Thi pháp ngôn ngữ thơ Dương Kiều Minh


(Hoàng Kim Ngọc)     

Thi sĩ Dương Kiều Minh (DKM) đã xuất hiện như một sứ giả để ghi lại những vui buồn, ám ảnh cõi người, những giấc mơ tâm linh đồng hành với chuyển động của vũ trụ và vẻ đẹp của thiên nhiên… Ông đã tạo dựng một không gian và thời gian riêng cho thơ mình - điều đó đã làm nên một giọng điệu mới không chỉ cho riêng ông, mà cùng với một vài gương mặt tiêu biểu khác, mở đường cho khuynh hướng thơ đổi mới. Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến thời gian, không gian nghệ thuật và ngôn ngữ miêu tả trong thơ ông, nhằm mục đích qua đó, tường giải và nhận chân rõ rệt ngôn ngữ - thi pháp thơ DKM.

I. Thời gian nghệ thuật

Hình tượng thời gian nghệ thuật luôn mang tâm lí và quan niệm chủ quan của tác giả về thời gian. Nó là phương tiện nghệ thuật sinh động để phản ánh tâm tư, thể hiện những ám ảnh, cảm xúc thẩm mỹ và ý thức về thời gian của chủ thể trữ tình.

1. Các đơn vị thời gian xuất hiện trong thơ DKM

Đọc thơ DKM, chúng tôi thấy những đơn vị đo đếm thời gian xuất hiện với tần số lớn. Cảm thức thời gian ở đây đã bao trùm lên từng trang viết của ông. Ông hay suy tưởng, đếm thời gian để ngẫm ngợi và tự trải nghiệm trong các giai tầng cảm xúc. Từ những đơn vị thời gian ngắn nhất được tính bằng sát na đến những đơn vị thời gian dài nhất được dồn nén bằng kiếp người, bằng thế kỉ:

 

ĐƠN VỊ TG

                                 TỪ NGỮ CỤ THỂ

Phút, giây

chớp mắt, tiếng “xoạt”, phút cuối tàn, giây khắc cuối cùng của cuộc đời

Giờ

 giữa ngọ, giờ sửu, hai giờ sáng, hai giờ rưỡi sáng, ba giờ sáng, bốn giờ sáng, năm giờ sáng, 9 giờ 10,…

Buổi

Buổi sáng: sớm vắng, sớm đông, ban mai…

Buổi chiều: hoàng hôn, chiều cuối năm, chiều muộn, chiều xuống…

Buổi đêm: nửa đêm, đêm chủ nhật, đêm đêm, đêm không ngủ, đêm trắng, bầu đêm tinh khiết, đêm tàn, đêm mưa, đêm lạnh, đêm xuân, đêm trừ tịch, đêm mùng 4 tết, đêm rỗng lặng, thâu đêm tới sáng, canh khuya thanh vắng…

Ngày

ba ngày, ngày tháng chín, ngày tháng mười, ngày giỗ, ngày giỗ mẹ, ngày cuối thu, ngày cơm mới, ngày cuối tháng trọng thu, ngày tháng chạp, ngày mưa lạnh, ngày mùng 8 tháng 4, 90 ngày, 100 ngày, 364 ngày…

Tuần

tuần đầu tháng 4…

Tháng

tháng giêng, tháng ngâu, tháng mười một, tháng trọng đông…

Tết

Tết Trung nguyên, tết Giáp Thân, giao thừa…

Mùa

Xuân: mùa xuân, xuân khởi, xuân phân, cuối xuân…

Hạ: mùa hạ, mùa hè, hạ chí…

Thu: mùa thu, đầu thu, cuối thu…

Đông: mùa đông, đầu đông, đông chí…

Ngoài ra còn có: mùa gieo vãi, mùa nghiêng đổ những ngày buồn bã

Năm (tuổi)

Cuối năm Đinh Hợi, đầu xuân 2010, đầu xuân 2011, năm cùng tháng tận, tám năm, mười năm, mười ba năm, mười lăm năm, hai ba mùa xuân, hai bốn năm, hai nhăm năm, ba mươi năm, ba ba năm, bốn mươi năm, năm mươi năm, mấy chục mùa thu; sáu tuổi, chín tuổi, mười ba tuổi, mười sáu tuổi, mười bảy tuổi, tuổi đôi mươi, ba sáu tuổi, tuổi ba bảy, tuổi bốn mươi, tuổi ngũ tuần, tuổi năm mươi, tuổi già,…

Đời người

đoạn đời, quãng đời, nửa đời, đời người, vòng luân hồi, tái sinh…

Thế kỉ

Đầu thế kỉ,  ngày tháng cuối thế kỉ, một thế kỉ trôi qua…

 

Đơn vị thời gian trong thơ DKM thường kết hợp với các số từ và các thành tố phụ bao quanh nó nên đã tạo thành những mốc thời gian cụ thể, rõ ràng, ít tính ước lệ. Những mốc thời gian ấy vừa mang tính quan niệm, vừa là thủ pháp nghệ thuật thường thấy trong truyền thống thơ phương Đông. Trong thơ ông, các tuyến thời gian quá khứ - hiện tại - tương lai đan xen nhau, có lúc đảo tuyến: “hương mùa thu dậy khu vườn mùa hạ” (tr.308). Vì thời gian khác nhau kéo theo không gian khác nhau nên các thi ảnh thường đồng hiện, chồng lấn theo kiểu “ký ức xếp chồng mùa” (tr. 296), tạo ra lớp lớp những thông điệp chuyển tải tâm trạng của cái tôi trữ tình. Và cũng có lẽ bởi chịu ảnh hưởng một phần của thi pháp thơ cổ điển phương Đông (như DKM đã có lần tự bạch “Tôi ngủ thiếp trong bài thơ Đường”) nên ông thường ưu tiên cho thời quá khứ, được thể hiện dưới dạng thời gian kí ức (hồi tưởng, vọng niệm…)

Trước DKM, Nguyễn Bính cũng là người hay dùng số từ để đếm nhưng lại thường là những con số ước lệ (đôi, vài, dăm, trăm, nghìn…), nếu có những con số cụ thể thì thường nói về sự tương tư nhung nhớ người tình: Tương tư một đêm năm canh chẵn/ Nhớ nhung một ngày mười hai giờ (Ái khanh hành) hoặc: Chờ mong như suốt đêm qua/ Chàng ơi một tháng là 30 ngày (Chờ mong). Trong bài “Tập đếm” của Nguyễn Trọng Tạo cũng có những đơn vị thời gian cụ thể như 24 tiếng, mỗi ngày, cả tuần nhưng cũng xuất hiện từ tâm lí ngóng đợi mỏi mòn của những kẻ yêu nhau. DKM ít viết thơ tình, bởi thế những con số chỉ thời gian cụ thể trong thơ DKM thường là các mốc tâm trạng quan trọng để nhà thơ thể hiện lòng yêu mến thiên nhiên tạo vật bốn mùa xuân, hạ, thu, đông hay tâm trạng cô đơn đau đáu với câu hỏi về lẽ tồn sinh của kiếp người, nỗi niềm vọng niệm về cố hương, cha, mẹ, người thân hoặc về những nơi mà nhà thơ đã từng đi qua in dấu ấn cuộc đời. 

 

2. Biểu tượng thời gian đêm

 Thời gian trong thơ chính là sự phản ánh một cách rõ ràng tâm trạng của nhà thơ và nó cũng là yếu tố tạo nên phong cách riêng của tác giả. Những từ đêm, đêm đêm, đêm khuya, nửa đêm… đã tái hiện một lớp thời gian ám ảnh của tâm trạng, chúng có mặt ngày càng nhiều trong các tập thơ về sau, khi ông đã chớm bước vào tuổi già và bệnh tật hoành hành. Thời khắc buổi đêm là khởi điểm của tâm trạng rõ nét nhất. Con người như tự đối thoại với những nghiệp nhân, nghiệp quả do bản thân tạo ra trong đời sống bình nhật. Không gian như đi vào tĩnh lặng thì tâm trạng của con người cũng vận động trong cô đơn não lòng. Người thường thức giữa đêm, cảm nhận được bước đi thời gian là con người có nhiều nỗi buồn. Ông khá am tường triết học phương Đông, có những hiểu biết sâu sắc về Phật giáo, luôn biết đời người là ngắn ngủi, mong manh:

- đời người thoáng qua như một cơn say (tr. 364)

- Cuộc đời bóng câu lướt qua ô cửa/ Giấc bàng hoàng dưới tán xum xuê  (tr. 58)

- Đời người là một giấc mộng không hơn một giấc mộng? (tr. 430)

- ô hô, thiên thu/ Chớp mắt, chớp mắt (tr. 434)

Vì thế, hy vọng kéo dài thêm sự hữu hạn của kiếp người nên DKM thường xuyên trở dậy trong đêm để suy niệm sáng tạo, để khát vọng, để ngẫm ngợi về nhân tình thế thái, để trăn trở về sự tồn sinh của kiếp người, để làm tròn trách nhiệm cao cả và thiêng liêng của một nhà thơ “ca ngợi thanh bình” (tr. 156) với khát vọng: “nới rộng những chân trời chật hẹp”. Ông đã sống hết mình với công việc của một nhà thơ “một đời cặm cụi tàn canh” (tr. 140) “kẻ đêm đêm ngước bầu trời yên tĩnh/ hú gọi yêu thương về với con người” (tr. 123), và ông cho đó là vừa là nghiệp lực, nghiệp chướng vừa là quà tặng của Thượng đế.

