Thông báo
Giới thiệu sách
Thống kê truy cập
|
Tình yêu - thơ yêu, đối cực và nghịch lý (Thay lời bạt cho Quà tặng tình yêu)(Chu Văn Sơn) Viết những lời sau cùng cho tuyển thơ đây, dường như tôi đang làm một việc vô duyên thì phải. Người ta vẫn nói thơ yêu tự nó đã là những đóa hoa. Làm sao kết được muôn hình muôn dáng hoa yêu kia vào một cái lẵng con con được gọi là lời bạt này ? Làm sao có thể chưng cất muôn sắc muôn hương kia thành một bình nước hoa bé xíu được xem là lời cuối này ? Thôi thì, mình xem đây như dịp được vỡ lẽ thêm đôi điều về một cõi thơ vốn đầy những đối cực tinh vi vậy. * Tôi đã từng đinh ninh tình yêu là đặc sản người. Chỉ có loài người mới biết yêu thôi. Té ra, đó chỉ là cái thói vơ vào đầy ngộ nhận của con người. Đành rằng, đến con người tình yêu mới thật đầy đặn và hoàn thiện, nhưng mọi sinh thể trong cõi này đều đã yêu theo mức riêng và cách riêng của chúng rồi. Nếu hiểu yêu là sự luyến ái, thì tình yêu là yếu tố thuộc về khởi nguyên của sự sống. Khi hai sinh thể, bằng những cách nào đó, tìm tới nhau để tạo sinh một sinh thể mới thì đó đã là luyến ái, đã là yêu. Ai dám bảo trong cái cách hai cọng rêu dưới đáy đại dương tìm nhau để giao truyền mầm sống trong bóng đêm chỉ đơn thuần là hành vi truyền sinh không phải là một dạng yêu ? Ai dám bảo trong cái cách bông hoa đực chốn này gửi vào gió một hạt bụi phấn đến đậu vào giọt mật của bông hoa cái chốn kia, mà nhất là cái khoảnh khắc giao hòa giữa phấn và mật ấy, không có một lời yêu, không phải là một lối yêu? Ai dám bảo trong tiếng hót của đôi chim trống mái cuối vườn kia không có những tiếng thơ say đắm của những hồn yêu ?... Tin vào những giáo điều cũ rích, tôi đã từng quả quyết: đó chẳng qua chỉ là những hoạt động tính giao thuộc phạm trù bản năng đơn thuần, còn tình yêu chỉ có ở người thôi. Nhưng, tôi đã kịp nghi ngại niềm tin xưa cũ ấy. Con người mới chỉ biết có tiếng người, con người thiếu ngoại ngữ cần thiết để hiểu muôn loài. Nếu có một ngày loài người nghe được ngôn ngữ của muôn loài, thì hẳn cái thói vơ vào cố hữu và trịch thượng sẽ giảm đi nhiều lắm. Tình yêu phải là câu chuyện của sự sống. Tình yêu duy trì và cưu mang sự sống này. Và, thơ yêu chân chính bao giờ cũng là bài ca sự sống. * Có lẩn mẩn không, khi tách bạch hai tình cảm gốc rễ của con người (và không chỉ của con người) vốn song sinh và chuyển hóa lẫn nhau mà không hề đồng nhất là : yêu và thương ? Nếu thương là xúc động của lòng trắc ẩn trước nỗi khổ, thì yêu là xúc động của tâm hồn trước cái đẹp (mà rộng hơn, là giá trị). Về bản chất, thương là nỗi xót xa, còn yêu là niềm say mê. Có lẽ thế mà từ trước công nguyên đã có định nghĩa khá hoàn hảo về tình yêu đôi lứa: “Có ba niềm say mê. Niềm say mê về tâm hồn dẫn tới sự quí mến. Niềm say mê về tài trí dẫn tới sự kính trọng. Niềm say mê về thân xác dẫn tới sự ham muốn. Cả ba cái đó hợp lại thành tình yêu”. Như thế, yêu là sự cuốn hút bởi vẻ đẹp của đối tượng. Khi không còn thấy vẻ đẹp lung linh, tức là say mê đã suy giảm, tình đã nhạt rồi. Yêu gắn với khát khao chiếm