Gã thợ săn



VIẾT TỪ TRẢI NGHIỆM

(Đọc tập truyện ngắn “Gã thợ săn” của Đinh Đức Cường, NXB Hội nhà văn, 2014)

                       PGS.TS Hoàng Kim Ngọc  

                                                                                       

 

Thực ra, tôi chưa từng được gặp nhà văn đất mỏ này lần nào.

Cầm cuốn truyện trên tay, đọc lời giới thiệu của nhà văn Sương Nguyệt Minh, tôi rất đồng cảm với nhận xét của anh. Tuy nhiên trong bài viết này, tôi sẽ đề cập những điều mà Sương Nguyệt Minh chưa kịp nói hoặc chưa nói kỹ.

Trước hết, có thể thấy Đinh Đức Cường là người từng trải, có nhiều vốn sống ở những nơi anh đã đi và đã đến. Mà vốn sống là gia tài của nhà văn. Tôi nghĩ anh chỉ cần kể lại  những điều anh từng tham dự hoặc chứng kiến cũng đã đủ hay.

Không gian trong truyện của Đinh Đức Cuờng là không gian quen thuộc của đất mỏ Quảng Ninh, nơi anh sống và làm việc với những địa danh, địa chỉ xuất hiện trong truyện như: Cẩm Phả, Vịnh Hạ Long, Bãi Cháy, Đảo Cô Tô hoặc ngôi chùa trên núi (chắc cũng thuộc địa phận Quảng Ninh vì nhân vật đã giới thiệu đứng ở chùa có thể nhìn thấy nhà máy nhiệt điện hoặc trang trại trồng hoa Hibiscus (tôi biết ở Quảng Ninh có rất nhiều trang trại hoa như thế).

Bên cạnh không gian vùng vàng đen của tổ quốc thì không gian truyện còn là những nơi mà nhà văn đã từng đi, từng đến, từng chiến đấu khi còn là người lính. Đó là: Chiến trường Tây Nguyên, Dải biên giới Tây Nam từ Xa Mát tới Thiên Ngân, Cam Pu Chia, Biên giới phía Bắc…

 Thế giới nhân vật truyện vì thế cũng rất quen thuộc, tiêu biểu, đại diện cho không gian truyện ấy. Đó là: dân chài, dân luôn lậu than thổ phỉ, quan chức ngành than, người lính, người phụ nữ trong chiến tranh,…

Đọc tập truyện này, tôi thấy Đinh Đức Cường dành ưu tiên cho nhân vật nữ. Hầu như truyện nào phụ nữ, đàn bà cũng là nhân vật trung tâm hoặc ngay cả khi không phải là nhân vật chính thì họ cũng để lại ấn tượng sâu sắc. Chẳng hạn: truyện “Thằng Koong”, nhân vật chính là anh chàng ngố, ngọng nghịu, trí tuệ đần độn thì nhân vật chị Huyền lại song hành cùng Koong để Koong bộc lộ chân thực tính cách và hành vi của mình. Hoặc truyện “Lão Cung”, nhân vật mụ Sâm tuy chỉ được nói tới bằng vài nét miêu tả khái quát, là “một người đàn bà khoảng gần 60 tuổi, chồng chết, béo to ục ịch. Mụ có tiếng là bốc (mả) giỏi” nhưng người đọc không thể quên hành động “Mụ ngồi xuống đánh mắt cho thằng Cẩn và chỉ tay ra hiệu…” để cuối cùng mụ cùng đám phu mộ ô trọc, bần tiện giở trò kiếm chác thêm được 1 triệu, “ăn cả xương cốt” của gia đình người dưới mộ.

Những nhân vật nữ ấy là những hạng người với đủ mọi lứa tuổi từ đôi mươi đến dưới 60; với nhiều nghề nghiệp khác nhau [văn công (Khánh Ly), chủ quán đặc sản, giáo viên (Lan) chủ doanh nghiệp nhỏ (Thị), Việt kiều (Tuyết) hoặc vừa làm thuê vừa là bồ nhí (Huyền), nghề bốc mả (mụ Sâm), dân chài (Thu) và cả cái nghề không rõ là nghề gì nhưng chắc là nghề khổ nhục vì nhân vật Hạnh - vợ Trung tâm sự: “Cuộc đời em cũng khổ nhục lắm mới phải đi làm cái nghề ấy mà anh Trung không khinh em”]. Thế giới đàn bà trong truyện của Đinh Đức Cường đa dạng trong tính cách, lai lịch, thân phận. Người thì hiền lành, cam chịu thiệt thòi và thủy chung, tiết hạnh; kẻ thì bản năng, đam mê tính dục, mưu mẹo, thủ đoạn, tham lam, bất chấp làm liều…