Cảm thức về thời gian của một đời người thường ám ảnh DKM.  Điều mà ông tâm đắc, mê dụ gần với sự sắc sắc không không của đạo Phật, những cần và đủ cho một đời người, để rồi thấy mọi sự dường như là hư vô và dự cảm những báo động xã hội khi con người nhân thế bị lôi cuốn vào vòng quay của nhịp sống hiện đại với sự chen lấn xô bồ của thế giới vật chất. Ông viết:

    Ta chợt thấy hoang mang con người cuốn mất tăm vào thế giới vật chất, không hiểu để làm gì. Ân huệ hay gánh nặng (tr. 455)

Đó là những câu thơ viết ra sau một đời trải nghiệm cho thấy mọi sự phù du, hão huyền khi con người bị dòng hải lưu của đời sống vật chất cuồn cuộn cuốn đi. Câu thơ trên mang ý nghĩa thiền - một tâm thế thiền đương đại.

DKM gần gũi với thiên nhiên và nhận thức quy luật tuần hoàn của đời người từ trẻ đến già, buồn vui giao thoa giống như sự vận động của thiên nhiên từ ngày sang đêm, từ xuân sang đông. DKM có những quy ước về thời gian rõ ràng. Trong thơ ông, buổi sớm, buổi trưa, mùa hạ thường là những tín hiệu thẩm mỹ để nói về niềm vui dạt dào hoặc tuổi ấu thơ, trai trẻ. Còn thời khắc cuối ngày, buổi chiều tối, đêm khuya, mùa đông lại là những tín hiệu thẩm mỹ nói về tuổi già hoặc nỗi đau buồn:

- Mẹ già nua như những buổi chiều (tr. 24)

- Nỗi đau như đêm tối ùa về (tr.41)

- Tuổi già từng ngày từng ngày như ánh chiều lấn vào bóng đêm (tr.356)

 

3. Biểu tượng thời gian mùa xuân và mùa thu

Bốn mùa thời gian luôn đủ mặt trong thơ ông với những cảm hứng và tâm trạng khác nhau. Mùa xuân với “hội hè đình đám”, đất trời tràn đầy sinh khí. Mùa hè, thiên nhiên thường rực rỡ vui vẻ.

Ông quan niệm tâm trạng của thi nhân cũng biến đổi theo mùa: Xuân sinh -  hạ trưởng - thu liễm - đông tàng (tr. 243) (mùa xuân là mùa sinh sản, mùa hạ tăng trưởng, mùa thu thâu rút lại, mùa đông ẩn tàng chất chứa).

 Bước vào tuổi ngũ tuần tôi chợt nhận ra rằng, cái dinh dưỡng đời sống tinh thần của các nhà Nho Á Đông là sự chuyển động của mùa, thiên nhiên biến đổi theo mùa luôn mới mẻ và sinh động (tr.558).

Trong thơ DKM, thiên nhiên, thế giới ngoại cảm và chủ thể trữ tình, thế giới nội tâm luôn hòa điệu trong mối tương thông tương cảm. Tâm thức nhà Nho, cốt cách thơ cổ điển được khoác một vỏ bọc hiện đại trong cách diễn đạt.

Tần số từ các chỉ mùa trong Tuyển tập thơ Dương Kiều Minh [bao gồm 7 tập thơ nhỏ: Củi lửa (CL), Dâng mẹ (DM), Những thời đại thanh xuân (NTĐTX), Ngày xuống núi (NXN), Tựa cửa (TC), Tôi ngắm mãi những ngày thu tận (TNMNNTT), Khúc chuyển mùa (KCM)] xuất hiện như sau:

 

Tập

Mùa

CL

DM

NTĐTX

NXN

TC

TNM

NNTT

KCM

TỔNG

Xuân

4

15

6

16

34

76

47

198

Hạ

13

5

8

9

38

22

10

95

Thu

8

10

10

14

29

51

34

156

Đông

5

5

 

8

15

35

18

86

Tổng số

30

35

24

47

106

184

109

535

 

Qua bảng thống kê, có thể thấy từ chỉ mùa xuất hiện rất cao: 535 lần. Trong 4 mùa ấy, DKM lại dành cho mùa xuân và mùa thu nhiều cảm hứng hơn. Có lẽ vì yêu mến thơ Đường, kính trọng Lý Bạch với bài “Xuân tứ” nổi tiếng, yêu mến dòng thơ Thiền với thiền sư Huyền Quang - người thích viết về mùa thu (hai nhà thơ này đã được DKM trân trọng dành cảm xúc trong tuyển tập thơ của mình) mà DKM thích học tập các vị ấy viết về mùa xuân và mùa thu chăng?

 Tập thơ Tôi nhớ mãi những ngày thu tậnKhúc chuyển mùa, từ xuânthu lại có số lần xuất hiện vượt trội so với 6 tập còn lại. Có thể thấy, càng nhiều tuổi, DKM càng tìm về với quan niệm và cốt cách của các nhà Nho Á Đông, với triết lí phương Đông, thích gần gũi giao hòa với thiên nhiên vũ trụ. Mùa xuân, mùa thu đã chở nặng nỗi niềm và đã trở thành niềm xuân, niềm yêu, niềm thống hối, niềm vọng niệm, niềm thu, vẻ thu, tấm thu, khúc thu… Mùa thu thường đem lại nhiều cảm hứng cho nhiều thi sĩ. Mùa thu của DKM đôi khi cũng có cảm xúc vui: Triệu ngọn nến thắp mùa thu vàng rực/ Niềm vui dạo bước (tr. 91) nhưng chủ yếu thường mang tâm trạng buồn, nỗi trắc ẩn về sự nghèo khó của những người nông dân: “Xóm núi nghèo vườn thu xơ xác”, “thu, mùa thu nấc nghẹn ngào”, “thu khốn khó những cuộc đời lam lũ” (tr. 126). Mùa thu không chỉ là mùa, mà còn là một người bạn tâm giao, một tri âm tri kỷ để ông chia sẻ, để ru những cô đơn, những muộn phiền… Thời gian mùa thu mang tâm thức của một thi nhân. Thơ ông mong manh trước mùa thu, lớn lao trước độ thu về và trào dâng niềm hứng khởi mãnh liệt trước mùa xuân. Tuy nhiên vẫn là một phong vận xuân, thu phảng phất chất cổ điển trong một người thơ hiện đại với lối diễn đạt hiện đại.

Thời gian và không gian trong thơ DKM là cặp phạm trù đồng hiện, song hành và hòa quyện cùng nhau. Trong thời gian có không gian và ngược lại. Việc mổ xẻ, thống kê con số chỉ nói lên phần nào tần số xuất hiện của cặp phạm trù này, qua việc tổng kết những trường từ vựng ưa dùng, có thể tiếp cận tâm thức, trạng thái tình cảm với nhiều cung bậc cảm xúc khác nhau của DKM.

 

II. Không gian nghệ thuật

            Không gian nghệ thuật cũng là một phương diện quan trọng của thi pháp. Nó là phương tiện để tác giả gửi gắm các hình ảnh quan trọng mang ý nghĩa biểu tượng chiếm lĩnh tâm hồn, tư tưởng của chính họ.

DKM đã nhiều lần nhắc đến “một không gian rộng lớn”, “không gian vô tận” ở đó chứa chất những hình tượng nghệ thuật của tác giả. Trong lời tựa tập “Tựa cửa”, ông đã viết: “Trời, đất, núi, sông, chim muông, cây cỏ cùng công nghiệp của con người muôn đời vẫn thế, có chăng mỗi thời mỗi khác, mỗi người mỗi vẻ”.

Không gian trong thơ DKM là không gian phồn sinh của miền núi, trung du và miền thôn dã châu thổ sông Hồng với những đặc trưng phong phú riêng biệt.  Vì vậy, thế giới hình tượng của thơ ông cũng rất đa dạng, nhưng trong đó nổi bật lên 3 hình tượng trung tâm: con đường, cánh đồng, người mẹ

 

1.      Biểu tượng con đường

Hình ảnh con đường đã làm nền không gian vũ trụ trong thơ DKM, một “thế giới phi sắp đặt” đã “dần dần hiện ra theo con đường dưới sự chỉ dẫn của cảm xúc và tưởng tượng thi ca”. Theo thống kê của chúng tôi, thi ảnh con đường xuất hiện trong “Tuyển tập thơ Dương Kiều Minh” tới 237 lần (trong đó ở tập Củi lửa là 9 lần, tập Dâng mẹ: 14 lần, tập Những thời đại thanh xuân: 4 lần, tập Ngày xuống núi: 11 lần, tập Tựa cửa: 33 lần, tập Tôi ngắm mãi những ngày thu tận: 102 lần, Khúc chuyển mùa: 64 lần). Riêng tập thơ “Tôi ngắm mãi những ngày thu tận” viết những năm cuối đời thì hình ảnh con đường xuất hiện nhiều hơn, bởi ngoài nghĩa đen, nhà thơ đã chuyển nó thành nghĩa ẩn dụ cho cuộc hành trình của một kiếp đời.

 Ông nhận thấy cuộc đời này có hai loại đường: con đường có thực, cụ thể, theo nghĩa gốc, nghĩa đen mà nhà thơ đã bước chân đến: Con đường vào núi, con đường ven núi hoa dại nở trắng xóa, con đường dốc, con đường sỏi và đá gan gà, con đường màu đất hung hung, con đường lầm bụi công trường, con đường ngang qua biên ải, con đường qua bản, con đường từ nhà đến nơi mẹ nằm, con đường thân thương bóng mẹ, con đường quen, con đường quê kiểng, con đường đồng bãi, con đường lát đá, con đường đắp đất, con đường sương phủ cuối đông,  con đường chằng chịt trên mặt đất, con đường ngan ngát đang trưa, con đường buổi sớm, đường ngang ngõ tắt, đường giữa ngọ, đường chiều sẫm chín, đường làng ẩm ướt, lầy lội, đường làng gồ ghề, khúc khuỷu, đoạn đường nước tràn xối xả, con đường ô rô chạy men đồng bãi, con đường ngợp bóng cây, con đường đốm nắng, con đường bụi mưa lất phất, con đường phi lao cao vút xanh đen, con đường rêu đá, con đường có bụi hoa trinh nữ, con đường từng chùm hoa trúc buông rủ, con đường dương liễu, con đường cỏ ướt, con đường hoa vối, con đường nồng nã, con đường cổ xưa, xưa cũ, v.v..