hữu, thậm chí, chiếm hữu trọn vẹn. Nên, yêu khó chấp nhận chia sẻ. Khi yêu người ta thường ghen là bởi thế. Ghen là phản ứng của cơ chế bảo toàn khi tình bị sẻ bớt. Yêu càng nồng, ghen càng dữ. Trái lại, thương là trăn trở trước nỗi bất hạnh, nên thương gắn với ý hướng xả thân, khiến ta quên mình vì đối tượng. Thương càng sâu, hy sinh càng lớn. Vì thế chăng mà một cuộc tình sẽ khó bền lâu, nếu yêu và thương không chuyển hóa được sang nhau ? Vì thế chăng mà yêu và thương cứ phải gắn bó với nhau trong tình người và tình đôi lứa ? Và thơ yêu đích thực của muôn đời bao giờ cũng phải là niềm say mê lớn chan hòa cùng tình thương lớn trước vẻ đẹp và nỗi khổ muôn hình sắc của những lứa đôi. * Tôi vừa nói đến tình đôi lứa. Phải, tôi cho rằng cụm từ “tình yêu nam nữ” không còn đủ rộng để bao chứa hết những mối luyến ái của con người. Cùng với tình yêu nam nữ, còn có tình yêu đồng giới (lesbian và gay). Đó là những mối luyến ái bình quyền thuộc về sự đa dạng của đời sống. Mọi khát vọng và trải nghiệm luyến ái đó đều cất lên những tiếng nói bình đẳng trong thơ yêu. Tuy nhiên, luyến ái nào thì một đôi lứa cũng có vai mạnh vai yếu. Chỉ khi hình thành hai vai ấy thì luyến ái mới thực sự nảy nở và bền lâu. Điều này rõ nhất ở luyến ái nam nữ. Tôi nhớ Xuân Diệu đã kể về một chuyện tình cờ gặp ở công viên. Lần ấy, ở ghế đá sát lối đi, ông thấy có một đôi uyên ương với tương quan rất éo le: nàng thì “hoành tráng” như một quả dưa hấu, còn chàng lại “khiêm tốn” như con nhái bén. Một đôi như thế sẽ nói với nhau thế nào nhỉ ? Tò mò khiến ông không thể cưỡng được. Nhưng, lúc ngang qua, ông vua thơ tình đã vô cùng kinh ngạc vì thấy nàng dưa hấu thì cứ ngả dần về phía chàng nhái bén mà rên rỉ: “Trời ơi ! Em yếu đuối quá !”, còn nhái bén ta thì vươn hết tầm tay để choàng lấy vai trái dưa hấu mà hùng hồn: “Em cứ yên trí, anh sẽ che chở cho em !”. Thì ra thế, vai nào phải vào vai ấy thì mới thành tình yêu, dù tương quan thực có … ngang ngược đi nữa. Đó là quy luật muôn đời của tình yêu chăng ? * Bởi thế mà nảy sinh một qui luật thú vị trong thơ yêu. Trong đời thực, người yêu của các nam thi sĩ có thể rất “hoành tráng”, nhưng một khi đã vào thơ yêu, nàng bao giờ cũng bé nhỏ, mảnh mai, gầy guộc, thậm chí, có khi còn bé bỏng nữa. Dù đời thực vai em có mập ú, thì thơ yêu cũng không thể “gọi nắng trên vai em… mập” được (thế thì tan tành thơ mất chứ còn à ?). Trái lại, dứt khoát phải là “gọi nắng trên vai em gầy”, phải “vai em gầy guộc nhỏ, như cánh vạc về chốn xa xôi”… Cũng như vậy, với các nữ thi sĩ, chàng trong đời thực có thể chỉ “nhái bén” thôi, nhưng một khi đã bước vào cõi thơ của nàng, thì chàng bao giờ cũng phải thật hào hùng, thật oách… Không thế, không thể thành tình yêu, thành thơ yêu. Điều này không chỉ đơn thuần là những ước lệ thẩm mỹ lâu đời chi phối cảm quan thơ yêu mọi thời. Mà sâu xa hơn đó là dấu ấn giới (sex/gender) trong thụ cảm và sáng tạo. Khi cất lời yêu, mỗi giới tính đều muốn được là chính nó. Dường như, nam tính muốn chuốt cho hình ảnh nàng trở nên bé nhỏ mềm yếu để