Thông báo
Giới thiệu sách
Thống kê truy cập
|
Phê bình văn học: hội chứng rên rỉ và đổ thừa(Phê bình phê bình phê bình) (Inrasara) 1. Thời gian qua, các nhà phê bình đã
ra công bắt mạch để chỉ ra căn bệnh của phê bình văn học Việt Phê bình bình và tán, không
trên nền tảng mĩ học nào, chỉ bình tán đầy tính may rủi. Phê bình độn giai thoại, ở đó trong một bài viết, nhà phê bình tùy
tiện độn vào cơ man giai thoại cũ và mới, rất nhảm. Phê bình chung chung, tránh né, vô thưởng vô phạt, là loại phê bình
có thể áp dụng cho mọi nhà thơ, mọi tập thơ mà không sợ bị trật. Phê bình hũ nút, lấy mình làm thước đo
văn chương người thiên hạ; cho dù văn chương thiên hạ rộng và cao tới đâu, cứ
lấy chuẩn mình ra đo. Phê bình núp bóng,
núp bóng và nhân danh. Nhân danh chân lí vĩnh cửu, nhân danh tên tuổi lớn trong
lịch sử văn học, lấy cả "phương Đông" ra mà nhân danh. Phê bình bè phái, thể hiện mình cả ở
thái độ khen chê, bênh vực hay cáo giác. “Phê
bình du kích”, để thỏa mãn tính thù vặt, nhân vụ này đá sang vụ khác, đối
tượng muốn đối thoại cũng không thể. Phê
bình quan phương, là thứ phê bình hãnh tiến của kẻ đang nắm chặt chân lí
trong tay, bao giờ và ở đâu cũng ăn nói ở thế đúng, thế thắng. Phê bình hàng hai, nói theo vì đang kì
ăn theo, nói theo để còn ăn theo lâu dài hơn. “Phê bình liếc nhìn” vượt mặt phê bình hàng hai, nó còn biết đi rất
nhiều hàng, nhưng chung quy nó thể hiện thói nịnh bợ, uốn ngòi bút để kiếm
chác. Sinh hoạt phê bình của ta ngập tràn
các căn bệnh như thế với nhiều biến thái và biến tướng. Lạ, sản phẩm hạ sinh từ
bệnh viện kia cuối cùng được tập hợp lại trong tập sách vài trăm trang, rồi ta
tự tin kêu đó là “tập lí luận - phê bình”: Cảm
nhận, Cảm luận, Tản mạn... gì gì đó. Đọc suốt tác phẩm, độc giả không thấy
đâu là tư tưởng nền tảng của nhà phê bình, mà chỉ nghe bao nhiêu giai thoại vui
vui, trích đoạn tùy tiện, cùng vô số ý kiến nói theo, nói dựa từng xuất hiện
nhan nhản trên đủ loại báo phổ thông. 2. Đó là phê bình tác phẩm, còn phê
bình phê bình thì sao? Vẫn mấy căn bệnh từ hình thức phê bình trước truyền
nhiễm sang, lây lan từ người này qua người khác. Phê bình tác phẩm, chỉ cần sở
hữu ít khiếu thẩm mĩ, thêm cách diễn đạt có duyên, là đủ để người đọc dừng lại
với bài phê bình, ít ra – không dị ứng với nó; thì phê bình phê bình đòi hỏi
cao đến thao tác đầy lí tính của người viết. Đằng này, ta muôn năm mơ hồ. Tôi nói điều này có thể buồn
một chút, nhưng từ lâu tôi có cảm giác nền phê bình chân chính đã chết rồi (…) Bây giờ thì chúng ta
thấy đấy, niềm tin với các bài phê bình trên báo chí giảm xuống, thậm chí, bạn
đọc không còn quan tâm nhiều nữa… Làm thế nào để hạn chế bớt
những bài điểm sách sơ sài, những bài PR vì mục đích lợi nhuận của nhà sách?(1) “Cảm giác” với “niềm tin” “bạn đọc không còn quan tâm nhiều nữa” thì trên cả… mơ hồ! Còn những
“bài điểm sách sơ sài, những bài PR vì mục
đích lợi nhuận” của các nhà sách liên can gì đến phê bình? Tất cả chúng tồn
tại có lí do chính đáng. Thời nào ở đất nước nào cũng thế, chúng có mặt để bán…
sách. Chúng cần thiết trong thị trường chữ nghĩa đòi hỏi tính cạnh tranh cao.
