Mưa giăng

        (Truyện ngắn của Nguyễn Khánh Thành)         

             Tôi bị đẩy ra đường sau khi giáng cho thằng khách già một đòn chí tử vào bộ hạ. Thằng khách già rú lên, đổ rập xuống tấm ga điểm vài giọt trắng nhờ nhờ. Thằng này giày vò tôi rã rời, đau rát. Khốn nạn tột cùng khi hắn rút tờ tiền xanh thẫm cuộn tròn, ấn vào cửa mình làm cơn đau quặn thắt do bị những cạnh sắc của tờ tiền polyme làm tôi điên loạn.

                 

Thằng Hải lùn cùng đám bảo kê “dạy bảo” tôi bằng những cú thúc gối vào cửa mình làm những cơn đau buốt lên đến đỉnh đầu. Chuyến xe ôm miễn phí đưa tôi về phòng trọ. Năm đứa ở chung với hơn hai mươi mét vuông khép kín cho tất cả những sinh hoạt. Mỗi đứa một hoàn cảnh nhưng chúng tôi giống nhau ở việc cùng làm nghề bán thân xác để mưu sinh, ban ngày ôm nhau trên tấm phản ghép vội để bốn giờ chiều lại tỏa ra các quán cà phê chờ khách. Con Thủy lấy  cho tôi chiếc khăn tắm lau mặt rồi đắp xuống nơi cửa mình đang rỉ máu. Miếng đắng nghét và bầm dập.

Thôi mày cứ nằm đó nghỉ ngơi đi. Mẹ kiếp. Trời mưa sầm sập thế này thì đói rã họng đến nơi rồi. Ăn mì không tau pha cho, cháo thì không mua được đâu. Mưa gió thế này.- con Thủy làu bàu.

Năm đứa sinh sống bằng nghề làm điếm mà không bao giờ đủ ăn. Tiền đi khách chi trả cho chủ, bảo kê, xe ôm và ăn uống, son phấn là hết xoắn. Những khi dư giả chỉ thoáng chốc rồi vụt bay như những giấc mơ đẹp thoảng qua  trong giấc ngủ ngắn. Mưa vần vũ như xiết nợ, mưa trắng phau như   túi nước vỡ òa. Nước duềnh lên sát mép thềm, rác rưởi ăn theo dạt kín bậc thềm. Thành phố chưa bao giờ có trận mưa to và kéo dài đến thế. Bốn ngày. Dòng sông đen ngòm quanh xóm trọ bao năm khắc khoải chờ chết bỗng nhiên trở mặt hung hãn  và hừng hực như thuở còn trai tráng. Bao năm nó chịu sự bức tử của con người. Người ta khơi cống, đào rãnh và vứt tất cả những gì không dùng xuống dòng sông.Thi thoảng còn có cả xác người trương phềnh, thối rữa. Dòng sông đặc quánh làm sàn cho họ hàng nhà chuột qua lại và nhảy múa, làm tình, sinh con đẻ cái và làm nơi trú ngụ. Dòng sông không chết, chỉ có ai đó bảo nó chết thì đang chết mà thôi. Mưa to và ngập tràn mọi ngõ ngách  tạo ra công ăn  việc làm cho đám người cơ hội chèo thuyền đi khắp các ngõ ngách phục vụ thượng đế với giá trên trời. Điện đóm tắt ngúm, sóng điện thoại đỏng đảnh lúc được lúc mất. Thi thoảng lại có cảnh báo về  những trận mưa dữ dằn tiếp theo. Lòng người âu lo, giường như đã hoảng loạn, thành phố nhận được lời thăm hỏi mang nặng tính PR của vị tổng thống da màu bên kia đại dương.

Mưa to, dài. Thành phố dìm ngập trong nước. Không khí trong lành đến ngạc nhiên. Khói bụi, mùi xăng nồng nặc, tiếng còi chát chúa và xô đẩy tranh nhau từng milimet biến đâu hết. Mọi người xếp hàng lên thuyền tôn xám bạc lướt trên các đại lộ len lỏi theo các ngõ ngách về nhà.

- Hồng ơi! Bọn tao không thể nuôi mày được nữa. Bọn thằng Hải lùn đang lùng sục tìm đòi cắt gân mày. Nó nói sẽ đuổi chúng tao nếu còn chứa chấp mày. Chúng tao sợ lắm mà tiền ăn đã không còn nữa rồi. Nhưng tao đi đâu bây giờ hả Nga ơi.

Chúng tôi ôm nhau khóc nức nở, nước mắt như được trộn vào những giọt mưa sầm sập tuôn trào.

Mưa mải miết không ngừng nghỉ bảy ngày rồi ngớt. Mưa không làm cho lòng người dịu hơn. Hết lo mưa là lại lo đến chống ngập úng và dọn dẹp nhà cửa. Xác mèo chuột cùng rác rưởi tràn ngập khắp nhà. Con Trâm thủ thỉ: “Hồng à. Tao có ông anh ở Sơn Đông đấy. Mày lên đó mà làm chứ đất này mày không còn chỗ sống đâu”.