Những người phụ nữ đó, phần lớn đều là người chủ động trong tình yêu, khao khát hiến dâng hoặc chủ động trong tình dục với nhu cầu khá bản năng. Cô Tuyết trong truyện Hai chiếc nhẫn chỉ đi nhờ tàu quân sự từ Nha Trang ra Bắc có vài ngày mà đã kịp làm quen và yêu anh lính chỉ huy đoàn tầu ấy. Và khi tàu đến ga Giáp Bát, phải chia tay thì cô đã chủ động “ôm chầm lấy anh và hôn lên môi anh cái hôn đầu tiên của đời con gái, không một chút ngượng ngùng”. Cô gái dân chài có tên của một loài cá – Thu, trong một lần đi tắm biển đêm, vô tình gặp anh nhà báo cũng đi tắm đêm và sau phút hoảng hốt vì bất ngờ cũng đã chủ động: “Bỗng nàng đứng dậy cầm lấy tay tôi kéo về phía mình. Tôi như lên cơn sốt miệng khô cháy. Nàng vòng tay ôm lấy tôi và áp bầu ngực săn chắc vào tôi, ngả đầu vào tấm ngực vạm vỡ đang đập thình thịch. Hông nàng lắc nhẹ…” và gần sáng khi phải chia tay, nàng cũng chủ động: “trườn người đè lên tôi đặt nụ hôn lên môi tôi mãnh liệt như sức mạnh của biển rồi dứt khoát đứng dậy. Cầm lấy chiếc khăn choàng qua người và nói: - Anh có còn quay lại đây không? Nếu đảo không có gì để nhớ thì đừng quay lại. Anh hãy coi đêm nay như một món quà mà biển đảo dâng tặng cho anh!”.  Nhân vật Huyền cũng có những phút giây tự thỏa mãn ở phiến đá bên bờ suối và cũng không kiềm chế được dục tình bản năng với thằng Koong, nửa người nửa ngợm. Nhân vật Nguyệt Cầm làm tình trong mơ. Nhân vật bà chủ nhà có thói quen thích tắm cùng chó, ngủ với chó và thích thú khi chó “liếm láp bầu ngực”…

Nhân vật Lan yêu nhưng không được yêu đã chủ động dùng thủ đoạn “gọi tắc xi và đưa Sơn vào khách sạn” khi Sơn say rượu để cuối cùng cưỡng ép người đàn ông ấy phải lấy mình

Rồi nhân vật Thị - Chủ doanh nghiệp, mặc dù đã có chồng những vẫn chủ động đong đưa, nhử tình Đỗ Thoảng - một quan chức ngành than để được ông ta tạo điều kiện buôn lậu than. Và chị ta cũng chủ động tìm cho mình một anh chàng trẻ hơn hàng chục tuổi cho hợp mốt “phi công trẻ lái máy bay bà già”: “Thị nhìn kỹ hắn và cái bản năng trong Thị sống dậy, người Thị nóng ran. Đối tượng mà Thị khao khát đây rồi” (tr.136), Thị chủ động săn tình và làm tình theo bản năng của giống cái: “Thị cởi tung chiếc váy nằm xuống đè nhẹ lên “Con cún con” đang nằm ngủ. Đặt môi Thị vào môi hắn, Thị ôm nhẹ tấm thân trai tráng. Hắn vẫn mê man ngủ…” (Tr. 138). Thị cũng là người có thể chủ động nói ra nhu cầu của bản thân với tình nhân mà không ngượng ngùng: “- Đừng khéo nịnh, em đang đói đây này. - Vậy em về ngay nhà nghỉ, anh sẽ đến nhé.”. Và đến khi nhốt ở phòng tạm giam, Thị cũng tự thủ dâm.