Vài trăm tác phẩm văn học ra đời mỗi tháng, ai trách nhiệm quảng bá chúng? –
Các bài điểm sách. Cộng đồng than phiền văn hóa đọc xuống cấp; nhà văn ném “đứa
con tinh thần” ra thị trường chữ nghĩa, đâu là nơi có thể đưa tin tác phẩm kia
đến với công chúng? – Báo chí. Vậy mà ta lại than vãn sự PR này, với lối hiểu từ
PR đầy hàm hồ và sai lạc. Vấn đề là, sách của tác giả nào? Nhà xuất
bản kia uy tín tới đâu (nếu nhà xuất bản làm ăn nghiêm túc)? Nhà phê bình nào
dám đánh cược tên tuổi mình để giới thiệu nó? Và, tờ báo nào đã đăng nó? Không
biện biệt để rạch ròi các hoạt động ngoại vi này với phê bình văn học, thì mọi
than vãn của ta đều rất trật… mục tiêu. Than thở mơ hồ trật mục tiêu kia lan
truyền để trở thành thứ hội chứng, hội chứng than thở. Bởi nhìn đâu ta cũng
thấy thủ phạm, nó ở tất cả mọi nơi mà không ở đâu cụ thể. Chỉ khi phân ranh như thế, ta mới xác định
được thủ phạm là “các bài điểm sách sơ
sài và các bài PR vì mục đích bán sách” cùng những con tương cận. Xác định
và loại trừ, để còn lại là những bài phê bình đích thực. Đâu là bài phê bình
như là phê bình?
3. Cả ở đây nữa, ta cũng bị hội chứng than
thở ám. Hết than khóc phê bình nghiệp dư lấn sân phê bình nhà nghề, phê bình
chuyên nghiệp tàn tạ hay phê bình chân chính đã chết, ta quay sang rên rỉ về sự
“thiếu chuẩn, loạn chuẩn trong phê bình
văn học”(2). Loạn chuẩn, ta bắt được tay ngay kẻ để đổ thừa. Thủ
phạm không ai khác, đích danh tên “ai cũng có thể làm phê bình được”! Sự nhiễu loạn, sự đánh tráo
giá trị đã trở thành một thực trạng rộng khắp và không dễ gì thay đổi được(1). “Theo
chúng tôi, dù là phê bình truyền thông thì cũng cần đòi hỏi những tiêu chuẩn về
một thứ “chất lượng phê bình” chứ không thể tùy tiện, kiểu ai muốn nói gì thì
nói(3) Chính “ai ai cũng có thể
làm phê bình” đã làm cho phê bình nhiễu loạn, mất chuẩn, loạn chuẩn. Vậy “ai
ai” kia là ai cần phải bị loại trừ, để ai đó được quyền phê bình? Ai đó là
những ai? - Các tên tuổi trong biên chế Viện Văn học? Các vị khoa bảng? Các nhà
phê bình lận lưng thẻ Hội viên Hội Nhà văn Việt Toàn cầu hóa, đâu là
“chuẩn” để quy chiếu từ đó đánh giá tác phẩm văn chương? Trong triết học,
Nietzsche cuồng nộ đập nát bảng giá trị cũ [đang lưu hành] để dựng lên bảng giá
trị mới, qua đó tác động rộng lớn đến nền triết học thế giới thế kỉ XX. Bên thơ
ca, thần đồng [đích thực] thơ ca Pháp Rimbaud dũng mãnh phá tan mọi chuẩn tắc
thơ đương thời để lập nên chuẩn mới, ảnh hưởng cả nền thơ nhân loại sau đó. Sau
đổi mới, văn chương tiếng Việt phát triển đa khuynh hướng, đa giọng điệu, đa
phong cách, chúng cần đến nhiều chuẩn khác nhau để đánh giá. Khác nhau, thậm