Con đường trừu tượng theo nghĩa chuyển, nghĩa ẩn dụ: Đường đời, đường trần mịt mùng khổ ải, đường trần thong dong, con đường định mệnh, con đường dài dặc, con đường gió bụi xa xăm, con đường xuân nao nức, con đường thanh cao, con đường xao nhãng, con đường cổ nhân, con đường gia tộc, con đường mặn mòi mồ hôi của mẹ, con đường nối những con đường không bao giờ dừng lại, con đường riêng để trở về, con đường độc đạo của kí ức, con đường băng qua kỉ niệm, chất đầy kỷ niệm, con đường quá vãng, con đường thơ ấu, những nẻo đường chống chếnh lạnh lẽo, con đường trườn lên các thời xưa, con đường vươn về thực tại, con đường dốc thế gian, con đường nghèo khó, khó nhọc, con đường nằm khuất từ thế kỉ này đến thế kỉ khác, mê lộ, đường vòng khuất khúc của số phận, đường viền xứ xở, đường của thiên khí, đường bay nỗi niềm nhân thế, con đường ánh sáng, con đường đơn độc ngút ngàn ước vọng, con đường - Chân Dung Khát Vọng, đường dẫn tới im lặng, con đường hút hắt về nguồn, v.v..

 Hình ảnh con đường hầu như là biểu tượng có mặt trong thi ca của nhân loại nhưng có lẽ cũng ít nhà thơ Việt Nam nào nói về con đường nhiều hơn DKM. Nó đã trở thành một ám tượng và biểu tượng của thơ ông. Có bao nhiêu định ngữ cho danh từ “con đường” là có bấy nhiêu cách diễn đạt và miêu tả phong phú về con đường và không gian ấy, không gian khách thể và không gian tâm tưởng. Trên những con đường, ông luôn tự nhận mình là khách bộ hành, mãi mãi là lữ khách “đường xa một mình một bóng”. Đây chính là cuộc hành trình để tìm đến đích cuối cùng của đời người, để đến với hạnh phúc, chân lí sau khi đã đốn ngộ.

 

2. Biểu tượng cánh đồng

Không gian trong thơ DKM hiện lên với nhiều thi ảnh nhưng nổi bật nhất là hình ảnh cánh đồng cỏ hoa và một thế giới tràn ngập màu sắc, thanh âm, mùi vị tạo sự “tương ứng của các giác quan”. Tất cả được tái hiện bằng ngôn từ đẹp, trong trẻo và buồn

2.1. Thế giới cỏ hoa

 Không gian cánh đồng trong thơ ông tràn ngập cỏ cây hoa lá, hoa luôn là đối tượng thẩm mĩ của cái đẹp, có lẽ cũng ít nhà thơ Việt Nam nào nói về sự có mặt của các loài hoa nhiều hơn DKM. Theo thói quen của một nhà ngôn ngữ, chúng tôi đã thống kê và thấy khoảng hơn 50 loài hoa có mặt trong thơ ông: hoa cỏ, hoa đồng nội, hoa không tuổi tên, hoa dại, cúc dại, hoa cải, hoa cải cúc, hồng dại, hoa bưởi, mận, đào, táo, nhãn,  hoa gạo, hoa lim, phượng vĩ, bằng lăng, hoa gai, hoa sể, ngọc lan, thiết mộc lan, thục lan, tiểu li lan, bạch liên, hải đường, trạng nguyên, đỗ quyên, xương rồng, phù dung, sen, súng, khế, lau trắng, lau tím, vi ô lét tím, loa kèn đỏ, hoa vối, ngâu, thanh trà, thủy tiên, hoa bàng, dâu da xoan, hoa trúc, hoa ngô đồng, phương đình, tầm xuân, dành dành, hoa sam đất, hoa rau khúc, hoa lạc tiên, trinh nữ, hoa mùng tơi, hoa rong riềng, râm bụt, ngải tiên, rồi cả hoa sớm nở tối tàn, bông hoa hiền dịu, hoa lạnh…thậm chí cả hoa nắnghoa khói nữa…

 Tỉ lệ những loài hoa dại, không tuổi tên và những loài hoa nhỏ bé, bình dị, quê kiểng có mặt trong thơ ông nhiều hơn các loài hoa sang quý, chúng đều gợi cho ông sự chạnh lòng, niềm trắc ẩn, nỗi hoài vọng về một cố hương đẹp mà nghèo:

- Buồn nẫu ruột bên đường bụi hoa hoang dại mùa xuân nở trắng (Niềm vọng niệm)

- Những bông hoa đồng nội mỏng mảnh quên lãng đua nhau nở bên bờ quê như nhắc nhớ sự đơn sơ đạm bạc… (Chạnh niềm thôn dã)

 Ông luôn quan sát thiên nhiên theo quan điểm của người phương Đông: tản điểm. Đôi mắt nhà thơ phóng chiếu mọi tầng không gian, khi ngước lên cao thấy bóng các cây cổ thụ, thấy “đỉnh đồi”, “đỉnh núi”, “đỉnh trời”, “đỉnh chiều”(tr. 503) và khi nhìn xuống thấp, tâm hồn đa cảm, tinh tế đã khiến ông rưng rưng cảm thương cả những nụ, bông bé nhỏ nằm sát mặt đất:

- Những bông hoa khế nhỏ xíu tím nhạt rơi đầy trên nền đất (tr. 400)

- Kìa, những nụ hoa bé tí xíu nhú lên như những hạt tấm  (tr. 420)

Có những tên hoa có lẽ chỉ xuất hiện trong thơ ông như một bản quyền hoa:

- Xa xa núi/ Xa xa mùa hoa khói (tr. 76)

- đỏ lùm hoa phương đình (tr. 280)…

2.2. Thế giới màu sắc

 Sau đây là bảng thống kê màu và tần số xuất hiện của màu:

 

           Tập

Màu

CL

DM

NTĐ

TX

NXN

TC

TNM

NNTT

KCM

Tổng số

Trắng

7

6

5

5

9

25

7

64

Xanh

11

5

4

 

14

14

10

58

Đỏ

5

1

1

2

11

13

5

38

Vàng

6

9

5

3

9

8

3

43

Tím

3

0

0

0

0

6

2

11

Nâu

1

0

 

2

1

1

1

6

Đen (Thâm)

1

1

 

3

 

10

3

18

Xám

 

 

 

 

2

2

1

5

Hung

 

 

 

 

1

 

 

1

Chàm

 

 

 

 

 

 

2

2

Tổng số

34

22

15

15

47

79

34

239

 

Nhìn vào bảng thống kê, ta thấy tần số xuất hiện các loại màu là 239 lần. Thơ DKM có đủ sắc màu nguyên rõ nét: trắng, xanh, đỏ, tím, vàng, có gam nóng, gam lạnh và cả các màu pha: nâu, xám, hung hung… Chúng góp phần thể hiện đầy đủ và diễn tả rất đúng các cung bậc vui buồn trong tâm trạng của thi nhân. Những màu “xấu” (đen, xám) chỉ có mặt ở giai đoạn sau, khi tuổi già và bệnh tật ập đến, còn ở tập thơ “Những thời đại thanh xuân” viết khi trai trẻ không có những màu này. Trong “bảng màu” của ông, ta thấy tần số xuất hiện màu trắngxanh tương đương nhau và nhiều hơn các màu khác. Đây là hai màu chủ đạo. Vì thế, thơ ông thiên về gam lạnh, mát mẻ, nhẹ nhàng, trong trẻo và buồn [(ngay cả màu tím của ông cũng thường lạnh: (hoa khế) tím nhạt, (hoa lau) tím lạnh]… Cảm quan phương Đông cũng ảnh hưởng tới màu sắc của DKM. Thơ Thiền thường tránh những màu rực rỡ. Đặc biệt, ông thường chọn những gam màu lạnh để làm nền cho việc diễn tả tâm trạng nhói buồn, xa xót:

-         Hoa nở trắng buồn hơn mùa xuân trước (tr. 141)

-   Vòm hoa trắng rợn góc rừng (tr.197)

-   Ta già rồi/ Màu xanh trào nước mắt (tr. 353)

-         Màu xanh rưng rức dậy buồn (tr. 54)

-         Tôi sợ heo may trở về/ Những bông lau tím lạnh phất nỗi sầu dằng dặc (tr. 475)

DKM rất tinh tế trong miêu tả màu sắc. Từ những màu nguyên cơ bản, ông đã tạo ra các màu với sắc độ khác nhau, cảm xúc khác nhau bằng cách kết hợp với các thành tố phụ chỉ mức độ, sắc thái; có bao nhiêu kết hợp là có bấy nhiêu biên độ sắc màu. Đặc biệt, sắc màu luôn luôn được biến đổi qua lăng kính của tâm trạng:

 

MẦU

THÀNH TỐ PHỤ CỤ THỂ HÓA

Trắng

Tinh, toát, ngần, xóa, lặng, rợn, trong ngần, mỏng…

Xanh

nhớt, xám, sẫm, thẳm, đen, da trời (thiên thanh), mướt, ngọc, non, bóng, lất phất chấm vàng, ngắt, xanh, om, bây bấy, biếc biếc, rưng rức, quằn quại, lá cây, nước biển, nao lòng, trào nước mắt, thôn làng, ngô mía, cánh đồng vào hạ,  loài keo tai tượng, đôi mắt…