Những nhân vật nữ (Tuyết, Thu, Huyền, Nguyệt Cầm…) với những hành động thể hiện tình yêu hoặc nhu cầu bản năng tính dục lành mạnh ấy thì hình như Đinh Đức Cường cảm thông với họ và không xét nét, lên án họ dưới con mắt của một nhà đạo đức học. Anh chỉ lên án khi những nhân vật sử dụng sex như một sự tính toán, một thủ đoạn để kiếm chác lợi lộc (chẳng hạn như nhân vật Thị, nhân vật Lan…).

Mặc dù truyện của Đinh Đức Cường chủ yếu được viết theo lối truyền thống, quen thuộc đã định hình của những nhà văn thời chống Mỹ nhưng những yếu tố hiện đại lại được đan cài bằng những nhân vật có những suy nghĩ và hành động của con người thời “mở cửa”, thời kinh tế thị trường và mang hơi thở của đời sống đương đại. Đồng thời anh cũng tỏ ra là nhà văn viết nhiều về sex và khá “cứng tay” khi miêu tả sex. Trong 10 truyện thì có 7 truyện có yếu tố sex chiếm 2/3. Chẳng hạn như: Dốc thời gian, Thằng Koong, Trái cam vàng rỉ máu, Người đàn bà của biển, Bão than, Hai chiếc nhẫn. Anh tả sex khá trần trụi nhưng vẫn không thô thiển, có lẽ vì nó luôn phù hợp với tình huống của truyện, tức là anh luôn tạo ra bối cảnh, hoàn cảnh, không gian hợp lý để nhân vật bộc lộ hành động, tính cách của mình. Và đặc biệt là anh miêu tả sex không lần nào giống lần nào. Tuy nhiên, nhà văn cũng cần phải tiết chế những chi tiết không cần thiết để không sa vào chủ nghĩa tự nhiên.

Đinh Đức Cường còn tỏ ra rất khéo tạo tình huống truyện. “Hai chiếc nhẫn” có kết thúc đẹp như một câu chuyện cổ tích. Chiếc nhẫn thiêng của nhà sư ở Bát Tam Bang - Cam Pu Chia là chi tiết tạo tình huống cho đôi tình nhân kiên nhẫn đợi chờ mà không vô vọng để rồi họ gặp lại nhau sau bao nhau xa cách. Hoặc tình huống thằng Koong vô tình nhìn thấy cảnh ăn nằm của ông chủ trang trại với chị Huyền ở bờ suối, chính hành động ấy của ông chủ đã là một sự hướng dẫn, một cách “thị phạm” dạy thằng ngố cách làm tình: “Thằng Koong làm lại động tác như “bố” nó vừa làm”. Và chính cái tình huống Huyền đang nhắm mắt, mơ mơ màng màng nên hành động của Koong đã không bị Huyền “lừ mắt”, bị “đánh vào tay” bị “mắng là hư” hoặc bị “vác gậy đuổi” như trong những hoàn cảnh khác. Cũng bởi bối cảnh đặc biệt ấy nên thằng ngọng mới có cơ hội được làm đàn ông, thể hiện được sức mạnh của “một con ngựa bất kham dứt dây cương, phóng trên hoang mạc cho đến khi kiệt sức quỵ xuống…” Đồng thời, nhờ tình thế đó mà nhân vật Huyền cũng bộc lộ rõ bản năng tính dục của mình một cách tự giác khi thích thằng Koong và đồng lõa với hành vi của nó.

Đọc truyện của anh, người đọc còn cảm thấy thú vị khi họ được cung cấp thêm về một số kiến thức. Chẳng hạn, biết phân biệt thịt hoẵng và thịt bê. Những cửa hàng đặc sản bán thịt thú rừng rởm thì sẽ không bao giờ có đầu và chân con thú.

Hoặc làm thế nào để cứu đồng đội khỏi phải đền mạng vì tội vô tình làm chết voi theo đúng yêu cầu luật lệ của đồng bào dân tộc? Làm thế nào để dân làng mặc dù đã chứng kiến cảnh tử hình công khai với năm phát súng nổ giòn mà người lính tên Trung vẫn thoát nạn? Làm thế nào để an lòng dân mà không phải giết người vì cái tập tục lạc hậu man rợ đó? Người đọc thú vị khi biết rằng: “Lúc đó tôi nghĩ ra một kế cho Trung mặc quân phục chỉnh tề, đầu đội mũ cối có giấu thuốc đỏ trên đầu, và dặn khi nào súng nổ thì ngoẹo cổ, cái mũ rơi ra, bịch thuốc đỏ sẽ đỏ lòm. Các đầu đạn được tháo ra, nút giấy chặt, nòng súng được bôi đầy mỡ bảo quản khi nổ sẽ khói mù mịt. Giờ hành hình. Trung được trói vào gốc cây. Dân bản đứng rất đông đằng xa. Bộ đội dàn hàng bảo vệ. Sau khi tuyên án, năm tiếng súng nổ vang khói bay mù mịt dân bản nhắm mắt, khi mở ra đã thấy Trung đỏ loang máu khắp người. Họ hả hê lắm. Mấy anh em được bố trí sẵn chạy vội lên tháo dây chụp bao vào cậu ta cho lên xe đưa đi luôn.”