chí đối chọi, phản bác nhau. Thế giới mở, ai dám và
ai có thể độc quyền chân lí nghệ thuật? Một tác phẩm vừa đưa ra thị trường, nếu
phê bình truyền thống phải chờ đến ngày hôm sau, tuần sau, tháng sau mới thấy
xuất hiện bài viết, thì hôm nay đã khác. Chúng nhận được ý kiến khen chê hoặc
bị bỏ quên ngay khi vừa ló đầu ra đời. Kịp thời và nhanh nhạy. Nó mang ở tự
thân đặc tính của báo chí. Còn hơn cả báo chí, bởi điều mà báo giấy không kham
nổi thì báo mạng, website, facebook, blog đảm đương oanh liệt. Có cả không gian
mênh mông cho người quan tâm vào cuộc. Tác phẩm văn chương là
một thế giới mở tồn tại vô vàn khoảng trống và những điểm trơn trợt bất định,
mời gọi các diễn ngôn khác nhau, từ nhiều điểm nhìn khác nhau. Các diễn ngôn
phát ra qua kinh nghiệm, cảm xúc, tri thức rất khác nhau của bộ phận độc giả
khác nhau. Vô danh hay nổi tiếng, chuyên hay không chuyên, mới tập tò hay thâm
niên công tác. Trình độ độc giả hôm nay đã được nâng cao, nên thái độ của họ
đối với vấn đề văn học đã khác. Họ hết còn thưởng thức tác phẩm thụ động, mà tự
tin nói lên cảm nghĩ và phát hiện của riêng mình, sẵn sàng nhảy vào dự phần
nhận định và tranh luận.
4. Thở than phê bình xuống cấp, sa sút, ta
luôn đòi hỏi chất lượng tiêu chuẩn ISO cho các bài phê bình. Trước
đây, chúng ta hay nói đùa kiểu "nhà nhà làm thơ, người người làm
thơ", thì bây giờ phê bình trên báo chí cũng nằm trong tình trạng đó” (4). Sa sút với xuống cấp, lại cũng là nguyên
do từ “ai ai” trên. Qua đó hội chứng đổ thừa cho “người người làm phê bình, nhà
nhà làm phê bình” giành thêm mảnh đất mầu mỡ để nhân giống! Tại sao cứ chính nó
mà không là thủ phạm nào khác? Cớ sao “người
người làm phê bình, nhà nhà làm phê bình” không phải là cơ hội lớn cho nền
văn học phát triển, mà lại làm trở ngại? Nữa, nếu ở đó, ta không phải đồng
thanh một kiểu phê bình, mà hãy “kiểu ai
nấy nói”, tại sao nỗi đó không phải là cơ may cho nền phê bình, mà lại kéo
nó tụt hậu? Nhiều người làm phê bình với nhiều “kiểu” phê bình khác nhau, nhiều
cách “phán” khác nhau là điều cần thiết cho đa dạng hóa một nền văn học. Dĩ
nhiên, khi các “kiểu” phê bình ấy được đặt trên nền tảng lí luận vững chắc mà
không tùy hứng đến tùy tiện. Ta kêu “thiếu chuẩn”, “loạn chuẩn” vân
vân, vậy đâu là “chuẩn” hay “kiểu” phê bình của ta? Nó được đặt trên nền tảng
mĩ học nào? Đâu là tang chứng vật chứng để chứng thực cho chuẩn kia? Hay lần
nữa ta huy động đâu Hoài Thanh từ thời xa lơ xa lắc? Hoặc lục lại các chuẩn
truyền thống còn quá ư mơ hồ, ít nhiều đã lạc thời? Cả ở đây nữa, không phải
bản thân ta đang tiếp tục chương trình cảm tính với chung chung, để đóng góp
phần mình vào nỗi “loạn chuẩn” kia, sao?