- Lão Hùng gấu á? Thằng đó dữ dằn lắm. Trước đây có con bé ở Phú Thọ giấu tiền bo của khách, bọn nó phát hiện, đánh cho đến chết, sau đó nhờ có quan hệ tốt bên công an nên họ kết luận là bị điện giật chết, vậy là hòa cả làng.

- Ôi. Mày còn tiếc chó gì cái đời này nữa mà sợ chết hả Nga. Đằng nào rồi cũng chết nhưng chết đói thì kinh khủng lắm.

Trâm dúi cho tôi vài trăm ngàn mà nó còn khôn khéo giấu được. vĩnh biệt Hà Nội, vĩnh biệt nơi tôi bầm dập trong vũng lầy của trần gia để đến một địa ngục khác.

Chuyến xe khách từ Hà Nội đến Sơn Đông là chuyến đi đến chết tôi không thể quên được. Từ thành phố đến thị xã bé nhỏ này chỉ gần năm mươi kilomet nhưng đó là cuộc hành trình khổ ải nhất trong đời tôi. Mưa to và kéo dài làm con đường quốc lộ biến thành dòng sông. Có chỗ lái xe phóng vọt qua được nhưng có chỗ hành khách phải xuống đẩy để xe không chết máy. Xe đi từ sáng sớm mà tối mịt mới đến được thị xã. Trời lại mưa, mưa quất tới tấp vào ô cửa kính lốp cốp như vó ngựa gõ xuống đường rải nhựa. Mây đen vần vũ rồi chuyển sang trắng xóa. Khách thở dài ngao ngán, chép miệng nhoành ra: mẹ kiếp, mưa đéo gì mà dai thế.

Bảy giờ tối mà trời đã tối sẫm như những đêm cuối tháng, xe dừng chỗ cây xăng trả khách vì không thể nào vào được trong bến. Cánh xe ôm túa ra chắn ngang cửa xe níu kéo khách, miệng hỏi han, tay giằng lấy hành lý. Tôi mệt mỏi rã rời. Về đâu cô em? Gã xe ôm mắt láo liên không rời tôi nửa bước. Tôi thọc tay vào túi quần tìm mảnh giấy ghi địa chỉ của Hùng gấu. Lạnh người, mảnh giấy cùng số tiền Trâm cho, không biết đã mất từ khi nào. Tôi ngồi xuống thềm buồng viết hóa đơn cho khách mua xăng, ức nghẹn và mắt đã tối sẫm hơn. Tay xe ôm thấy không chèo kéo được gì nên quay lại kéo khách khác. Trời mưa và lạnh. Người phụ nữ bán xăng mở cửa phòng bước ra nói chua loét: “Này. Đi chỗ khác. Đây không phải là chỗ vạ vật nhé”. Tôi đi, đi như lê bước trên con đường rải nhựa xâm xấp nước cùng hào âm của tiếng ếch nhái ộp oạch. Bây giờ là mấy giờ nhỉ? Chín hay mười giờ hay hơn nữa? Tôi đang đi đâu giữa cái thị xã nhỏ bé và lạ hươ lạ hoắc này. Tiếng xe máy phanh kít- đi không em? Đi với anh nhé. Tôi không đáp.  Mẹ kiếp. Con đĩ mà tinh tướng nhỉ. Tưởng bố mày ít tiền à. Xe máy vọt đi để lại hai vạt nước dạt sang hai bên như ca nô lướt sông. Tôi không có tiền. Người mệt rã rời và bắt đầu thấy đói. Nước mưa đã len lỏi qua cổ. Phố xá vắng vẻ mà trời mưa lại càng vắng vẻ hơn. Tôi không biết mình đi đâu nữa.

           

Tiếng ô tô xóc xách rồi táp vào lề đường. Người lái xe thò đầu bên ghế phụ hỏi tôi đi đâu. Tôi khuỵu xuống, người lái xe nhảy xuống xốc tôi lên ca bin rồi đi tiếp. Tôi choàng tỉnh. Qua ánh đèn trần yếu ớt, tôi nhận ra người lái xe là một quân nhân trạc ba mươi tuổi đang lái xe chở xăng. Hai mắt dúi lại, tôi gục xuống nắp ca bô thiếp đi. Khi tôi tỉnh dậy, miệng còn đắng nghét và xót. Một người phụ nữ khoảng năm mươi đỡ tôi dậy. Người đàn bà nhanh nhẹn nhưng cử chỉ rất khoan thai và dứt khoát. Vào buồng tắm, tôi nhận ra mình đang khoác bộ quần áo của chị. Chiếc áo hoa trắng, nền xanh có chiếc cổ cắt và may rất khéo. Tôi hòa mình vào bồn nước tắm như muốn rũ bỏ những nhơ nhớp đang bám trên người. Máu rỉ ra đỏ háng, đau thốc lên đỉnh đầu. Tôi lau người rồi với lấy bộ quần áo để sẵn trên giá treo bằng inox sáng loáng. Em ăn đi, trưa rồi đấy. Quần áo em chị giặt hết rồi, chỉ đến chiều là khô thôi. Tôi thoáng nhìn người đàn bà ngồi bên dãy bàn ăn, chị ta mặc quần dạ xanh thẫm, trước mặt là hai bát mì bốc khói. Tôi không thấy đói, định hỏi chị nhưng cơn buồn ngủ níu tôi lại.