Đỏ

Rực, chói, thắm, sẫm, lạnh…

Vàng

sậm, rưng rức, lóa chói,  ngậy, mơ, rực, ố, vạnh, hoàng thổ (vàng đất)…

Tím

ngát, rực, tim tím, nhạt, lạnh…

 

Nhìn vào bảng, ta thấy màu xanh phong phú hơn cả. (Lưu ý, màu xanh trở thành một ám thị màu, hình ảnh chiếc ô tô, ngôi nhà và thậm chí cả chiếc vĩ cầm trong thơ ông cũng có màu xanh). Bằng nghệ thuật đảo ngữ, ông đã tạo ra những màu xanh mới, chẳng hạn: loài keo tai tượng màu xanh ® màu xanh loài keo tai tượng;  ngô mía màu xanh ® màu xanh ngô mía, thôn làng màu xanh ® màu xanh thôn làng; cánh đồng vào hạ màu xanh ® màu xanh cánh đồng vào hạ; đôi mắt màu xanh ® màu xanh đôi mắt.  Ví dụ:

-                     Những quả đồi nhấp nhô những hòn đảo nhỏ lấp lóa màu xanh loài keo tai tượng  (tr. 255)

-                     Kia con đường ấu thơ xuyên qua cánh đồng rộng lớn rồi mất hút vào màu xanh thôn làng (tr. 464)

-                     Lối nhỏ phố theo mưa rực màu xanh cánh đồng vào hạ (tr. 499)

-                     Chợt ấm lại  màu xanh ngô mía bên sườn xám lạnh (tr. 522)

-                     Sông xanh quá màu xanh đôi mắt (tr. 298)

Từ chỉ màu được dùng làm định ngữ cho nhiều danh từ là các đối tượng miêu tả khác nhau đã hiện lên một loạt những hình ảnh đa dạng, phong phú trong thơ DKM. Nhìn chung có thể thấy rất rõ các đối tượng miêu tả trong thơ ông chủ yếu là trời mây, cỏ cây, hoa lá, chim muông và kí ức về cố hương với những con người “thân phận”.

 

ĐỐI TƯỢNG MIÊU TẢ

MÀU

ngôi nhà thiêm thiếp, bướm, hàng cây, lim, bạch đàn, nắng, hoa nắng, sương, nón, áo, áo dài, vành khăn chít, mái đầu, viên sỏi, trái núi bị đẽo gọt loang lổ, chim âu, bồ câu, ngựa (bạch),  bụi phủ, cánh buồm, mây,  ngày xuân, đêm, trang, giấy, làn nước mát từ đầu nguồn đổ xuống vách núi một dải, hoa dâu da xoan, hoa lạc tiên, hoa mận, hoa táo, hoa dại, vòm hoa, cánh hoa, hoa lau, mưa thu, mưa rào, mưa đầu hạ…

 

 

 

         TRẮNG

trời, ô tô, ngôi nhà, vòng cỏ (mộ cha), chiếc nôi, mây, chim tước, đáy biển, gió và biển, tấm áo, chiếc chuông, tóc, chiếc vĩ cầm, lá dong, keo tai tượng, bờ thanh táo, bức tượng đá, sông, gò đống, những con đường phi lao cao vút, thiên khí dẫn vào lòng đất, tán phượng, tán bàng, rặng trúc, tàu cọ, đầm sen, ngô mía, thung lũng, khoảng không, thôn làng, ngô mía, cánh đồng vào hạ, ngày …

 

 

 

            XANH

ngọn nến, hàng cây, sông Hồng,  thảm hoa, chùm hoa, áo, nỗi niềm, lá, cây sơn trà phô chùm quả, hoa trạng nguyên, bông râm bụt, quả hồng giấy chín, hạt cườm cườm, chiếc xe, chùm quả mâm xôi chín,  hoa phượng, loa kèn, lùm hoa phương đình, khóm hải đường, tán bàng, chùm cây gai hoa xía lên, cây gạo già lóe bông hoa, mặt trời, những cánh rừng vào đông ngời lên… 

 

 

             ĐỎ

cánh đồng hoa violét dâng ngập màu xuân, bằng lăng, chùm mùng tơi, bông hoa khế nhỏ xíu, bông lau…

             TÍM

bức rèm hoa lấp lóa, nắng, lá úa, mây, trăng mười sáu, ngồng cải nở, dải khăn, mùa thu, ngựa, lâu đài, đụn rơm, tro, ánh hoàng hôn, mùa, giấy ố, cúc dại, đồng lúa, cốc chè, hoa đồng, mật khải mở từng trang, hạc, trái bàng chín, ngôi nhà quét màu…

 

         VÀNG

 

Trong 2 tập thơ cuối: Tôi ngắm mãi những ngày thu tậnKhúc chuyển mùa thì gam màu lạnh thường lấn át màu nóng. Trong cảm quan nghệ thuật của ông, màu nóng bao giờ cũng vui vẻ, màu nóng ở hai tập thơ này chỉ xuất hiện như một tín hiệu thẩm mỹ màu để chỉ thời thanh xuân trai trẻ mà nhà thơ vọng niệm, hoặc nó chỉ hiện ra trong khung cảnh đơn độc (là bông hoa gạo sót lại cuối mùa, là bụi gai có một bông hoa đỏ xía lên trời…). Vì thế âm hưởng thơ của DKM càng về sau càng buồn bã, càng lạnh lẽo. Nhìn chung, thơ của ông có nhiều hình ảnh lạnh, ví dụ: “hoa lạnh” (tr. 51), “trăng lạnh” (tr. 287), “gió lạnh” (tr.101), “đường lạnh” (tr. 285), “khí lạnh”, “vì sao xa lạnh” (tr.127), “giếng hoang lạnh” (tr. 289), “cô độc tỏa rợn lạnh” (tr. 284), “tiếng người lành lạnh” (272), “lưỡi gươm sáng lạnh” (tr. 318), “chiều lạnh” (tr. 509), “nước lạnh buốt” (tr. 549) và “khói bếp chiều cũng lạnh” (tr.41), thậm chí có cả thời gian lạnh” (tr. 221) (thời gian ở đây đã không còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà đã trở thành một thực thể có cảm giác)…Nhưng DKM lại có một cảm quan thẩm mỹ riêng: càng lạnh càng đẹp, càng buồn càng đẹp: “Càng giá lạnh vẻ đẹp càng trong suốt” (tr. 510), Ồ, trăng tháng mười như khối ngọc giữa nền trời lạnh (tr. 343), Vẻ ảm đạm của chiều thu thật đẹp (tr. 507). Nỗi buồn trong thơ ông là nỗi buồn trong trẻo và thanh cao.

 

2.3. Thế giới mùi vị

Trong không gian rộng lớn của cánh đồng đó có vô số mùi vị, khứu giác tinh tế đã khiến ông thưởng lãm đủ mùi vị của thiên nhiên, của hoa trái cỏ cây, của cuộc sống thanh bình thôn dã: mùi men rượu, củ cải, sả, sung chín, bưởi chín, cỏ cháy, rơm rạ, lá sen già, lá ổi, lá bạch đàn xộc vào giấc ngủ,  mùi thơm ngát hạt gạo nếp trắng ngần, mùi cây vườn vắng hăng hăng, mùi hăng hăng của những chồi cây lộc biếc, mùi thôn ổ, mùi ẩm mốc, mùi thơm từ những vạt ngải tiên khuếch tán, mùi ngòn ngọt cây ngọc lan già, mùi khói rơm níu bước khách chiều, mùi khói tỏa lên nồng nã, mùi khói đốt đồng, hương trầm, hương ngải cứu sực nức sau mưa, mùi rêu nước, hơi  mưa, hơi đêm, hơi xuân … và chỉ có tâm hồn nhạy cảm, ông mới cảm được  vị hoang dã, vị hương tinh khiết của nắng, mùi sương, mùi nước, mùi bẳn gắt, mùi tết nhất nghèo khó nồng nàn tinh khiết, mùi vị của ảo giác, mùi vị khí thu và thậm chí cả mùi của thời gian (tr.394) nữa… 

Nếu như Đoàn Phú Tứ có màu thời gian. Appollinaire, nhà thơ lãng mạn Pháp - người đã phát hiện ra hương thời gian qua bài “Mùa thu chết”: “Ôi, ngát hương thời gian mùi hoa thạch thảo” thì DKM lại có mùi thời gian (như vậy, thời gian đã thực sự trở thành chiều thứ tư của không gian). Người thơ phải đạt tới độ tinh tế lắm mới cảm nhận hết được mùi vị của thời gian trong không gian. Ông không chỉ cảm thức được mùi mà còn lắng nghe mùi. Điều đó cho thấy một không gian thơ ông đa chiều, có bề nổi, có chiều lặn thâm trầm, có chiều lửng lơ. Nói theo giọng điệu nhà Phật thì thơ ông vẽ nên được nhiều cõi. Con người đạt tới độ vô vi mới cảm quan được nhiều cõi, nhiều cảnh giới thơ như thế. Và chính vì vậy mới thấy sự cô đơn mãnh liệt của DKM, điều đó chỉ ra rằng thơ là nhựa sống đời ông, nó cần thiết như khí trời. Chỉ cô đơn cùng cực mới tạo nên những sáng tạo tuyệt đối, tinh khiết. Thơ DKM có một nỗi cô đơn như thế. Có thể nói thời gian lạnh, thời gian cô đơn và không gian lạnh, không gian cô đơn vừa là cái tạng thơ, vừa là một quan niệm nghệ thuật của ông.

