Cây Pơmu trên đồng cỏ hoa vàng

(Truyện ngắn của Phạm Thanh Thúy)      

"Có một người đàn ông, vì một tai nạn thời trẻ mà mất đi thị giác. Bốn mươi năm sau, khi khoa học đã phát triển vượt bậc, có thể đem lại ánh sáng cho đôi mắt, người đó đã vô cùng hạnh phúc khi lần đầu tiên nhìn thấy gương mặt thân yêu của vợ,con, và những điều kì diệu khác…"
1.

            Hằng bảo ở trên đời có một cái thung lũng tuyệt đẹp, gọi là Thung lũng Tình yêu. Đó là nơi thần tiên, mà biết bao đôi yêu nhau trên đời đều mong một lần được tay trong tay đến đó. Họ tin, chỉ cần đến đó thì tình yêu của họ sẽ thành bất tử.

Tôi bảo có gì mà lạ, trên Đà Lạt ấy.

Hằng bảo không phải.

Tôi hỏi thế nó ở đâu. Hằng bảo không biết, nếu biết thì đã đến đó rồi.

Tôi bảo ở Đà Lạt cũng có thung lũng tình yêu. Biết bao người đến đó, trở về rồi kết hôn, nhưng có bao người từ đó về mà tan vỡ, có bao người sau kết hôn vẫn chia tay. Chả có gì vĩnh cửu cả. Thế mà thung lũng tình yêu ở Đà Lạt hằng năm vẫn vô số kẻ yêu nhau tìm đến, để rồi khi trở về, kết hôn, hoặc chia tay, hoặc chia tay sau khi kết hôn.

Hằng bảo thung lũng tình yêu mà Hằng nói đến khác, vì rằng ai cũng tin nó có thật, mà chưa ai tận mắt thấy nó bao giờ. Nhưng Hằng đã từng đến một thung lũng nhỏ, và cho rằng đó chính là thung lũng tình yêu mà người ta vẫn nói, chỉ lạ là chẳng thấy đôi trai gái nào dắt nhau đến đó.

Tôi bảo khi người ta trẻ, khi người ta yêu, thế giới này kì lạ lắm, người ta coi mọi thứ thật thơ mộng, kể cả cái chết.

… “Anh có nhớ mình đã làm gì vào lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng tư năm ngoái không? Một người bạn của tôi đã hỏi tôi làm gì vào ngày đó, nhưng tôi không thể nhớ.”

“Cô ấy đã nói gì với anh?”

“Không gì cả.”

“Khi anh gặp lại cô ấy, hãy nói với cô ấy rằng tôi không nhớ gì hết. Có lẽ đó là điều tốt nhất cho hai chúng tôi.”

 Chuyến xe ngược Tây Bắc hôm đó thưa người, tôi ngồi nhìn ra cửa sổ và cảm thấy mình đang giống nhân vật chính của Days of being wind*, trên chuyến tàu vô định. Không nhớ gì cả. Có lẽ đó là điều tốt nhất cho hai người.

 Ba năm đổ về trước, lần nào gặp Phong, không hiểu sao tôi luôn nhắc đến những kỉ niệm đã xa, rất xa, những kỉ niệm mà nhân vật của nó chính Phong cũng không nhớ nữa. Phong bảo tớ sợ những người nhớ nhiều như thế. Tại sao cậu phải tự làm nhọc mình để nhớ những chuyện xa xôi.

Tôi có tự làm nhọc mình không, khi nhớ đã mười tám năm bốn tháng, năm ngày tôi và Phong không còn là người yêu của nhau nữa?

Bây giờ tôi vẫn gặp Phong mỗi năm đôi ba lần. Bao giờ, khi cuộc chuyện trò hoặc bắt đầu, hoặc lưng chừng, hoặc kết thúc, Phong cũng hỏi tôi : “Khi nào cậu ra trường?”