Ngoài ra, xét về mặt ngôn ngữ, có thể nhận thấy Đinh Đức Cường thích sử dụng ngôn ngữ đối thoại hơn ngôn ngữ độc thoại nội tâm. Đối thoại của anh rất hoạt, rất sắc sảo, rất tự nhiên nhưng không hồn nhiên. Tự nhiên vì những câu nói đó chân thực như cuộc sống, người nghe không cảm thấy giả tạo hay sến sẩm nhưng nó không hồn nhiên bởi đã được gọt giũa, trau chuốt, tức là nó giống như ngôn ngữ ngoài đời nhưng không phải ngoài đời như thế nào thì “bê” nguyên xi vào tác phẩm như thế, mà có sự chọn lọc. Tôi thích nhất những mẩu đối thoại liên tiếp gần hai trang sách 141- 142 mà không có lấy một lời dẫn chuyện của tác giả, nó tái hiện chân thực nạn buôn lậu, khai thác than thổ phỉ thật kinh khủng một thời ở Quảng Ninh. Một thời mà những kẻ như nhân vật Thị “là người đàn bà ít học, năng lực trình độ chẳng có gì” nhưng cũng được làm Giám đốc Doanh nghiệp và Thị đã nghĩ “Làm giám đốc quá dễ”. Một thời mà “mọi người đua nhau thành lập công ty đi buôn than bất chấp tất cả”. Một thời mà một số quan chức biến chất thoái hóa của ngành than như Đỗ Thoảng vừa háo sắc, vừa tham tiền đã nhắm mắt kí đại những hợp đồng xuất than cho những công ty ma. Một thời mà dân buôn lậu than, thuyền trưởng, hải quan đã cấu kết làm luật, ra sức bóc bán tài nguyên đất nước để làm giàu bất chính.

  Trái tim ấm áp của nhà văn đã cúi xuống nâng đỡ các mảnh đời nên hầu hết các truyện đều kết thúc có hậu. Nhân vật nữ ít bị tuyệt vọng hoặc bị dồn vào bước đường cùng.  Chị Ba Lài cuối cùng vẫn gặp được người xưa, được nghe những lời xin lỗi trong sự dằn vặt, ân hận. Nhân vật Thu vẫn có hy vọng được gặp lại anh nhà báo vì anh ta đã tự nhủ là sẽ quay lại đảo sớm hơn. Nhân vật Khánh Ly sau bao nhiêu bầm dập của cuộc đời vẫn gặp được người yêu thương, nương tựa. Nhân vật Tuyết sau bao nhiêu bôn ba xứ người vẫn tìm được bố cho con gái mình. Vợ của Trung có lẽ sẽ có con vì Trung đã từ bỏ cái nghề bạc bẽo. Ngay cả Thị khi bị bắt nằm trong trại giam thì nhân tình vẫn không bỏ rơi mà vẫn đến thăm Thị…

  Tôi đã đọc một mạch mười truyện ngắn trong tập “Gã thợ săn”, truyện nào cũng hấp dẫn, lôi cuốn, thú vị. Chúng đã được viết ra từ những trải nghiệm phong phú trong vốn sống của Đinh Đức Cường. Lối viết cổ điển vẫn hoàn toàn chinh phục bạn đọc, đâu cứ phải cách tân, hậu hiện đại mới là hay. Tuy nhiên, để viết được nhiều hơn, đi xa hơn thì ngoài những chi tiết hiện thực mình từng chứng kiến, nhà văn còn phải biết khai thác những tri thức, những kinh nghiệm của những người khác để biến thành của mình./.

 

                                                          

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com