 

2.4. Thế giới âm thanh

 Không gian thơ DKM ngập tràn các dàn, bè âm thanh của thiên nhiên, cuộc sống: tiếng cún con sủa vu vơ vỡ giọng, tiếng dế, tiếng két đồng, tiếng tước đồng, hồng tước, thanh tước, tước nâu, tước xám, tiếng ngỗng trời, chim hạc, âm thanh điền dã, bản giao hưởng bốn mùa, bản hòa âm, dàn đồng ca, dàn thiên nhạc khổng lồ, khuông nhạc thế gian, các tiểu thiên thần vừa bay vừa hát, tiếng gió sột soạt lật những trang sách như có người lẻn vào đọc trộm trong đêm tối…

Ngoài ra, không gian ấy còn ngập tràn âm thanh của nhiều loại nhạc cụ: tiếng kèn, tiếng sáo, tiêu, nhị cổ, tiếng chuông, âm thanh cây đàn một dây và hai mươi sáu dây, nhạc bát âm, nhạc Johann Sebastian Bach, tiếng tập đàn ngắt nhịp, tiếng vĩ cầm, dương cầm, đàn tranh, tỳ bà, đàn đá, đàn nguyệt, đàn tế, tiếng thụ cầm, thiên cầm, phong cầm, thủy cầm…

 Trước đây, Hoàng Cầm nổi tiếng với sáng tạo “lá diêu bông”, Ngô tự Lập cũng sáng tạo ra tên “hoa tầm sương”. Lá diêu bông và hoa tầm sương là loại lá hoa gì không ai biết nhưng người nghe vẫn cảm giác rằng trên thực tế có lá hoa này. Đến lượt DKM, các loại đàn: thiên cầm, thụ cầm, thủy cầm, phong cầm được sinh ra do sáng tạo ngôn ngữ của ông, nhờ ông mà tồn tại, nó có giai điệu du dương mê đắm mơ hồ, thực hơn cả thực

Ông nhạy cảm với mọi tần số âm thanh, từ những âm thanh tế vi nhất (như tiếng tách vỏ của chồi cây, tiếng búng nước, tiếng ngỗng trời ngăn ngắt âm thanh nhỏ xíu mất hút về hướng tây, tiếng vang nhẹ lắc thắc nhỏ giọt từ tán cây phượng vĩ thức cùng làn mưa bụi trong đêm…) đến những âm thanh mạnh mẽ nhất (tiếng sấm, tiếng dòng sông gầm gào trong đêm tối …).

Có thể thấy, âm nhạc trong thơ ông không phải là nhạc rock mà là thứ nhạc giao hưởng của đồng quê với cung la thứ chủ âm. (Trong âm nhạc cung la thứ cùng với đô thứ diễn tả nỗi buồn có hiệu quả hơn bất cứ cung thứ nào), ông đã từng viết:

Bản giao hưởng loang ra như nước khởi đầu từ cung La thứ ràn rạt men theo vách thẳm (tr. 325)

Những thanh âm luôn có mặt trong thơ ông như ám ảnh của vô thức, lúc rõ ràng, lúc văng vẳng từ cõi lòng. Đặc biệt, ở những tập thơ cuối, khi bước vào tuổi già, bệnh tật dày vò, DKM thường nghe thấy những tiếng vọng của không gian vũ trụ trong đầu. Aylish Campbell - nhà tâm lí học tại đại học Manchester và các cộng sự phỏng đoán rằng: những “ảo giác thính giác” thường nảy sinh do tâm lí của những người suy nhược sức khỏe. Điều đó đúng hay không đúng, không quan trọng, chỉ biết rằng chính ảo giác ấy đã khiến nhiều câu thơ của ông mang vẻ đẹp siêu thực, tâm linh huyền ảo “ngang ngửa” Hàn Mặc Tử (người đã được DKM trân trọng tưởng nhớ trong bài thơ “Có hòn núi trắng”).

DKM thường nghe thấy những tiếng vọng vang lên từ vũ trụ, từ bầu trời, từ lòng đất, lòng sông…:

- những âm thanh từ đất vút lên trên những qủa đồi vọng mãi trên bầu trời sáng lạnh (tr. 512)

- âm nhạc tỏa xuống tầng không trung từng chùm âm thanh ngân dài (tr. 536)

Không gian trong thơ ông thường có những giai điệu mơ hồ, tiếng gọi mơ hồ, âm thanh mơ hồ… từ một thế giới bí ẩn, huyền nhiệm. Phải chăng đó chính là tiếng vọng vô thức rung lên từ kinh nghiệm sống, từ kí ức, từ  nỗi cô đơn nghiệp chướng hay từ niềm mến yêu một tri âm, tri kỷ của ông… Đó là những thanh âm trong trẻo, quyến rũ sinh ra do sự đam mê và trí tưởng tượng nhiệt thành có tác dụng nâng tâm hồn con người lên cao, gạt đi bụi bặm, lạc quan hơn trong cuộc sống:

- Những giai điệu mơ hồ cuốn ta ra ngoài thực tại (tr. 335)

- Tiếng chim ngân vang vọng dội từ kiếp trước từng luồng ánh sáng trong suốt hắt từ tháp mái (tr. 446)

- Kiếp này con kí thác tiếng gọi mơ hồ mãi mãi vang lên từ trong sâu thẳm (tr.467)

- Nhiều khi gục ngã, tưởng không bao giờ còn đi tiếp, nhưng rồi những âm thanh mơ hồ quyến rũ từ bầu trời cao tít thuở nhỏ lại nâng ta đứng dậy (tr. 463)

 Những tiếng vọng vô thức này được sinh ra bởi những ám ảnh sâu sắc. Chính DKM đã từng tự bạch: “Có lẽ thời gian tôi sống với thơ ca trong sự tràn ngập của âm thanh mê đắm và khoái cảm, là khi tôi sống trên quả đồi bên tả ngạn sông Đà”(tr. 6).        

Ông tri âm với thiên nhiên vũ trụ, tri âm là hòa điệu của một thứ nhạc tâm trong ánh sáng của  sự khai ngộ huyền diệu. Âm thanh trong thơ ông được mở ra từ “tâm nhạc” là điệu nhạc sâu thẳm của một thực tại toàn mãn đốn ngộ của Thiền. Phong vị Thiền ấy còn thể hiện ở những thanh âm của cuộc sống bình yên, như một tiếng nói đa âm về lẽ thiền.

Đặc biệt, âm thanh trong thơ DKM cũng có màu sắc, hình khối… Ông thường dùng ẩn dụ chuyển đổi cảm giác để diễn tả thanh âm, ông không chỉ nghe bằng thính giác mà còn “nghe” bằng những giác quan khác. Sự “tương ứng các giác quan”(Baudelaire) luôn đồng hiện:

 - …làn âm thanh trong và êm dịu lướt nhẹ qua rặng trúc (tr.471)

- Dòng sông chảy xiết âm thanh chói gắt (tr. 358)

- âm nhạc tỏa xuống tầng không trung từng chùm âm thanh ngân dài (tr. 536)

Thật hạnh phúc cho ai đó biết cảm nhận và thưởng thức, hưởng thụ âm nhạc, DKM coi thanh âm cuộc sống như là một ân sủng và ông đã đón nhận nó bằng nghi lễ trang trọng nhất:

- Nơi buổi cuối chiều tôi đón nhận âm thanh trong trẻo ngân vang mãi trong không trung từ ngàn sợi dây mỏng tang trong suốt ngân ngân mãi vào đêm (tr. 493)

- Âm nhạc của Bách như dòng cam lồ chảy từ trời cao, ta quỳ xuống đón nhận (tr.339).

                                                

1.3. Biểu tượng người mẹ - ánh sáng Bát Nhã

Hầu như không một thi sĩ nào không có những vần thơ dành cho mẹ. Có khác chăng là hình tượng người mẹ được ông nhắc đến nhiều hơn và ông dành cho mẹ nhiều tình cảm hơn bất cứ tình cảm nào khác. Từ mẹ cũng đã trở thành một ám tượng được tái hiện đến 202 lần trong tuyển thơ của ông. (Cụ thể là ở tập Củi lửa: 20 lần, Dâng mẹ: 44 lần, Những thời đại thanh xuân: 8 lần, Ngày xuống núi: 18 lần, Tựa cửa: 28 lần, Tôi ngắm mãi những ngày thu tận: 70 lần, Khúc chuyển mùa: 14 lần).

             Hình ảnh người cha, người anh cả, người chị, người con gái, người vợ, người bạn… cũng được hiện ra trong những trang thơ của ông, nhưng mẹ là người ông viết nhiều hơn cả. Ông đã từng tự bạch: “Cả cuộc đời  bôn ba tắm bụi phong trần, cảm xúc trào dâng mạnh mẽ nhất trong tôi, hình ảnh mẹ và ngôi nhà xưa cũ - nơi lưu giữ toàn bộ tuổi thơ với những kỷ niệm khắc sâu trong tâm khảm hằn từng vệt lớn, về quê hương, về mẹ và những người thân”(tr. 424)

Hình tượng mẹ trong thơ DKM thường hiện lên “lam lũ nghèo khó” (tr. 272), “còm cõi” (tr.82), ‘gầy gò” (tr. 244), thường đưa “cánh tay gầy quệt ngang khoé mắt” (tr. 42), “lụi hụi bên bếp lửa” (tr. 457), có tấm lòng “hồn hậu”, luôn “thắc thỏm lo âu” (tr. 273) và “đầy rẫy nỗi nhọc nhằn” (tr. 276)… Mẹ của ông thường  hiện về trong kí ức, trong giấc mơ tâm linh: Mẹ hiện hoài bên cửa…/ Khăn thâm, nón lá, áo nâu sồng (tr. 207) .