nó có cơ hội được mạnh mẽ, chở che. Còn nữ tính lại cần phóng đại hình ảnh chàng lớn lao lên để nó được yếu ớt, nương nhờ. Tình yêu vốn là tiếng nói thẳm sâu nhất của giới tính trong mỗi cá thể mà. * Không chấp nhận những danh xưng lệch vai, xem ra, cũng là một qui luật khác của tình yêu. Ban đầu, các đôi lứa có thể đến từ nhiều dạng quan hệ khác nhau, lắm khi còn nảy nở từ những quan hệ thật ngang trái, ví như: chú – cháu, chị – em, thầy – trò, cô – trò, thậm chí, bác – cháu nữa. Trước đó, họ vẫn xưng hô theo các vai ấy, chẳng sao. Nhưng, một khi đã vào cuộc, kẻ mở lời mà cứ giữ nguyên vai cũ để tỏ tình, kiểu như “chú yêu cháu!”, “cô yêu em!”, “tớ yêu ấy!” chẳng hạn… thì thôi rồi, chẳng những không thể ra tình yêu, mà kẻ tỏ tình có khi còn được phong là… dở hơi nữa cũng nên. Để ra tình yêu, các vai kia dứt khoát phải “chuyển vế đổi dấu”, dứt khoát chúng phải tìm về với chuẩn mực muôn đời trong tiếng mẹ đẻ của mình là “Anh yêu em!”. Không thế, còn khuya tình mới chịu thành. Đơn giản vì, để tình trong lòng có thể lên môi, nó phải truất bỏ những lối xưng hô “lằng nhằng”, “rách việc”, mất… sướng. Nên, bảo đó là tình yêu đang chuẩn hóa ngôn ngữ hay ngôn ngữ đang chuẩn hóa tình yêu, thì đằng nào cũng thế à. * Khi yêu đôi lứa nào cũng muốn ngọt ngào. Và cho rằng chỉ có ngọt ngào mới là hạnh phúc. Người ta chỉ nhận ngọt ngào mà chối từ đắng cay, một mực xem đắng cay thuần là bất hạnh. Hình như không phải thế. Trải đời đến mức nào sẽ thấy cay đắng là phía không thể thiếu của một tình yêu trọn vẹn. Sao có được một đóa hồng trọn vẹn khi chối từ gai sắc của hoa ? Nếu thiếu đi vị đắng, chocolate đâu còn là nó nữa. Một tình yêu chưa trải qua đắng cay, đau đớn là một tình yêu còn thiếu sức đề kháng. Hoa hồng và chocolate được chọn làm biểu tượng cho ngày lễ tình nhân đâu phải việc tình cờ ! Mà trong thực tế, thơ yêu nói về cay đắng lại thường nhiều hơn ngọt ngào. Thậm chí, nói về cay đắng còn như một cách cảm nhận đầy thấm thía về hương vị ngọt ngào kì lạ của yêu đương nữa. * Nói đến tình yêu là nói đến tuổi trẻ. Nhưng không phải trẻ khiến yêu, trái lại, chính yêu khiến trẻ. Tình yêu là ngọn lửa lòng. Lửa còn cháy, người còn trẻ. Lửa lòng tắt là già ập đến. Yêu là phần trẻ của sinh lực người, sinh mệnh người. Nhưng trong thực tế cái ranh giới rất không đâu là tuổi tác lại đã thành một barie gây bao hệ lụy cho lứa đôi trong cõi nhân gian này. Tôi nhớ mối tình thời cổ ở một nước nọ. Nàng mười sáu tuổi bị cuốn hút bởi chàng đã xấp xỉ bảy mươi. Họ yêu nhau đắm đuối trong tuyệt vọng, bởi thói thường của cuộc đời cứ kì thị nặng nề sự chênh lệch ấy. Về sau, để không bị chia lìa, họ đã tìm đến cái chết. Mối tình với người đời là ngang trái ấy đã để lại một bài thơ bất hủ: “Quân sinh thiếp vị sinh / Thiếp sinh quân dĩ lão / Quân hận thiếp sinh trì / Thiếp hận quân sinh tảo”. Bản dịch bằng lục bát thật thấm thía: “Chàng sinh thiếp chửa ra đời / Thiếp sinh chàng đã già rồi con đâu / Chàng hận bởi thiếp sinh sau / Vì chàng sinh trước thiếp sầu ngàn thu. Sống trong tình yêu, cả hai người