưu?

Phản loạn? Đã lâu tôi không bị ai tìm đến dưới danh phận ấy. Cha tôi từng là quân phản loạn. Triều đình từng truy lùng tôi. Nay nghe ông ta nhắc đến cuộc phản loạn, tôi bất giác sợ hãi. Tôi chưa biết phải giải thích thế nào với ông ta rằng mình chỉ là tiểu chùa, bàn tay rắn rỏi của ông ta đã nắm lấy cánh tay tôi. Vừa ngó quanh, ông ta vừa nói với tôi bằng giọng run run:

-          Chiêu Thánh! Nàng không cần trả lời ta nữa! Nàng phải đi với ta!

Gỡ mạnh bàn tay người đàn ông, tôi định quay đi tìm sư thầy thì người đàn ông lại nói, giọng gấp gáp:

-          Thái sư đã nghi ngờ và đang ngỏ ý diện kiến nàng. Nàng phải hồi cung với ta, có như vậy mới được an toàn.

Tôi giật mình đứng sững khi nhận thức được địa vị cao quý của con người này. Vội vàng quay lại dập đầu tạ tội:

-          A Di Đà Phật! Muôn lạy đức ông! Xin đức ông tha tội cho tiểu này...

-          A Di Đà Phật!

Giọng sư thầy cất lên từ phía sau. Một cơn gió lùa qua, những chiếc lá bồ đề lại rụng thêm.

Đêm ấy, tôi nghe gió ràn rạt trên mái chùa, lùa lao xao trong những tán cây. Tôi chạy ra gốc bồ đề, ngơ ngác nhìn cành bồ đề duy nhất trụi lá. Tôi nhón chân tránh dẫm lên những chiếc lá ngả nghiêng, xếp kín vào hộp gỗ một màu vàng ươm. Đôi tay tôi lạnh cóng ôm hộp gỗ đầy lá đi vào thì sư thầy đã đứng ở cửa điện từ lúc nào. Người nhìn tôi, tôi nhớ đến ánh mắt của mẹ nhìn mình ngày xưa.

-          Dù con chưa xuống tóc nhưng đã được Phật Tổ chứng giám rồi. Từ ngày mai, con sẽ mang trên mình một sứ mệnh. Cũng là kiếp nạn lớn nhất, con phải tự vượt qua...

Sau khi nghe sư thầy nói hết, tôi im lặng thật lâu.

Sư thầy chỉ cho tôi cành rụng lá sớm nhất của cây bồ đề:

-          Năm nào cũng thế, cây cối đều tự mình rụng lá mùa đông rét để trổ lộc non tái sinh vào dịp xuân. Con đã lớn lên như một cái cây qua nhiều mùa đông. Bước ngoặt sắp tới, sẽ là mùa đông khắc nghiệt nhất của con. Hiển nhiên, mùa xuân sau đó kỳ diệu hơn những mùa xuân khác. Con sẽ dũng cảm vượt qua chứ?

-          Thưa thầy, con...

-          Mỗi người trong bể khổ này đều phải tự trải qua những kiếp nạn của mình con ạ.

-          Nhưng thưa thầy, như vậy cũng khác gì con là kẻ đại nói dối!

-          A Di Đà Phật! Phải! Phật Tổ không dạy đệ tử nói dối bao giờ! Nhưng nếu ta xuống địa ngục mà có thể giác ngộ chúng sinh, là một đức lớn! A Di Đà Phật!

-          ...

Bây giờ tôi mới hiểu vẻ trầm ngâm của sư thầy khi những chiếc lá bồ đề đầu tiên rơi rụng ngày đầu đông. Sự bất an trong tôi trước những chiếc lá ngả vàng là có thật. Tôi đã cảm nhận được trang mới cuộc đời mình. Sẽ là một sự lựa chọn. Họ Nguyễn còn ai, tôi không biết. Cũng không ai đi tìm tôi. Cha tôi từng nuôi mộng đế vương và lời hẹn với mẹ. Số phận tôi lẽ nào đã an bài, dù là người họ Nguyễn hay mang thân Lý gia cũng sẽ là một công chúa lá ngọc cành vàng ư?

Tôi khều cho những giọt nước quanh ngọn đèn cầy được chảy xuống. Tôi muốn khóc. Vì điều gì? Tôi không biết. Chạy theo bóng sư thầy đã rời khỏi, tôi gọi:

-          Thưa thầy... con sẽ vượt qua kiếp nạn này!

Sư thầy dừng chân, quay người lại phía tôi. Vẫn ánh mắt điềm tĩnh ấy, người chỉ nói:

-          Số phận luôn có hướng rẽ với những kiếp nạn chờ sẵn, con có quyền lựa chọn hướng rẽ cho mình!