Mẹ là nơi ông nương tựa những lúc yếu lòng, buồn khổ nhất, đau đớn nhất:

Không phải bỗng dưng con thường gọi mẹ/ nỗi đau này con không chịu nổi/ nỗi đau này ngoài sức lực con người (tr. 124)

 DKM đã từng ví “mẹ già nua như những buổi chiều” (tr.24), vậy mà trong một bài thơ khác, vô thức ông lại viết “Tay run run vịn vào buổi chiều tà” (tr. 405), mẹ là buổi chiều, buổi chiều là mẹ, vịn vào buổi chiều phải chăng chính là vịn vào mẹ, vịn vào nơi dìu đỡ, chở che, bao bọc:  trong lòng đêm tối ta thấy được bao bọc chở che, thoảng hơi mẹ rất gần ngày thơ bé (tr. 462)

Mẹ là nơi giãi bày, sẻ chia tâm sự, là nơi tin cậy nhất:

- Câu chuyện này không kể được với ai, tôi chợt nhớ đến mẹ (tr. 454)

Dòng kí ức về mẹ bao giờ cũng làm cho không gian trở nên diệu kì và ấm áp:

- Trở lại mùa xuân đầu tiên theo mẹ hái bông hoa nhỏ xíu/ Những bông hoa diệu kì nơi mùa xuân diệu kì (tr. 78)

- Mẹ hiện về lửa ấm (tr.384)

Thấm thía nỗi buồn “lạc mẹ” nên ông dành niềm trắc ẩn cho cả chú dế lạc vào căn phòng buổi tối, nó khiến người thơ liên tưởng đến dế mẹ bồn chồn chờ con bên gò đất mênh mông đêm tối và khản tiếng gọi con giữa trời sương phủ (tr. 441), nghe tiếng kêu của chú chim non lạc mẹ trên vòm hoa phượng, ông cũng giật mình nhói xót, liên tưởng đến nỗi buồn: Cả đời ta lạc mẹ, chiếc ổ mơ hồ vẫn đợi ta ở chân trời xa vắng (tr. 518)

Người mẹ nông dân ấy, dưới ngòi bút của ông đã trở nên vĩ đại, tỏa bóng lớn xuống không gian và thời gian: “bóng mẹ đổ dài dọc theo con đường đơn độc ngút ngàn ước vọng” (tr. 458), “bóng mẹ đổ rợp bên này thế kỉ” (tr. 232)

DKM đã lấy kí ức của người con hiếu thảo để đúc tượng đài khiến người mẹ của ông có dáng dấp như Đức Phật Bà ngự trên tòa sen:

Mãi mãi dựng tâm tưởng đài kỉ niệm/ Đài sen hồn hậu mẹ cười (tr. 70)

DKM coi tình mẫu tử là “khối tình thiêng”, là “cõi linh thiêng” nên luôn ngợp tràn ánh sáng:

-                     Ánh sáng tràn ngợp ngợp/ Khối sầu nguyên bên khối tình thiêng (tr. 168)

-                     Cõi linh thiêng hắt ánh hồi quang (tr. 144)

Người mẹ trong thơ DKM ngoài nghĩa thực (người mẹ ruột hay bà mẹ bản Gai địu con lên rẫy nghèo khó…), còn có nghĩa ẩn dụ, biểu tượng như: Mẹ Đất, Mẹ Quê, Mẹ Âu Cơ, Đức Mẹ Đồng Trinh, Người Mẹ Bản thể. Người mẹ trong thơ ông luôn được thay thế bằng từ Người với một niềm kính trọng vô biên:

- Mẹ chăng? Bà Mẹ Đất/ Tôi hớp từ bầu sữa Người giọt sữa mặn mòi (tr. 80)

- Âm điệu này bà mẹ quê cho tôi/ Khí thơ này của bà mẹ ấy (tr.56 )

- Vừa lướt qua đây vẻ huy hoàng xiêm áo/ Thuở nàng Âu Cơ biển cả trở về/ Vừa lướt qua đây bước chân Mẹ/ Thời thanh xuân của Người (tr. 65)

- Niềm mẹ ta mãi mãi mẹ đồng trinh (tr. 158)

 Mẹ trong quan niệm Phật giáo là Người Mẹ Bản thể với nghĩa cứu độ, là trí tuệ giải thoát. Mẹ chính là Đạo, là tiếng gọi Chân Như, là ánh sáng Bát Nhã. Hình ảnh mẹ và ngôi nhà cũ luôn trở đi trở lại trong thơ ông. Mà chúng ta đã biết, “nhìn thấy khuôn mặt mẹ”, “trở về ngôi nhà cũ của Mẹ” đã từng là một tín hiệu thẩm mĩ của Phật giáo Thiền tông có ý nghĩa giống như đứa con Vô minh đã tìm kiếm được sự Giác ngộ. Bởi thế, Mẹ trong thơ ông thường được bao bọc bởi một nguồn sáng tâm linh, mẹ luôn luôn xuất hiện song hành cùng ánh sáng:

- Mặt trời lung linh khu vườn mẹ/ Bức tường ánh sáng (tr. 11)

- Ôi ánh sáng mẹ hằng gìn giữ/ Sáng nay choàng lên mái tóc của Người (tr.36)

- Kia mẹ ta/ mặt trời nhỏ dại/ Mênh mông ánh sáng khôn lường (tr.61), v.v.. Nếu trong giấc chiêm bao của DKM có “hình bóng mẹ” và “ngôi nhà cũ” thì lập tức trong vô thức nhà thơ lại nói về ánh sáng:

Cơn mưa trong trẻo như lời ca dìu những giấc mơ ra khỏi bóng tối tới những chân trời nước và ánh sáng (tr. 432)

 Thơ DKM hay có sự đối lập giữa bóng tối với ánh sáng phổ độ. Ánh sáng đã trở thành một biểu tượng gắn liền với mẹ. Mẹ là ánh sáng của “thế giới kỉ niệm”, ánh sáng tâm linh, ánh sáng cứu rỗi. Đó là ánh sáng của một cảnh giới khác, một cõi khác mà người thơ liên tưởng được. Ánh sáng Người mẹ Bản thể ấy đôi khi hé lộ tạng thiền trong con người thơ của ông.

 

         III. Nghệ thuật miêu tả thời gian và không gian nghệ thuật

1.      Nghệ thuật sử dụng các lớp từ ngữ

Khi tạo ra thế giới hình tượng trong thơ mình, DKM đặc biệt chú ý đến việc sử dụng từ láy, dạng láy - một tài sản quý báu của ngôn ngữ dân tộc. Nó là phương tiện đắc dụng nhất để tạo hình tượng, tạo tính nhạc và tính họa trong thơ, bởi trong bất cứ một trường hợp nào mà các từ láy, dạng láy được sử dụng để miêu tả thì chúng đều có giá trị tạo hình nhất định. (Nguyễn Duy - một thi sĩ có nhiều thành công trong việc sử dụng đắc địa từ láy và trong Tuyển tập thơ của ông in năm 2010 cũng đã dùng 728 từ láy với tần số xuất hiện là 1247 lần). Theo thống kê tỉ mỉ của chúng tôi, DKM đã sử dụng tất cả 807 từ láy và dạng láy khác nhau, tần số xuất hiện chúng trong Tuyển tập thơ Dương Kiều Minh 2.022 lần[1].  Trong số đó thì những từ có tần số xuất hiện cao nhất là: thăm thẳm, mênh mông, xa xăm, xa xa, dằng dặc, dài dặc, tít tắp,  đằng đẵng, trùng trùng, lớp lớp, chót vót, chập chùng, bát ngát, bạt ngàn, ngút ngàn, ngùn ngụt, ngổn ngang, khúc khuỷu, ngoằn ngoèo, gập ghềnh, lực lưỡng, lang thang,  hanh hao, dữ dội, xối xả, cuồn cuộn, lênh láng…; quanh quất, bồng bềnh, chập chờn, hiển hiện, lạnh lẽo, lờ mờ; chói chang, rực rỡ, lấp lánh, trong trẻo…; lặng vắng, đơn độc, trơ trọi, trống trải, đêm đêm, khuya khuắt…; nứt nẻ, tơi tả, nhọc nhằn, …; nhè nhẹ, từ từ, nồng nàn, nồng nã… Đó là những từ hiện lên trong vô thức, nó là ám ảnh của những ấn tượng về núi đồi, dòng sông Đà, sương khói, những con đường, cánh đồng, những bản làng nghèo khó… trong cuộc sống của thi nhân.

Không phải ngẫu nhiên mà những từ láy miêu tả các chiều kích của không gian rộng lớn, không gian vô tận xuất hiện dày đặc nhiều lần trong vô thức nhà thơ như:  thăm thẳm (18 lần), xa xa, xa xăm (40 lần) và thênh thang, mênh mang mênh mông (54 lần)…

- Mênh mang cỏ và nước/ Những dòng sông nới rộng mãi cuồn cuộn cuốn ào ào ra biển/ Bỏ qua mùa hè bản giao hưởng vút lên cao tít tắp, rồi chợt quay trở lại (tr. 326)

- Những giai điệu nối theo nhau đang rộ lên trên con đường độc đạo tỏa xuống dòng sông thăm thẳm, lại vút lên cao ngất kéo qua trùng trùng đỉnh núi, vỗ rập rờn lấp lóa cánh rừng  (tr. 328), v.v..

Từ láy ở những vị trí đắc địa đã góp phần tạo hình chính xác hình tượng trong không gian và “vẽ” được những trạng thái cảm xúc của những mốc thời gian:

- Lăng lắc tuổi xuân/ lăng lắc niềm thôn dã (tr. 24)

- Ngôi nhà thiêm thiếp trắng (tr.12)

- Cuối năm con đường dốc/ Cuối năm vời vợi qua/ khúc khuỷu bầu tâm khúc/ khúc khuỷu khúc khuỷu dốc (tr. 281)

- Những cánh đồng vào đông rùng rùng nỗi nhớ (tr. 503)

 v.v..