Với Phong, tôi không bao giờ ra trường, và Phong cũng thế. Thay vì trách tôi như trước đây, Phong lại nhớ như in những câu chuyện cũ, những ngày tháng cũ, những gương mặt cũ. Chỉ mười tám năm sau này Phong không thể nhớ.

Chúng tôi mãi mãi mười tám tuổi. Mãi mãi chẳng ra trường.

2.

Có một người đàn ông, vì một tai nạn thời trẻ mà mất đi thị giác. Bốn mươi năm sau, khi khoa học đã phát triển vượt bậc, có thể đem lại ánh sáng cho đôi mắt, người đó đã vô cùng hạnh phúc khi lần đầu tiên nhìn thấy gương mặt thân yêu của vợ,con, và những điều kì diệu khác…

Tôi quyết định rủ Hằng đi Tây Bắc. Đúng ra, Hằng mới là người thường xuyên chủ động rủ tôi đi. Nó dường như vô cùng háo hức muốn giới thiệu cho tôi cái thung lũng tình yêu mà nó cho rằng đó là nơi có thể đem đến cho những người cô đơn một hạnh phúc trọn vẹn, có thể hàn gắn những vết thương lòng. Tôi luôn tìm cách từ chối, vì tôi biết với trái tim đã quá ba mươi tuổi đời, dù mơ mộng đến mấy cũng không bao giờ nên tin. Nhưng tôi cũng bảo vệ lòng tự tôn của Hằng khi cố lắm để không nói rằng nếu có một nơi như thế thì người ta đã quây bờ rào và bán vé lâu rồi.

Để thanh minh cho quyết định đó, tôi bảo đã lâu tôi không thấy lại cảm giác cô đơn. Tôi nhớ nó, muốn tìm lại nó ở một nơi xa xôi nào đó, tốt nhất là nơi tôi chưa đến bao giờ.

Hằng hỏi tại sao người ta lại coi cô đơn là một cảm giác có thể nhớ nhung và mong tìm kiếm?

Tôi bảo khi người ta không còn trẻ, mọi thứ thuộc về cảm giác có lẽ không còn khó hiểu nữa.

Chuyến xe ngược Tây Bắc hôm đó thưa người. Tôi thấy mình giống nhân vật chính của Days of being wind:

  “Tôi từng nghe nói về một loài chim không chân. Tất cả những gì loài chim ấy có thể làm được là bay, và bay. Khi mỏi mệt, nó tựa vào cánh gió. Loài chim ấy chỉ một lần duy nhất trong đời đáp xuống đất, đó là khi nó chết đi.”

Tôi từng nói với chồng tôi cảm giác đó, anh chỉ cười, mà không biết có bao lần tôi khóc. Khóc vì nó, vì loài chim không chân mà chẳng ai trên đời này tin là có thật.

“Cậu thay mặt tớ chăm sóc con bé được không?”

Phong nói thế vào ngày đầu tiên đưa tôi đến một căn nhà khá hiện đại, có cổng sắt cao rủ một giàn tigon hồng thơ mộng. Tôi nói tại sao phải thay mặt cậu, tớ không cần thay mặt ai cả.

Hằng mười bốn tuổi, hơi gầy, nhưng làn da trắng mịn và đôi mắt, vóc dáng của một mỹ nhân đã sớm lộ. Cô bé ngồi khoanh tròn trên đệm, trong lòng là một con mèo trắng cũng khoanh tròn, cả hai đều ngước đôi mắt to tròn nhìn tôi.

Tôi chỉ là khách thường xuyên của cô bé, còn mọi việc lo cho nó ăn học đã có người khác. Phong và vợ đều là quan chức, gia đình có dư điều kiện để lo cho con gái bằng người.

Hằng rất lạ lùng, lúc ngoan hiền, ngơ ngác như nai, khi ầm ầm nổi loạn. Mỗi tuần hoặc tôi đến thăm nó một lần, hoặc nó tự tìm đến thăm tôi. Khi đến thăm tôi, nó dường như không quan tâm có mặt chồng tôi, thích thì chui vào chăn ngủ, kể cả khi chồng tôi cũng đang ngủ nướng vào ngày nghỉ.