ấy đều chết trẻ. * Khi chưa yêu, người đọc Xuân Diệu gặp câu “Làm sao sống được mà không yêu”, thường chỉ nhận ra một phía : yêu là điều kiện thiết yếu của sự sống; khá hơn, thì hiểu: yêu là chất lượng của việc sống. Đến khi yêu, họ mới vỡ lẽ thêm cái phía ẩn của ý thơ : yêu là bản chất của việc sống. Nếu sự sống sâu xa ở mỗi cá thể là sống trong cảm xúc, sống bằng cảm xúc, thì yêu chính là cảm xúc điển hình nhất và mãnh liệt nhất của cá thể. Bởi vậy, làm sao có thể xem một cá nhân là đang sống nếu như cá nhân ấy không phải đang yêu ! Sống là yêu, yêu là sống, có lẽ không chỉ những kẻ đang yêu mới thấy sự đồng nhất thuộc về cái bản chất sâu xa của sự sống trong tương quan tưởng chừng nghịch lí này. Và cũng bởi thế, khi tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi cái hạnh phúc chân thực nhất của con người trong cõi nhân sinh này là gì ? hầu hết các nhà nhân văn lớn trên thế giới đều gặp nhau trong một quan niệm, đó là: được yêu và tin rằng mình đang được yêu ! * Khi yêu người ta là thi nhân. Thi nhân ấy sống thơ hơn là làm thơ. Khi ấy, thơ đối với họ là cái lúng liếng của ánh mắt, cái ngập ngừng của bước chân, cái rụt rè của đôi tay, cái ấp úng của lời nói, cái e ấp của làn áo, cái ấm sực của làn da… thơ ấy là mật của nụ hôn, là rượu của vòng ôm, là ma túy của ân ái… thơ tràn ra lời tán, tràn ra nhật kí, tràn ra thư tín, tràn ra email và chat… thơ làm nhiễu sóng điện thoại, làm trĩu lệch quỹ đạo của vệ tinh… chứ không phải thơ chỉ là những văn bản thơ nương nhờ vào cái du dương của nhạc điệu, cái bóng bảy của hình tượng, cái thâm thúy của ý tứ, cái tinh xảo của cấu trúc như ở những thi sĩ chuyên nghiệp. Được sống thơ là hạnh phúc, phải làm thơ là bất hạnh. Ở đời, người hạnh phúc trong tình yêu thường ít làm thơ, nếu cố làm, thơ thường nhạt. Người có thơ tình hay lại thường là người bất hạnh trong tình trường. Có phải đó là lẽ công bằng của tạo hóa khi độc quyền phân phối cái được cái mất cho nhân sinh? Hay bất hạnh là cái giá đắt mà nữ thần thi ca vốn sòng phẳng không bao giờ khoan nhượng khi ban cho thi sĩ những tiếng thơ hay ? Bởi điều này mà trong đời mới có phân vai kẻ khôn người dại. Thi sĩ thường nhận mình là kẻ dại. Trong khi, kẻ khôn thì lao vào những cuộc yêu, kẻ dại lại lẩn mẩn ngồi viết thơ yêu. Kẻ khôn muốn gặt hái tức thì, kẻ dại cứ ảo vọng vào những lờ lãi mai hậu. Tôi nhớ một nhà thơ tình nổi tiếng của nước Pháp về già khi trò chuyện với người bạn thân của mình, đã rất “ăn năn” : chẳng cái dại nào như cái dại nào, trong khi anh lao vào hết cuộc tình này đến cuộc tình khác, tôi lại ngồi viết hết bài tình nọ đến bài tình kia (!) Nhưng, làm sao nói quyết được ai dại ai khôn. Những vết thương sâu thường cất lên những tiếng lòng sâu. Để có những tiếng thơ yêu làm quà tặng cho cuộc đời, các thi sĩ thơ tình thường ươm thơ từ những vết xước của con tim, thường vun trồng thơ từ những bất hạnh, chưng cất thơ từ những nỗi đau trong tình trường. Đọc thơ, đôi khi phía sau những con chữ lung linh rất có thể là những giọt lệ lặng lẽ, mà không