-          Thưa thầy... con sẽ vào cung!

Khi mặt trời lên bằng con sào thì vãi dẫn bốn cô gái xinh đẹp bận y phục màu trắng có những đường viền và đai lưng màu xanh bước vào phòng tôi. Tôi để mặc họ quay tít mái tóc dài, xoay thân hình tôi để choàng lên những nhung lụa sang trọng. Đến khi chiếc áo choàng màu vàng được khoác lên người tôi và những trâm ngọc lúc lắc trên đầu, một cô gái đưa cho tôi chiếc gương đồng. Tôi gặp cô gái xa lạ trong gương. Khi bùn non thôi vướng vít nâu sồng, khi nhựa cây rừng hay hương thảo mộc được thay thế bằng những hương lạ quý phái, tôi đã không còn là chính tôi nữa. Đến cả nhà vua cũng nhầm lẫn tôi với nàng thì hẳn người con gái trong gương kia chính là công chúa.

Tôi bước ra khỏi gian phòng gắn bó suốt chục năm qua, ngước mắt nhìn những mái cong rêu cũ. Tôi muốn ghi nhớ chính mình.

Sư thầy đã đứng trong điện. Tôi rời đám thị nữ, bước vào cúi lạy trước Phật Tổ. Sư thầy thỉnh chuông cho tôi. Tôi chỉ cầu mong sư thầy được mạnh khỏe và bình an. Sư thầy nói với tôi:

-          Tâm vốn an tịnh tĩnh lặng. Khi tâm ra khỏi an tịnh tĩnh lặng thì bất an rối loạn sẽ nhảy vào. Khi nhìn thấy được bất an rối loạn này thì an tịnh tĩnh lặng sẽ trở về. (1)  Phật Tổ sẽ che chở cho con!

-          A Di Đà Phật! Con xin lĩnh ý thầy!

Năm đó, tôi mười bảy tuổi.

3.       

Hoàng cung. Lạnh lẽo và cô tịch, dù thực tế thì rất náo nhiệt. Một sự giám sát mơ hồ luôn rình rập tôi.

Tôi là Chiêu Thánh công chúa. Tôi từng là Thái nữ của tiên đế Huệ Tông tiền triều, lên ngôi chưa đủ một năm thì nhường đế vị cho chồng. Tôi từng là hoàng hậu của đương kim hoàng thượng. Tôi không thể sinh con nối dõi cho nhà vua, nên muốn lui về cửa Phật tụng niệm cho quốc thái dân an.

Tôi là Chiêu Thánh công chúa. Tôi không có một chút hận thù gì với họ Trần cả. Trần Thủ Độ ư? Chỉ vì ông ta lo sợ công chúa Chiêu Thánh là tôi hiện tại ngầm liên kết gây phản loạn. Nhưng trong ký ức của tôi, chỉ có một màu thiền nhẹ bẫng. Tôi không là Chiêu Thánh, tôi gây phản loạn để làm gì? Thái sư, ngài sẽ yên tâm ngủ ngon giấc thôi. Bởi dù trong giấc mơ tôi cũng chỉ có niệm A Di Đà.

Hoàng cung. Có một người luôn nhìn tôi với ánh mắt lạ kỳ trong các buổi gặp mặt hoàng gia, nhưng sau đó chẳng dám sai người đến thăm tôi lần nào. Ánh mắt đó vừa chan chứa yêu thương, lại có chút day dứt nhiều tâm sự. Và thi thoảng đầy âu lo thảng thốt. Khi là Chiêu Thánh, tôi còn có người này gọi là chị gái: Thuận Thiên đương kim hoàng hậu.

Thời gian đầu của tôi hơi ngột ngạt vì thiếu cảnh núi cao sương mù quen thuộc, nhưng dần dà tôi nhận ra rằng bóng Phật Tổ rộng khắp chúng sinh. Như sư thầy từng nói: Tu tại tâm. Đức Phật vẫn nhìn xuống dõi theo những thành tâm của chúng đệ tử.

Trước mắt mọi người, tôi là Chiêu Thánh công chúa an phận thờ Phật. Trước ban thờ Phật, tôi là một đệ tử lòng thành. Đôi khi nhớ chính mình, trong đầu tôi nhớ một khoảng màu xanh yên bình tuổi mười sáu.

Nhà vua là người duy nhất trong hoàng cung biết rõ thân phận tôi. Nhưng ánh mắt đau đáu ngài nhìn tôi cũng chất chứa nhiều tâm sự. Cũng có ngày nhà vua xót thương tôi chăng?

4.       