Tôi thường không bận tâm đến những vật nuôi của Hằng, khi là con cún nhỏ, lúc là mèo đen, lại khi mèo trắng, thỏ, hoặc rùa. Cô bé giống hầu hết những cô cậu tuổi teen khác, thích vật nuôi và có thể chán ngay tắp lự. Tôi cũng không biết số phận những con vật tội nghiệp đó ra sao sau khi bị thất sủng.Tôi bận tâm đến căn phòng của cô bé. Phòng ngủ Hằng không treo ảnh của các ngôi sao, các tài tử, cũng không ảnh chủ nhân. Bốn bức tường mỗi hôm lại một dày lên những bức tranh, ảnh lộn xộn, không theo một quy luật, trường phái hay sở thích nào. Có thể nghĩ cô bé treo lên tường bất kì cái gì bản thân cho là thích, kể cả xác mấy con muỗi bị đánh chết, bẹp dí trên nền tường sơn màu phấn trắng.

Những bức tường làm tôi chóng mặt.

Bây giờ Hằng đã mười tám tuổi, sống một mình trong một căn phòng trọ sang trọng giữa lòng Hà Nội.

…Hai cô cháu ngủ tạm một đêm ở thị trấn núi. Đêm sơn cước bình lặng, lạnh cả khi tháng bảy đã về. Anh lái xe bảo ở đây gần trời hơn dưới xuôi, vì thế mà ngôi sao cũng to hơn, sáng hơn. Anh còn bảo nửa buổi sáng mai chị và cháu xuống phố, hoa bồ công anh nở vàng bên đường, bên suối, đẹp vô cùng.

Đôi mắt anh đông cứng trước khuôn mặt đẹp như tượng thánh nữ của Hằng. Tôi lặng cười, đột nhiên hỏi anh là người địa phương hay người dưới xuôi.

 “Không biết nữa” - Anh bình thản trả lời.

 Anh cũng không biết mình là người dân tộc nào, sinh ra ở một nơi rồi không lớn lên ở đó, tưởng mình là ai đó, rồi hoá ra là không phải vậy. Rồi anh cười khục khục, mắt lại đắm đuối Hằng. Tôi tạm thời tin câu chuyện vu vơ của anh ta. Thì tin hay không tin nào có quan trọng gì đâu, có điều tôi lại nhớ đến câu chuyện của người đàn ông mất thị lực do tai nạn nọ. Cuối cùng, khi vạn vật có thể hiện ra mồn một trước mắt ông, thì chính ông lại không chấp nhận nó. Bốn mươi năm qua ông đã quen nhìn thế giới này bằng cách của riêng mình rồi. Bây giờ ông không thể chấp nhận thay đổi nó.

 Tôi có đôi lần nhận được những cuộc điện thoại đột ngột từ người nhà. Từ cuộc điện thoại bất ngờ đó, khi thì tôi đi một mình, khi thì có Hằng theo. Cuộc điện thoại đầu tiên dẫn chúng tôi tìm về trường cấp ba cũ của tôi. Ngôi trường đã khác mười tám năm trước, không còn cánh cổng sắt hoen gỉ, kêu từng hồi giật cục mỗi khi khép mở, không còn những cây phượng âm thầm trút từng cơn mưa lá. Không còn những người bạn cũ…

Phong ngồi lặng lẽ trên ghế đá, nơi mà trước đây chỉ có một gốc phượng già.

Tôi từng mong sao mình không bao giờ nhìn thấy gương mặt buồn hiu hắt của Phong hôm ấy. Đó là gương mặt của một người trẻ tuổi với một trái tim mang một hoài bão lớn, bỗng nhiên bị phản bội bởi tất cả những gì cậu tin yêu nhất.

“Lớp mình tốt nghiệp lúc nào, sao không có tớ?”

