Chào mừng kỉ niệm 35 năm VVND: Những ngày đầu của Trường Viết văn Nguyễn Du

(Trung Trung Đỉnh)     

 "Những 'cua' thỉnh giảng hay và bổ ích nhất được loan truyền nhanh chóng, người ta đến nghe chật cứng không có chỗ ngồi. Đó là các buổi thỉnh  giảng về dân tộc học của giáo sư Từ Chi, những “cua” về lịch sử của giáo sư Trần Quốc Vượng, những lần lên lớp của Giáo sư Hồng Phong. Các nhà văn nhà thơ lớn như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân đều có những buổi lên lớp đầy ấn tượng."

       Ngay sau chiến thắng 30/4, trong mọi sự chuyển động gấp gáp của cuộc sống, có một sự chuyển động hối hả nhưng bình tĩnh, chủ động, nó xuất phát không phải từ  trên cao mà thực ra nó đã hiện hình từ những năm cuối của cuộc chiến, ấy là các trại viết quân đội. Các quân khu, quân đoàn đã  có các nhà văn của mình. Họ được tập hợp xung quanh các tờ tạp chí Văn nghệ Quân Giải PhóngVăn Nghệ Giải Phóng mà các nhà văn đã có tên tuổi từ trước đó, xuất thân từ  ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế như trong Nam  có Nguyễn Thi, Nguyễn Trọng Oánh với các nhà văn trẻ như Trần Mạnh Hảo. Trần Ninh Hồ, Nguyễn Ngọc Mộc, Thái Vượng, Lê Văn Vọng. Ở miền Trung tập trung quanh tờ Văn nghệ Quân Giải phóng mền Trung Trung Bộ có Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Phan Tứ, Chu Cẩm Phong, đến lớp chiến sĩ  viết văn sau này như Thái Bá Lợi, Ngân Vịnh, Trần Vũ Mai, Vũ Thị Hồng, Cao Duy Thảo. Phía ngoài Quân Khu Trị Thiên Huế, Quân khu 4  đến  các Quân Binh Chủng cũng có những tên tuổi đang sung sức như Phạm Ngọc Cảnh, Tô Nhuận Vỹ, Lâm Thị Mỹ Dạ, Nguyễn Trọng Tạo, Tô Đức Chiêu, Đỗ Chu, Dương Duy Ngữ, Nguyễn Trí Huân…

         Bạn cứ hình dung một cách đơn giản, trước mặt bạn là một tấm bản đồ  vẽ nơi làm việc của các nhà văn trước và sau năm 1975 thì sẽ nhận ra khá đầy đủ lực lượng viết sung mãn và rầm rộ thế nào. Sự thực đây là các cây bút trưởng thành từ trong cuộc chiến, đa số văn hóa phổ thông, là lính chiến, chưa qua trường lớp đào tạo chính quy nào về văn học, anh nào khơ khớ thì đã từng được dự “trại viết”  từ các quân khu, các Quân đoàn, Quân binh chủng. Các “trại viết” này được hình thành dựa theo nhu cầu tuyên truyền của mỗi vùng chiến thuật,  không giáo trình, bài bản, hầu hết anh em đã từng viết được dăm ba bài thơ, một hai truyện, ký, hé lộ chút năng khiếu được tập trung lại dăm bữa nửa tháng, trao đổi kinh nghiệm với nhau, rồi viết, rồi lại đọc cho nhau nghe, góp ý, khen chê cho đến khi không còn  ai góp ý được nữa thì đem in trong các số tạp chí Văn Nghệ địa phương, quân đoàn, Quân binh chủng mình, đa số là chuyện người thực việc thực, gương anh hùng chiến sĩ thi đua…Các nhà văn cựu trào lớp đàn anh như Nguyên Ngọc, Phan Tứ, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Thi, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Nguyễn Trọng Oánh, Triệu Bôn. Tất cả đều được trưởng thành, tôi luyện qua các phong trào viết gương, viết người tốt việc tốt, người thật việc thật, những bài thơ hay nhất, những truyện ngắn hay nhất, những tiểu thuyết nóng hổi nhất thời chiến tranh của các cây bút này đều qua “lò đúc” của các “Trại viết”. Tôi chưa “truy lùng” được cái từ “trại viết” bắt đầu từ ai, từ đơn vị nào, cho đến bây giờ nó vẫn tồn tại như là một khâu tất yếu cho các “lò luyện” của Hội nhà văn Việt Nam và của các Hội văn học nghệ thuật địa phương, có vốn đầu tư từ nguồn ngân sách của nhà nước. Sau các trại viết thời chiến tranh, các cây bút liền anh được Ban chấp hành  Hội nhà văn đề xuất, hồi đó, nếu tôi nhớ không lầm thì người hăng hái nồng nhiệt nhất là nhà văn Nguyên Ngọc kết hợp với các ý tưởng của Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, thành lập một khóa học viết văn quy mô một tý, tập trung các cây bút có tên tuổi số má từ các đơn vị, địa phương về, gọi là “Chuyên tu Đại học viết văn”, thực chất  là trên trại viết một tí. Thế là các học viên khóa Một được triệu tập về trên quy mô toàn quốc. Không có giáo trình, các học viên chụm đầu  cùng các cán bộ của trường bàn bạc xem nên học những môn gì, thầy nào, ở trường nào, thiết kế từng “cua”, từng “học phần” với các  giáo sư, các thầy cô, các nhà khoa học đầu ngành về lên lớp. Các giảng viên có thể nói, đây là lần đầu tiên họ được lên thỉnh giảng với  một tâm thế mới, không khí hoàn toàn mới mẻ, không ràng buộc luật lệ, không có sự áp đặt, bó buộc nào với một số học viên  tinh hoa, đã từng trải, trưởng thành ngồi lĩnh hội trong lòng thì ai cũng đang rất “máu”, rất hào hứng, cả  thầy lẫn trò đều chưa từng có  một bối cảnh học hành sôi động, nhiệt huyết như thế. Có thể nói, các học viên anh nào cũng háo hức lĩnh hội, vừa nghiêm trang, vừa suồng sã, vừa dân chủ văn minh lại cũng rất sẵn sàng tham gia  bàn thảo, xê-mi-na không ai  áp đặt làm khó cho ai. Các nguồn kiến thức cao khiết dường như được tích tụ lâu năm nay có cơ hội “xả lũ” đúng thời điểm nên không thấy các thầy cô đòi hỏi quyền lợi gì, ai ai cũng thỏa mãn, hào hứng. Những cua thỉnh giảng hay và bổ ích nhất được loan truyền nhanh chóng, người ta đến nghe chật cứng không có chỗ ngồi. Đó là các buổi thỉnh  giảng về dân tộc học của giáo sư Từ Chi, những “cua” về lịch sử của giáo sư Trần Quốc Vượng, những lần lên lớp của Giáo sư Hồng Phong. Các nhà văn nhà thơ lớn như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân đều có những buổi lên lớp đầy ấn tượng.