Khá nhiều bài thơ hay của DKM thường dày đặc các từ láy, dạng láy. Chẳng hạn bài: “Niềm nhớ”, “Thôn quê”, “Gửi Đon ki hô tê”, “Mùa thu đến tự bao giờ”, “Vô thanh”, “Hồi vọng”, “Gửi sông Nhuệ”, “Trở về từ ảo giác”, “Tôi ngắm mãi những ngày thu tận” (riêng bài này có 84 từ láy), v.v..

Đặc biệt DKM hay dùng liền một chùm từ láy đôi để miêu tả khiến các hình ảnh cứ chồng lên nhau, cùng đồng hiện theo mạch liên tưởng.

Do đặc điểm cấu tạo ngữ âm, từ láy và dạng láy không những là điểm nhấn tạo hình tượng mà còn là điểm nhấn để tạo nhịp điệu. Những câu thơ văn xuôi dài chứa nhiều từ láy, dạng láy của ông thường được ngắt thành nhiều nhịp linh hoạt đã làm mất đi cảm giác lê thê, dài dòng.

-                     Đời người lẽ nào tan biến trong chớp mắt/ mênh mông đồi sỏi đá/ những bụi cây/ cằn cỗi/ trơ trọi/ bền bỉ qua bốn mùa (tr. 515)

- Chắc bạn sẽ tin những bia mộ lô nhô/ san sát/ xao xác/ chạy dài không dứt như những thành phố trên quả đồi/ hoang mang cảm xúc/ gần gũi. (tr. 514)

- Theo kí ức/ lang bang trên những cánh đồng nứt nẻ/ nham nhở gốc rạ,/ những đứa trẻ/ thu lu ngồi nép sau bờ đất chắn gió (tr. 517), v.v..

Nếu những từ láy cùng trường nghĩa đã nhiều mà tần số từ láy lặp lại cũng  nhiều thì rất dễ gây ra sự nhàm mòn, hình ảnh bị trùng lặp. Cũng may là DKM đã biết kết hợp nó với những từ ngữ khác nhau, trong những tâm trạng khác nhau để tạo ra hình tượng và xúc cảm khác nhau. Ông cũng đã thành công khi  tạo ra một số dạng láy của riêng mình:

-     và mưa từng ngón ngón gầy/ len len rây rẩy bàn tay gượng gàng (tr. 37)

-                     Xa lắm lắm ngày xuân xa lắm lắm (tr. 70)

-    Phồn thịnh mưng mưng đường viền xứ xở (tr. 93)

-                     Mẹ hiện hoài phơ phơ tóc bạc/ chị kia kia đen đủi sạm già (tr. 207)

-                     Đây, mùa xuân gấp gấp, con cuốn theo tiếng gọi mơ hồ (tr. 458), v.v..

Nếu như Nguyễn Duy thích dùng từ láy khẩu ngữ và những chùm láy ba, láy tư kềnh càng, gợi nên những tiết tấu mang chất nhạc hiện đại mà Vương Trí Nhàn chỉ ra là “những trái khoáy ngang phè, những nghịch lí tương phản” để tạo ra một giọng điệu thơ ở giai đoạn sau của Nguyễn Duy, đó là giọng điệu thủng thẳng, hài hước bỡn cợt thì DKM hầu như không dùng từ láy khẩu ngữ, mà chủ yếu là từ láy đôi tính từ “lành hiền, nghiêm túc” bên cạnh lớp từ Hán Việt và thán từ tạo nên một tinh thần nhạc cổ điển góp phần tạo giọng điệu trữ tình, sâu lắng, trầm buồn.

Thơ DKM có số lượng lớn các từ ngữ Hán - Việt: thôn nữ, thanh nữ, cố nhân, mộng điệp, cổ phong, lữ thứ, thiên thu, viên mãn, thư quán, song thụ, đại cảnh viên… và các từ Hán Việt mang màu sắc Phật giáo như nghiệp lực, thế tục, luân hồi, oan hoan, thiên khí, linh khí, thụy miên, mặc khải, phổ độ, mê lộ, uyên nguyên…Thậm chí có một  số bài thơ nếu chỉ đọc tiêu đề như Ngâu hoa đề, Phượng hoa đề, Xuân mãn, Xuân khởi… thì có lẽ người đọc tưởng đấy là thơ Đường hoặc thơ Thiền.

 Từ Hán Việt có nhược điểm là thường trừu tượng, khái quát nên không gợi những sắc thái sinh động cụ thể, không thể hài hước, thường gợi sự tĩnh tại và không hiện đại… nhưng bù lại nó có sắc thái cổ điển trang trọng, tao nhã, phù hợp diễn tả hình ảnh của thế giới ý niệm, im lìm, tịch mịch.

 Thời gian cụ thể bao giờ của khởi thủy một tâm trạng cụ thể. Thơ DKM là thứ thơ tâm trạng, ông hay dùng các thán từ ôi, ô, ồ, ơ, ư, ô hô…, đặc biệt, thán từ ô hô từng được dùng trong văn chiêu hồn của Nguyễn Du đã khiến nhiều câu thơ DKM buồn đến rợn người. Bên cạnh đó, ông còn thích dùng từ nồng nàn, nồng nã, nồngniềm nên thơ văn xuôi của ông luôn tràn đầy cảm xúc, ít những câu chữ triết lí khô khan.

Ngoài ra, ngôn ngữ miêu tả của ông thiên về cực âm: nhiều mưa - ít nắng; nhiều đêm - ít ngày; nhiều lạnh lẽo - ít ấm áp; nhiều khói - ít lửa; nhiều khốn khó - ít sung sướng; nhiều màu lạnh - ít màu nóng; nhiều hoa đồng nội - ít hoa sang quý; nhiều tính từ - ít động từ; nhiều thiền - ít tục; nhiều giấc mơ, ảo giác, tiếng vọng, nhiều quá khứ và hoài niệm… Vì thế có thể nhận định rằng, thơ DKM là của nỗi niềm sâu kín, một thứ thơ thiền hiện đại mang âm hưởng buồn….

Tuy thế nhưng thơ DKM lại có một số từ ngữ cực dương hay được sử dụng như vút lên, dâng cao, vươn (dậy),  đỉnh, trong suốt, dòng ánh sáng, lấp lánh… nên thơ ông buồn nhưng không u ám, nó sang trọng và thanh cao.

 Muốn tạo phong cách thì phải có giọng điệu riêng, DKM thực sự là một người có giọng không lẫn với ai.

 DKM coi trọng thứ “nhạc lòng”, nhịp điệu tâm hồn, nội cảm bên trong. Tuy không coi vần là một vấn đề chính yếu của hình thức thơ nhưng nhiều câu thơ của ông vẫn tràn đầy nhạc tính, nhờ sự điệp vần, điệp phụ âm đầu:

-                     Trời phơi phơi hơi lạnh nắng hanh (tr. 400)

-     Một mình ta phơi phới phất áo đi (tr. 77)

-                     Tthoàng hôn tiếng cầu hồn hắt từ kinh Phật (tr. 87)

-                     Mmột mình nhóm lửa cạnh mùa thu (tr. 100)

-                     Mưa hay sương giương một bức mành (tr. 298)

-                     Máng cỏ mang mang niềm thiên cổ (tr. 158)

-                     Bức tường thành dựng đứng vách thanh xuân (tr. 235)

-                     Liêu phiêu chiều dắt hồn về dạt (tr.166)

-                     Cũng tiếng sè sè xe sợi (tr. 32)

-                     Hy vọng xửa xưa còn ủ lửa (tr. 375)

-    Đồng không sông mông quạnh (tr.12)

-     Xa nồng văng vẳng lời ru/ yên yên trưa vắng mẹ vừa đưa nôi (tr.306), v.v..

DKM ít làm thơ “cách luật”  mà thường làm nhiều theo thể loại thơ tự do và sau này thiên về thơ văn xuôi. Thể loại thơ văn xuôi có khả năng nới rộng hơn hiện thực cuộc sống được miêu tả đồng thời giúp ông dễ bề thể hiện một cách thoải mái hơn “dòng ý thức” của mình, khai phá những bí ẩn trong đời sống tâm linh của con người.

2.      Nghệ thuật kết hợp thực  - hư, siêu thực, huyền ảo tâm linh

DKM đã từng bộc bạch rằng ông rất yêu mến tác phẩm Hồng lâu mộng - cuốn tiểu thuyết cổ điển nổi tiếng Trung Hoa. Vì thế quan điểm “dĩ hư hàm thực, dĩ nhân đối chân” luôn được ông áp dụng triệt để. Đó là những yếu tố hư ảo, những giấc mơ tâm linh, những không gian cổ tích, không gian mờ tỏ ẩn hiện và còn là không gian thiêng (lưu ý: DKM nhiều lần dùng từ thiêng: cõi linh thiêng, vò nước thiêng, đức tin cao thiêng, khối tình thiêng, hồn thiêng, phép thiêng…).… Không phải ngẫu nhiên mà những từ láy như: quanh quất, bồng bềnh, chập chờn, hiển hiện, lạnh lẽo, lờ mờ…có tần số xuất hiện cao. Tính chất thực  hư kết hợp này đã làm cho hình tượng thơ DKM vừa chính xác, vừa mơ hồ, vừa hiện thực khách quan, vừa lung linh huyền ảo để tạo ra sự quyến rũ, khơi gợi cảm xúc đối với người đọc, bởi “những hình tượng thực hư này lại có khả năng thể hiện rõ nét hơn, sâu sắc hơn hình ảnh thật” (Trần Đình Sử). Cái luồng sáng của ảo giác trong thơ ông đã bộc lộ rõ nhất phần khao khát vô thức bản năng của ông về một thế giới khác bí ẩn và trong trẻo.