Một ai đó có lẽ đã thật thà trả lời Phong rằng cái lớp học mà Phong hỏi đã ra trường từ lâu. Bây giờ, chưa biết chừng vài người trong số họ còn làm quan to là đằng khác. Phong không tin người ta đã tốt nghiệp mà không đợi mình. Phong xông vào lớp 12A6, nơi mười tám năm trước Phong đã cùng bạn bè ngồi học. Chủ nhân của lớp học là những gương mặt trẻ măng. Chúng cười rộ lên khi một ông râu ria nọ cũng sơ mi trắng quần âu đen ngác ngơ giữa những gương mặt lạ.

Phong bị người ta đuổi ra khỏi lớp như đuổi một thằng khùng. Người lôi Phong xềnh xệch chính là chú bảo vệ năm xưa. Bây giờ chú đã là một ông già. Có lẽ chú nhận ra Phong. Hoặc có khi chú đã gặp đôi ba trường hợp tương tự. Chú thông cảm để Phong ngồi trên ghế đá.

Hằng không hỏi tôi tại sao không dừng lại ở phố núi cách đó tám mươi cây số. Nhà Hằng ở đó. Tôi không dừng lại.

3.

Năm Hằng mười tuổi, tôi mới gặp cô bé lần đầu. Hôm đó nó đang đứng trong sân, tay bồng đứa em mẹ mới sinh. Nó chào tôi là chị, rồi dù mẹ nó có mắng thế nào, vẫn thản nhiên gọi tôi là chị. Tôi mím môi cười, nâng đứa em nó lên tay. Đứa bé thinh lặng ngủ, như một con búp bê bằng gỗ.

Đám cưới tổ chức khá đơn giản, nhưng đầy đủ nghi lễ, dù sao, chỉ là một đám cưới, nhưng thu nhỏ lại mà thôi.

Hằng bế đứa em nhỏ, tôi bế đứa em lớn của nó, bốn chúng tôi ngồi trong một góc, nhìn vợ Phong xúng xính váy cưới đang cùng chồng đón khách.

Mắt Phong buồn mênh mang.

Mọi người ở đó, thật là lạ, họ dường như không có điều gì để thắc mắc, vẫn vui vẻ như bao đám cưới khác, như bao đôi vợ chồng đang cưới nhau khác.

Ngày Phong cưới vợ, tôi có đến làm giúp. Bọn bạn cùng lớp ái ngại, chúng sợ tôi đang cố kiềm chế, rồi thình lình giở trò gì đó, như thắt cổ, hay uống thuốc độc trong phòng cưới của Phong chẳng hạn. Nhưng tôi không thắt cổ hay uống thuốc độc, cũng không uống rượu để say sưa và nói nhảm. Tôi bình thản, tôi nói cười…

Không ai thấy tôi buồn trong đám cưới của Phong. Cả tôi cũng không thấy buồn, khi đó, và cả sau này nữa. Tôi không yêu Phong phải không? Tôi yêu Phong đấy chứ. Rất yêu.  Nhưng tôi không buồn, tôi chỉ nhớ thôi, nhớ từng chi tiết, từng sự việc. Tôi đã nhiễm phải thói quen đếm từng giây, từng phút, từng ngày, từng tháng, từng năm…

 Bây giờ đã là mười tám năm bốn tháng năm ngày rồi.

Nhưng tôi lại buồn. Buồn cay đắng, buồn tái tê, buồn thắt gan thắt ruột, khi mười năm sau, tôi ngồi bế con trai Phong, đứa trẻ mới sáu tuổi trong đám cưới của chính Phong và với chính cô dâu đó.

Hằng mười bốn tuổi, Phong dẫn cô bé xuống Hà Nội, thuê cho nó một căn phòng và nhờ tôi thay mặt Phong chăm sóc nó. Tôi nói tôi không cần thay mặt Phong, tôi độc lập làm việc đó. Hằng vẫn gọi tôi là chị. Khi nó đến thăm tôi, thích thì không câu nệ, cứ chui vào chăn mà ngủ, dù có chồng tôi ở đó.