phải ai đọc cũng nhận ra. * Không chỉ sản sinh ra những thi nhân chuyên thơ tình, bất hạnh trong tình yêu còn sản sinh ra một đối tượng nữa: những triết nhân của tình yêu. Giai thoại Hy Lạp có chuyện kể về cuộc tư vấn của một nhà hiền triết đối với học trò. Khi tình yêu đến, người học trò vốn đang theo đuổi những triết thuyết cao siêu của thầy liền bị nhiễu loạn. Anh ta đã mạnh dạn hỏi thầy nên yêu hay không nên. Nhà hiền triết đã lập tức cho một lời khuyên: con cứ yêu đi, đằng nào thì con cũng được. Nếu may mắn, con sẽ là người hạnh phúc, còn bất hạnh con sẽ trở thành… một nhà triết học! Thì ra thế, hạnh phúc cho người ta làm tình nhân, còn bất hạnh có thể biến tình nhân thành triết nhân. Thay vì làm tình nhân để tận hưởng những nụ hôn, thì triết nhân ngồi triết lí về những nụ hôn. Thì ra, thi nhân thơ yêu và triết nhân tình yêu là những “nạn hữu” bị “bạc đãi” trong tình trường (!) Hèn chi mà, người ta thấy những triết gia có triết thuyết sâu sắc về tình yêu thường bất hạnh, và những nhà thơ tình hay triết lí về tình yêu cũng thường… kém may mắn trong sự yêu. Nếu một thi sĩ thơ yêu lại đồng thời là triết nhân của tình yêu thì xem chừng anh đã có cơ trở thành… một tác gia lớn rồi vậy. * Ở ta, một thời gian dài, do những nguyên nhân chỉ trời mới hiểu nổi, tình yêu đôi lứa và thơ yêu ít được khuyến khích. Tình đôi lứa khó đi một mình, mà cứ phải nấp bóng tình công dân thì mới có thể đi được. Con người cá nhân nếu không bị con người công dân lấn át thì cũng cứ phải cặp kè thì mới có thể yên tâm. Vì thế, đôi khi phải nói rất to tát: “Anh yêu em như yêu đất nước”, có khi còn chi li cụ tỉ đến siêu hình : “Trái tim anh chia ba phần tươi đỏ”, thường khi phải ôm những vòng ôm vô cùng lỉnh kỉnh : “Anh ôm em và ôm cả cây súng trường trên vai em”, và phổ biến một thời những cái hôn đầy kiêm nhiệm : “Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí”… Bởi thế, thơ yêu kiểu ấy thường dư khí mà nghèo vị. May thay, ngay cả những lúc như thế, tình yêu thuần khiết vẫn cứ dạt dào trong những lồng ngực trẻ. Và thơ yêu thuần tính vẫn cứ cất lời, lan xa, dù tiếng vang của nó chủ yếu theo dòng ngầm. Nó vẫn viết về tình yêu như cội nguồn của sự sống, viết về yêu và thương như những nhịp đập bền bỉ của con tim, về ngọt ngào và cay đắng như hương vị không thể thiếu nhau của một cuộc tình trọn vẹn, vẫn viết bằng sự mẫn cảm thi nhân và sự thông tuệ của triết nhân, con người công dân ở đó không bao giờ là cái bóng đè con người cá nhân… Bởi thơ yêu đích thực luôn là bài ca sự sống, một sự sống luôn vượt qua mọi ngáng trở để trụ vững và vươn lên. Đúng hơn, bởi thơ yêu chính là sự sống tự cất thành lời ca. Mỗi tiếng yêu là một nhịp đập, mỗi thi ảnh là một mảnh hồn. Chắt ra từ sự sống và đắp bồi cho sự sống, mỗi lời thơ yêu bao giờ cũng là một giọt đời kiên nhẫn. Để đến giờ, nó đã thành một gia sản sáng giá của thơ Việt, xứng đáng làm quà tặng tình yêu cho mọi đôi lứa, và có thể sánh bước cùng thơ yêu của khắp muôn nơi. -- Hà Nội, ngày áp Tết con RồngC.V.S CÁC TIN TRƯỚCCÁC TIN TIẾP THEO |