Nhiều bài thơ của ông phảng phất chất liêu trai:

            - tiếng gió sột soạt lật những trang sách như có người lẻn vào đọc trộm trong đêm tối (tr. 477)

Cái tiếng gió này, cái từ lẻn này có gì giống với Lý Bạch  khi “thi tiên” cũng miêu tả ngọn gió xuân lẻn vào bức màn cô chiếc để gọi mời, lay mở những thúc nén trong lòng người chinh phụ: “Đông phong bất tương thức/ Hà sự nhập la vi”?

Câu chuyện Trang chu hóa bướm vẫn luôn ám ảnh khi DKM suy ngẫm về chuyện tồn sinh của kiếp người: “Ôi, giấc mộng Trang Chu mãi mãi là giấc mộng - một cánh bướm mỏng manh thách thức cả kiếp người” (tr. 388).

Đã hơn một lần ông viết về cánh bướm này:

- Kết cục rồi cũng nhắm mắt buông xuôi, hóa cánh bướm chập chờn trở lại ngôi nhà hồi bé” (tr. 246)

- Có một đôi bướm trắng/ Dập dờn bên đồng cỏ hoa vàng (tr. 26)

Màu sắc trắng, vàng đã làm tăng thêm tính họa trong câu thơ trên và cái cánh bướm “dập dờn” này còn khiến ta liên tưởng đến hình ảnh cánh bướm vội vàng sấn sổ vào hoa trong câu thơ xuất thần“Nhất song bạch hồ điệp/ Phách phách sấn hoa phi” (“Một đôi bươm bướm trắng, gặp hoa cánh vội vàng”) ở bài “Xuân hiểu” của Phật hoàng Trần Nhân Tông.

3. Nghệ thuật sử dụng phép đối

Bên cạnh thủ pháp trùng điệp, thơ DKM thường sử dụng phép đối. Những  cặp phạm trù đối lập xuất hiện khá nhiều: tối - sáng, cao - thấp, thăng - giáng,  cường - nhược, sang - hèn, thực - ảo, đứt - nối, ẩn - hiện, mất - còn, lên -  xuống, đi - đến, ấm - lạnh, ngày - đêm, gần gần - xa xa, tan ra - kết lại, mau - chậm, chầm chậm - vùn vụt, từ từ - gấp gấp, ngắn ngủi - dằng dặc,  mảnh mai - lực lưỡng, già nua - thơ dại, vui vẻ - u sầu, trong trẻo - đùng đục, thoang thoảng - ngào ngạt, sinh sôi - tàn hủy, kí ức - thực tại, chói chang - mù mịt, vô thanh - đa thanh, âm khí - dương khí, nghi ngờ - tin tưởng, v.v..

            Những cặp đối lập này xuất hiện có thể trong một câu thơ, trong một bài thơ hoặc trong cả tập thơ:

- Gần gần lời cha/ xa xa tiếng mẹ (tr. 191)

- Theo mạch đất đứt - nốiẩn - hiện (tr. 413)

- Bằng bẵng núi đồi chồm lên tụt xuống (tr. 166)

- Nơi đến chứa nhiều vui vẻ/ nơi qua ngậm quá u sầu (tr. 198)

- Xuất hiện những cánh diều số phận thăng lên rồi giáng xuống (tr. 243)

- Làn nước khi mau khi chậm, khi trong khi đục (tr. 252)

- Đời người như giấc mộng/ Chốc quan đại thần, chốc về ở ẩn/ Chốc người sang, chốc kẻ hèn (tr. 317)

- Sinh khí trong khoảng trời đất lúc cường lúc nhược theo chu kì di dịch luân chuyển (tr. 373)

- Cuối xuân âm khí động/ đầu hạ dương khí tràn (tr. 212)

- Mùa như người, lần lượt đi, lần lượt đến (tr. 165)

- Những vạt ngải tiên tàn lụi rồi sinh sôi theo phong khí của mùa (tr. 490)

- Những gì đang tan ra/ Những gì đang kết lại (tr. 502)

- Nhà thơ và cuộc đời, cái gì là thực? Cái gì là ảo? (tr. 445)

 Ông luôn có sự mâu thuẫn trong bản thể, vừa nghi ngờ là không thể có một thế giới khác hạnh phúc và trong trẻo [Tôi cho rằng chân hạnh phúc, chắc gì vị hòa thượng đã từng thực thấy (254)] lại vừa tin tưởng và hy vọng [Vẫn tin dù lòng tin phải trả giá/ Nâng niu cất giữ chiếc hộp đựng hạt mầm hy vọng (502)], v.v..

Việc sử dụng những cặp đối lập này, đã cho thấy ông luôn ý thức được rằng đó chính là những cặp phạm trù triết học, là quy luật biện chứng của thiên nhiên vũ trụ và tạo hóa. Vì thế, mượn lời Giêsu Krixtơ, DKM đã phát biểu: “Biểu tượng thế gian ư?/ ta nghiền ngẫm/ có gì tiếc nuối/ tan rãsinh thành/ trường tồnphát triển.” (tr. 154). Thiên nhiên bốn mùa trong thơ ông cũng chuyển động theo quy luật đó. Đời người cũng thế, có tử có sinh…

DKM đã đi gần đến sự đốn ngộ. Quan niệm về cuộc đời con người, về kiếp phù sinh chỉ như là ánh chớp thì có lẽ không tôn giáo nào như Phật giáo, xem cái chết, sự ra đi nhẹ nhàng an nhiên. Thấm đẫm tư tưởng này nên ông đã thanh thản kết thúc một nghiệp lực, một sự nghiệp thơ mà “từ trẻ tới giờ, đăm đắm không rời cõi bút mực, không một ngày ngơi nghỉ” của mình đúng lúc. Hình như ông đã bằng lòng với con đường thơ mình đi, trong cõi thơ ấy ông đã với được tới trời cao, đi được rất xa, len lỏi được mọi ngóc ngách trong không gian sống, đủ đầy cảm xúc với những mốc thời gian cụ thể và hạnh phúc hơn người khi đã đọc được hồn thiên nhiên, cây cỏ.

Kết luận

Ta là ai? Ta đến từ đâu? Ta làm gì? Ta đi về đâu? luôn là những ám ảnh suốt lộ trình thơ DKM. Nó làm nên cốt cách, phong vận và những độc đáo của thơ ông. Trên nền tảng cổ điển thấm đẫm văn hóa phương Đông, DKM là nhà thơ cách tân, hiện đại trong diễn đạt, mở rộng trường liên tưởng cùng với nghệ thuật sử dụng các lớp từ ngữ (từ láy, từ Hán Việt, thán từ…), phép đối và cách thức kết hợp yếu tố thực - hư đã mang đến cho người đọc nhiều xúc cảm mới mẻ, tươi ròng. Thơ DKM không mạnh về tứ mà thường nghiêng về cảm xúc của tâm trạng. Thời gian nghệ thuật với hình tượng đêm mùa xuân, thu luôn ám ảnh ông, trở thành những quy ước thẩm mĩ về thời gian. Ông cũng đã tạo cho mình một không gian nghệ thuật đa chiều kích với những biểu tượng (con đường, cánh đồng, người mẹ…) vừa giống lại vừa rất khác biệt với các nhà thơ khác. Có thể nói, không gian lạnh, cô đơn, thời gian lạnh, cô đơn là quan niệm thẩm mỹ của DKM. Trong thơ ông, thế giới màu sắc, mùi vị, âm thanh của thiên nhiên, vũ trụ và cuộc sống thanh bình luôn cùng hòa điệu. Ông đã tìm thấy vẻ đẹp huyền nhiệm nơi thiên nhiên bốn mùa. Ông không kiêng dè nói đến những nghi ngờ thời cuộc, ý nghĩa tồn sinh và nỗi khốn khó của kiếp người, cùng những phần khuất khúc của bản thể… Và trên hết tất cả, ông là một thi nhân với trọn vẹn ý nghĩa thẩm mỹ và cao cả của tên gọi./.

 ---

Tài liệu tham khảo

1.                  Nguyễn Duy Cần, Phật học tinh hoa, NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1992

2.                  Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1992

3.                  Nguyễn Thị Bích Hải, Thi pháp thơ Đường, NXB Thuận Hóa, 2006

4.                  Hoàng Ngọc Hiến, Baudelaire - Chủ nghĩa tượng trưng và thơ mới, trong sách “Những ngả đường văn học”, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2006

5.                  Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội,  2000

6.                  Dương Kiều Minh, Tuyển tập thơ, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2012

 

---

H.K.N



[1] Bắt đầu bằng không có phụ âm đầu (a, ă, â, ô, ơ, i, y, ê, o, u, ư) là: 46 từ (tần số xuất hiện: 92 lần). Bắt đầu bằng phụ âm B: 47 từ (tần số xuất hiện là 105), C: 20 từ (63 lần); CH: 36 từ (74 lần), D: 37 từ (93 lần); Đ: 28 từ, 71 lần); G: 20 từ (56 lần); H: 49 từ (86 lần); KH: 19 từ (49 lần); L: 112 từ (267 lần); M: 47 từ (186 lần); N: 21 từ (47 lần), NH: 30 từ (65 lần); NG: 52 từ (141 lần); X: 26 từ (110 lần); S: 16 từ (29 lần); T: 23 từ (82 lần); TH: 55 từ, (117 lần); TR: 20 từ (75 lần), bằng R: 54 từ (95 lần); PH: 15 từ (31 lần); V: 34 từ (88 lần). Có thể nói đây là con số đáng kinh ngạc.

 

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN TRƯỚC



 
Copyright © 2009 - 2014 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com