Tôi và chồng ly hôn hai năm sau. Chúng tôi lặng lẽ xa nhau, không cãi vã, không nói xấu, hạ nhục nhau, vẫn gọi điện chúc mừng nhau ngày sinh nhật, ngày lễ, thi thoảng còn đi ăn uống cùng đám bạn chung nữa.

Kỷ niệm một năm ngày chia tay, tôi mua một cái bánh to, một bó hoa to, một ngọn nến thật to về bày tất cả trên bàn. Bánh, nến và hoa chiếm gần hết diện tích mặt bàn, khiến người ngồi bên kia khó nhìn rõ người ngồi bên này. Tôi bảo với Hằng, tôi nên ăn mừng việc hai tình yêu lớn của đời tôi đã êm đềm ra đi không vương mùi thuốc súng. Tôi còn ngỡ mình không có tình yêu trên đời. Không có thứ tình yêu nào mà khi tan vỡ lại bình yên như thế. Đó là một dấu hiệu không lành.

Hôm đó, Hằng gọi tôi là cô, xưng cháu.

Tôi không cô đơn sau khi ly dị. Công việc cuốn tôi đi, lấp đầy những khoảng trống, những góc khuất. Thi thoảng, tôi tìm cảm giác cô đơn bằng việc ngồi trong căn phòng của Hằng và đếm và ngắm những con muỗi bị đập chết, bẹp bí, còn gần như nguyên hình hài ở trên tường.

Tôi nhìn muỗi, bao tháng ngày trôi qua, xác muỗi vẫn ở trên tường, mà linh hồn có thể đã bay đi, đầu thai vào một kiếp người nào đó.

Nhưng khi trên bốn bức tường đã bắt đầu hiếm chỗ cho những bức tranh, ảnh linh tinh, thậm chí còn không thể gọi là đẹp, thì tôi bỗng chú ý đến những bức ảnh không bình thường. Chúng đều được in bằng cách người ta in tài liệu ra giấy. Có những bức, vì phông ảnh màu tối, khi in ra trông còn tệ hơn, cứ như bức ảnh bị xoá, bị bôi đen.

Nhân vật trong ảnh đều là em trai, em gái Hằng. Bốn đứa bé, không đứa nào trông bình thường như những đứa trẻ bình thường. Hai trong số chúng tôi đã từng bế trên tay, đứa bé mặt mũi sáng sủa, đôi tay bụ bẫm, khoảng lưng dài, nhưng hụt. Đôi chân nó nhỏ, ngắn hệt như bàn chân ếch giấu dưới lần quần.

Phong cưới vợ năm mười tám tuổi, khi đó mới gần kết thúc lớp mười hai. Vợ Phong hai mươi tuổi. Phong bảo nhà Phong con một, bố Phong bệnh, yếu lắm, muốn nhìn thấy con trai yên bề gia thất rồi nhắm mắt xuôi tay cũng không ân hận.

Đó là sau này Phong mới nói với tôi như thế, chứ ngày Phong gặp tôi để báo tin Phong bỏ học dở chừng để lấy vợ, hai chúng tôi chẳng ai nói gì. Ngày Phong cưới, lớp tôi đứa nào cũng háo hức. Chúng chưa từng thấy mình được quan trọng khi tham dự đám cưới bạn bè như thế. Hơn nữa lại còn được ngồi trên chiếc xe ca dài ngoẵng, di vu lên tận Tây Bắc đón dâu.

Nhà cô dâu ở phố núi mơ phủ sương mù. Phong không nói làm thế nào lại quen và cưới một cô gái ở xa như thế. Vợ Phong trông già dặn, xanh xao và bối rối trong chiếc váy cưới trắng tinh.

 Nhà vợ Phong hoá ra bề thế hơn người. Bố vợ Phong nghe đâu làm quan to lắm, nghe đâu đồng đội cũ của bố Phong. Họ từng hẹn gả con cho nhau ngày ở tận trong rừng.