5. Cuối cùng, quen rên rỉ ỉ ôi người thiên
hạ, trong khi chính ta lạc hậu từ đời nảo đời nao mà không tự biết. “Lâu nay, tôi thường có thói quen đọc các bài “phê bình điểm sách” thơ
bằng cách đọc dăm bảy câu thơ dẫn chứng. Nếu thấy các dẫn chứng không thuyết
phục thì không đọc nữa. Tôi tin không có “bột” thì dù có tán hươu, tán vượn thế
nào, cũng không thể “gột” nên “hồ” được. Dần dần, tôi loại bỏ bằng cách không
đọc những bài viết kiểu này. Tôi tin nhiều độc giả cũng cách phản ứng giống tôi”(5). “Nhiều
độc giả cũng cách phản ứng giống” như thế, không sai. Đó là độc giả của
sách giáo khoa cấp Trung học Phổ thông. Viết giáo khoa thư THPT, nhà phê bình
buộc phải trích bình những đoạn thơ hay, đẹp theo quy chuẩn đã được thừa nhận
rộng rãi. Ở đó, “bình” là chính. Trong khi phê bình ngoài trần gian muôn màu thì khác, hoàn toàn khác. Tại đây, thứ nhất, có khi nhà phê bình chỉ
lôi các câu/ đoạn thơ dở để phê, không mục đích nào khác là bảo vệ luận điểm
của mình. Thứ hai, họ có thể dẫn ra các đoạn thơ [họ cho là] hay để luận. Chính
điểm này đáng quan tâm hơn cả, vì đoạn trích mà theo quán tính ta cho là “không
có bột” nhưng với cách nhìn khác, họ đã “gột nên hồ”, mới đáng giá. Đọc bài phê
bình là đọc luận điểm độc đáo cùng lập luận thuyết phục kia của nhà phê bình; các
trích đoạn có mặt là cần thiết, nhưng nó chỉ đóng vai phụ. Lưu trì quán tính lâu đời hay “thói quen đọc
các bài “phê bình điểm sách” thơ bằng cách đọc dăm bảy câu thơ dẫn chứng… không
thuyết phục” rồi bỏ qua một bài phê
bình, là thói tật xấu. Xấu, và lỗi thời. Lỗi thời, bởi - dấn thêm một
bước - thứ ba, mỗi hệ mĩ học có cái “hay” khác nhau, chúng bổ sung cho nhau
hoặc vượt qua nhau. Nếu đoạn thơ trích dẫn thuộc hệ mĩ học hậu hiện đại, mà ta
mãi đứng ở lãnh địa hiện đại dòm qua thấy “không có bột” rồi quay lưng bỏ đi,
là vô hình trung ta đóng cửa với chính mình trước cái mới, cái xa lạ. Ta tự
thôi học rồi còn gì!
* Vậy đó, tiếp nhận thành quả người đi
trước bắt mạch căn bệnh phê bình từng tàn phá cơ thể văn học Việt Nam, thay vì
mổ xẻ mấy ung nhọt kia và cương quyết rũ bỏ chúng, ta đã làm điều vô bổ: than
thở với đổ thừa. Than thở và đổ thừa đầy mơ hồ, vừa lầm lạc vừa lỗi thời. Lỗi
thời nên, càng lầm lạc. Lầm lạc kéo dài và lây lan đến thành một thứ hội chứng
khó chữa trị. Đối mặt với hiện trạng phê bình kia,
nhà phê bình tự trang bị tinh thần và cả thái độ mới. Đòi hỏi trước tiên là nhà
phê bình tự thức toàn diện và sâu thẳm về sự yếu kém của bản thân nền phê bình,
nhận mặt căn bệnh và cương quyết rũ bỏ chúng. Tư thế tự do, tự
do khỏi mọi ràng buộc định kiến nghệ thuật, ý thức hệ tôn giáo hay chính trị,
quyền lợi phe nhóm, quen biết anh chị em bằng hữu. Có cái nhìn toàn cảnh văn học Việt
Sài Gòn,
31-3-2012 * Các trích dẫn từ báo Văn nghệ trẻ, tháng 2&3-2012: Thiên Sơn (1), Trần Thị Thục (3), Hoàng Thụy Anh (4), Đặng Huy Giang (5), và báo Văn nghệ, ghi chép Tọa đàm tại Viện văn học: "Phê bình văn học - bản chất và đối tượng", tháng 5-2004 (2). CÁC TIN TRƯỚCCÁC TIN TIẾP THEO |