Năm bõ già qua đời, tôi đã nghĩ đời mình mãi mãi gắn bó với ngôi chùa ấy, nhưng sư thầy chưa cho tôi xuống tóc.

Năm tôi mười tám tuổi, tôi đã nghĩ cửa thiền ở hoàng cung hay trên núi thì cũng như nhau, cuộc đời tôi chỉ phụng thờ Đức Thế Tôn. Khi tôi mời sư thầy vào cung làm lễ, người chỉ đổi pháp danh cho tôi chứ nhất quyết không làm lễ xuống tóc. Người nói với tôi, vẫn chỉ một câu: Chưa đến duyên!

Gần hai mươi năm tôi an phận phụng thờ Đức Thế Tôn trong hoàng cung, sư thầy tôi đã viên tịch từ lâu. Những năm tháng tôi sống trong một lời nói dối kinh thiên động địa không ai biết, với những giày vò và nỗi sợ quên chính mình hàng đêm.

Phật Tổ đem đến cho tôi mùa xuân kỳ diệu bắt đầu khi một sáng nhà vua mời tôi tới cung Thúy Hoa thưởng trà cùng Lê tướng quân.

Tôi đã nhận ra chàng từ vạt áo màu xanh và khúc sáo vừa dứt Khi tương phùng, khi tương ngộ. Bẵng bao nhiêu năm tôi thờ phụng Đức Phật chốn cung lạnh cũng là bấy nhiêu năm chàng dạn dày sương gió nơi sa trường. Kỳ ngộ đời người, thật khó nói.

...

-          Bẩm quan gia, quả thực thần không ngờ trên đời này lại có hai người giống nhau đến thế!

-          Khi tương phùng, khi tương ngộ. Các khanh có ưng thuận sự tác thành của quả nhân?

...

Như sư thầy từng nói, mùa tái sinh của tôi quả thực kỳ diệu.

-          Ái khanh, nàng có thể nhân dịp này giúp ta một nỗi lo chăng?...

 

 

Tôi hiểu nỗi băn khoăn của nhà vua. Tôi là Chiêu Thánh công chúa.

Nhà vua công bố ba điều nguyện của Chiêu Thánh công chúa trước khi thành thân với Lê tướng quân:

 

“1. Xóa bỏ lệnh truy sát, Hoàng tộc Lý được đổi họ về họ cũ, về quê làm ăn.

 2. Các lăng miếu, đền thờ các vị công thần triều Lý được tu bổ, thờ phụng như xưa.

3. Dinh của Lê Phụ Trần phải ở xa Hoàng Thành...”

 

Chiêu Thánh công chúa, xin được tạ lỗi cùng người. Tôi đã mạo nhận dòng dõi họ Lý trong suốt mười tám năm.

Người đang phiêu bạt phương nào, công chúa đáng thương?

Mười tám năm, tôi chịu chôn vùi tuổi xuân nơi cung cấm bởi tôi không vướng bận nhiều âu lo như người. Sau mười tám năm, hạnh phúc mà tôi đang hưởng, nếu thực sự là người thì có thực là hạnh phúc? Có chăng chỉ càng thêm oán hận và bi thương trong cuộc đời người. Có chăng sự gượng gạo của Lê tướng quân liệu có thể đem lại hạnh phúc cho cả hai người?

Chiêu Thánh công chúa, người đã phiêu bạt chốn nào? Còn sống hay đã hóa thành cơn gió?

...

5.       

“Chiêu Thánh công chúa tôi đã an phận rời khỏi cung cấm, thoát khỏi mối lo ngại trong mắt mọi người được hai mươi năm.

Nam tử, nữ tử của tôi đã trưởng thành. Tướng công cũng đã rời bỏ tôi mà ra đi mãi mãi.

Nhưng vĩnh viễn, tôi là tội đồ của Lý gia.

Cây cối lớn lên đều phải chịu trải qua nhiều mùa đông. Mùa đông khắc nghiệt nhất trong cuộc đời tôi đã kết thúc để tái sinh với mùa xuân diệu kỳ bất ngờ từ cuộc kỳ ngộ tuổi mười sáu.

Các vị tiên đế Lý gia, kẻ tội đồ này chỉ mong được sám hối và xin được tạ tội! Cầu xin các vị bề trên chứng giám cho sự thành khẩn này!

Nếu ai bắt được di thư này và có lòng giúp đỡ, kẻ tội đồ xin được mai táng tại làng Đình Bảng.

Lòng thành xin đa tạ!

Lý Phật Kim – Chiêu Thánh công chúa.”

                                                       

***

Chú thích:

(1): Mượn lời của Thiền sư Ajahn Chah – trích “Chẳng có ai cả.”

N.T.L

 

 

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com