Có lẽ thế nên tôi đã không buồn. Ấy là tôi tự dối mình như thế, chứ tôi cũng không buồn từ khi biết Phong lấy vợ, tôi chỉ bỗng dưng nảy nòi ra thói đếm ngược, như cách người ta đếm ngược đón giao thừa. Rồi nếu có lúc nào đó cảm thấy không vui, tôi lại dỗ mình rằng, tôi mới là kẻ đến sau, họ đã được tiền định hôn nhân từ thuở còn là hạt bụi, hai gia đình đó đã giao ước, chỉ là bây giờ họ thực hiện giao ước mà thôi.

Mấy tháng sau khi bố mất, Phong lên ở hẳn trên nhà bố vợ.  

Năm đứa con trong vòng mười lăm năm, chỉ có Hằng là lành lặn, không những lành lặn, còn xinh đẹp lạ thường. Phong đưa con xuống thành phố cho ăn học. Phong nói phố núi tuy không đến nỗi hiu hắt, nhưng con bé bắt đầu từ thành phố lớn sẽ hơn. Thì tôi có nói gì đâu. Hằng đến thành phố, đi học, lập tức trở thành hot girl, bạn trai đầu xanh đầu đỏ săn săn đón đón. Hằng thản nhiên bước vào cuộc sống mới.

 Thì tôi có nói gì đâu. Tôi chỉ lạ là cô bé hay rủ tôi đi Tây Bắc, đến thăm cái thung lũng mà nó tin là thung lũng tình yêu, nơi mà bây giờ chúng tôi đã đến đây. Vả lại đôi khi nó ăn nói có duyên, sâu sắc lạ lùng, vả lại căn phòng của nó lạ, khiến tôi suy nghĩ lạ lùng.

4.

Tôi đứng trên cung đường cong chênh vênh lưng núi, ngắm rừng pơmu dưới thung đang lãng đãng trong sương. Bên đường, dưới chân tôi, hoa bồ công anh chúm nở. Những bông hoa đã chín, cánh trắng rưng rưng trong hơi sương. Khi mặt trời lên, sương khô, gió thổi, những chúm bông trắng muốt đó sẽ vút bay, sẽ lang thang khắp thung lũng, khắp chân mây.

Hằng bảo còn phải thuê xe đi một chặng dài nữa. Đường khó đi lắm.

Chúng tôi đợi hai chiếc xe ôm mà bằng cách nào đó Hằng đã liên hệ được. Thấy tôi ngạc nhiên, Hằng nói chú lái xe hôm qua mách.

Nhưng Hằng không nhìn vào mắt tôi. Nhưng giọng Hằng không bình thản…

Tôi không nói với Phong là tôi và con gái Phong đang ở nơi này, một nơi mà tôi chưa bao giờ đến, chưa bao giờ có một kỉ niệm. Biết rồi thì Phong sẽ làm gì?

Biết rồi Phong sẽ làm gì? Có bỏ căn nhà rộng thênh thang với bốn đứa con nhỏ, mà cả bốn đứa bé đó sẽ không bao giờ lớn, chúng chỉ già đi, chỉ tê dại với một tuổi thơ vĩnh cửu để đi tìm một thung lũng vô hình với tôi không?

Và Phong, cũng mãi mãi mười tám tuổi?

Trong căn nhà bề thế nhất nhì phố núi đó, có một ông bố mãi mãi mười tám tuổi và những đứa con không bao giờ đi qua tuổi thơ.

Vợ Phong bây giờ làm quan to lắm. Tôi thường tự dối mình bằng cách cố để không nghĩ về chị ấy, một người phụ nữ có một bề ngoài viên mãn như bao mệnh phụ phu nhân khác mà tôi đã gặp nhiều năm trước. Một người phụ nữ vừa văn minh để mặc váy cưới trắng tinh khi đã ba con nhỏ, vừa ngu muội khi tin rằng làm thế, làm mới những đám cưới như họ mới cưới nhau lần đầu, thì đứa trẻ hoài thai trong đêm tân hôn đó sẽ ra đời tinh khôi, mạnh khoẻ, bình thường, không giống như anh chị nó, những kẻ dị hình được sinh ra từ cuộc hôn nhân cũ.