      Tôi thuộc loại học viên cuối bảng, được “vét” từ trại viết quân khu V ra cùng anh Thái Bá Lợi và Nguyễn Trí Huân. Nguyễn Trí Huân đã có tập truyện ngắn dày dặn và tiểu thuyết hoành tráng “Năm 1975, họ đã sống như thế” . Còn Thái Bá Lợi nổi danh rầm rộ với  loạt truyện ngắn trong đó nổi bật nhất  là truyện “Hai người trở lại Trung đoàn”. Hai anh đi đến đâu người ta cũng biết, cũng được hỏi han, đàm đạo, tôi thì lẽo đẽo theo sau. Thái Bá Lợi nổi tiếng vì anh là ngòi bút đầu tiên sau 1975 viết về số phận nghiệt ngã của người lính. Anh ta phải đứng trước một hiện thực buộc phải lựa chọn, ấy là sự khốc liệt của đời sống mới, cần lòng trung thực và lòng dũng cảm của người lính hơn là cơ chế. Một cách tiếp cận mới, cách nhìn mới, cách hiểu mới về người lính. Và “Hai người trở lại trung đoàn” vấp phải một làn sóng phản ứng không kém phần quyết liệt. Hồi ấy tôi rất phục bước “đột phá” của Thái Bá Lợi, ấy là, anh đã thoát ra khỏi lối viết  người thật việc thật một cách ngoạn mục bằng một bút pháp giản dị, tinh tế’ thoát li khỏi cách nhìn công thức xưa cũ.

     Có thể nói, trước khi vào nhập học Trường Viết văn Nguyễn Du, cánh nhà văn quân đội có ba cây bút lừng lẫy với ba tiểu thuyết lừng lẫy toàn quân, toàn quốc. Nó kịp thời đáp ứng với niềm hân hoan chiến thắng của mọi người, đó là “Nắng đồng bằng” của Chu Lai; “Trong cơn gió lốc” của Khuất Quang Thụy và “Năm 1975, họ đã sống như thế”.  Bây giờ đọc lại thì thấy đây là ba cuốn tiểu thuyết viết còn thô sơ như bút ký, ký sự, thấy gì ghi nấy, chưa ai thoát khỏi cách viết người thực việc thực, nhưng hồi ấy, với chúng tôi, đó là những gia tài lớn. Và đó là niềm kiêu hãnh chung của lớp trẻ.

 

--

 T.T.Đ                                                                         

 

 

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 


 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com