Điều gì khiến họ và những người khác tin là như thế? Tôi không bao giờ hỏi Phong. Đến khi tôi đã sẵn sàng để hỏi thì Phong không còn mười tám năm sau nữa. Phong trở về tuổi mười tám trong một khoảnh khắc, khi chiếc xe máy chở Phong một sáng mùa xuân đã trượt xuống một khe suối, cũng trên một cung đường chênh vênh như thế này.

Từ đó, đã ba năm rồi, Phong mơ màng giữa hai chiều quên nhớ. Có thể bất chợt vào một hôm nào đó Phong rời phố núi, vượt hàng trăm cây số về trường cũ, rồi tìm tôi, rồi hỏi tôi rằng lớp 12A6 thân yêu đã tốt nghiệp khi nào, sao không có Phong ở đó?

Hai đứa trẻ ra đời sau này, tiếc rằng chúng vẫn như hai đứa trẻ trước đó, không đứa nào nguyên vẹn, lành lặn và xinh đẹp như Hằng.

“Mày không phải con tao.”

Lời cay đắng, tàn nhẫn đó Phong hắt vào mặt Hằng khi cô bé cùng tôi đến trường cũ đón Phong. Phong ngồi trên ghế đá, lá xà cừ bay nhẹ, đậu xuống chân Phong. Phong hỏi chúng tôi đã ra trường từ bao giờ mà Phong không nhớ. Phong không nhớ nhiều lắm, không nhớ mười mấy năm sau này, không nhớ Phong đã cưới vợ và có những đứa con, một trong số đó là Hằng.

Hằng không phải con gái Phong. Tôi có thể nghi ngờ điều đó. Nhưng để làm gì hả Phong? Mười tám năm bốn tháng năm ngày rồi…

5.

Thung lũng hiện ra trước mắt tôi như một thế giới không bao giờ có thật. Thì ra là có một nơi như thế thế này, nơi mà hai năm trước khi ly hôn, chồng tôi từng nhắc đến. Đó là một đồng cỏ thênh thang hoa vàng, có hai pơmu đứng bên nhau. Tán của chúng xoà tan vào nhau, từ trên con đường vắt ngang núi nhìn xuống, trông chúng như hai người đang chụm đầu tình tự.

Hai cây pơmu xoà tán vào nhau đang đứng trên đồng cỏ kia. Một đồng cỏ hoa vàng. Bây giờ là tháng bảy, hoa bồ công anh phủ dày thung lũng, nở muôn ngàn bông hoa vàng rực rỡ.

“Bọn bạn cháu nghĩ hoa bồ công anh màu trắng chứ, thổi bay được cơ mà?”

Tôi không trả lời Hằng.

“Hay nhỉ? Hoá ra hoa bồ công anh vàng, bông trắng lại chính là quả của nó.”

Tôi không trả lời Hằng.

“Anh có nhớ mình đã làm gì vào lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng tư năm ngoái không? Một người bạn của tôi đã hỏi tôi làm gì vào ngày đó, nhưng tôi không thể nhớ…”

 “…Khi anh gặp lại cô ấy, hãy nói với cô ấy rằng tôi không nhớ gì hết. Có lẽ đó là điều tốt nhất cho hai chúng tôi.”

Hai cây pơmu trên đồng cỏ hoa vàng này là có thật. Mà nơi này có thể là thung lũng tình yêu lắm chứ, khi có hai cái cây chụm đầu vào nhau như hai người đang tình tự, như thể chúng là hoá thân của một đôi trai gái từng tuyệt mệnh vì một tình yêu vô vọng.

 Và có thể nó đem đến tình yêu, hàn gắn những vết thương, hoặc chí ít nó cũng ban cho người ta hi vọng.

Để tìm lại một điều gì đã mất.

---

*Days of being wind – Một bộ phim Hồng Kông, sản xuất năm 1991

--

P.T.T

 

 

 

 

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
Copyright © 2009 - 2013 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com