Tôi không biết mình ngủ từ lúc nào nhưng một giấc mơ lạ lùng hiển hiện. Một đoàn người xúng xính áo mũ rước kiệu với một ông áo vàng ngồi nghiêm ngắn và bộ mặt lành lạnh uy quyền. Tiếng chiêng trống hòa với tiếng lật phật của cờ đuôi nheo. Lính mặc áo nâu, đội nón sắt đeo mảnh lụa đỏ ở thắt lưng cầm giáo dẹp đường. Trong đám lính ấy có cậu Hòa tôi. Cậu ơi! Tôi tất tưởi chạy theo níu áo cậu. Về ngay, ai cho mày chạy theo cậu. Về ngay. Nhưng tôi vẫn bám theo đoàn người lạ lùng đó. Đến cây cầu máu xám, cậu tôi quay lại vằn mắt gằn giọng: về ngay. Rồi hất tôi lại, không cho tôi qua cầu nữa. Dưới lòng sông đen ngòm vài bóng thuyền lạnh lùng trắng toát đưa những thi thể lạnh lẽo cô hồn qua sông với những tiếng hò thê lương và tiếng cười man rợ. Cậu Hòa tôi chết cùng với vợ trong lần lên ngân hàng huyện vay vốn trồng măng Đài Loan. Tai nạn thảm khốc. Cả nhà luống cuống như gà con mất mẹ vậy nà tôi cứ khóc ngằn ngặt ngoài sân đòi ăn thịt gà. Thương tôi, bố tôi ra chợ huyện mua nửa con gà luộc sẵn nhưng tôi đòi ăn con gà đặt trên bàn thờ cậu mợ.

Khi tôi tỉnh dậy, thấy người đã nhẹ nhàng hơn. Người phụ nữ lấy cốc pha cho tôi một cốc sâm nóng. Tôi vào nhà vệ sinh nhè lát sâm ai đó đã nhét vào miệng tôi. Uống đi em, chị là Mai, chị cùng đơn vị với chú Thăng đó. Hôm trước mưa gió, chú đưa em đến đây rồi đi ngay. Em mệt nhỉ. Ngủ miên man suốt hai ngày liền. Chị đi nấu cơm nhé.

Đặt mình trên chiếc ghế bành bọc da màu hổ phách, tôi uống một hơi hết cốc nước sâm và lo lắng. Đây là đâu? Tôi làm sao tiếp khách được khi thân thể còn đau rã rời thế này.

Bữa cơm dọn ra chỉ có tôi và chị, với vài món nấu đơn giản nhưng tôi thấy ngon. Có lẽ hơn mười ngày ăn sơ sài và mệt mỏi, đau đớn từ trận đòn của bọn đầu gấu Hải lùn, tôi ăn thật sự không khách sáo và cũng chẳng trò chuyện gì. Tôi đặt bát xuống với túi giấy ăn lau miệng. Chị mở tủ lấy chai nước cam rót, đẩy về phía tôi. Tôi thấy lạ lùng và thật sự sợ hãi. Lòng tốt và sự tử tế của con người có lẽ chỉ hiện hữu trên cung trăng hoặc sẽ hiện diện ở thế giới nào đó. Tôi lo lắng...

Tôi sinh ra trong một gia đình nông dân có nghề gia truyền làm hương đen. Tôi không biết nhà tôi mấy đời làm nghề này nhưng tôi không chịu được  cảnh cả nhà cắm cúi se hương. Mùn cưa làm tôi ho sặc sụa. Cha tôi mắc bệnh xoang hốc mũi cũng vì mùn cưa và hương liệu mùi trầm từ lúc còn tấm bé. Không thích làm nghề nông và nghề làm hương gia truyền, tôi học hành cũng chẳng ra sao. Là con gái mà tôi chỉ thích rong chơi, mẹ nói chán rồi cũng thôi. Bố tôi và anh trai lầm lũi như những người thợ đánh giậm. Họ cần mẫn quẹt que tre vào cục bột trầm rồi cắm cúi miết bàn xoa lên que hương dưới nắm mùn cưa tơi khô. Họ chỉ ngẩng mặt khi một cơn gió bay qua bốc đám mùn cưa nhét vào hốc mũi, rồi hắt xì hơi một chặp cho nước mắt nước mũi túa ra. Chẳng tương lai gì cả, đàn ông vậy thì phí quá. Học hết lớp mười hai, thi đại học không đỗ. Thành phố. Tôi quyết định bám trụ. Tôi nhanh nhẹn và tinh ý nên kiếm việc không hề khó khăn gì cả. Tôi có được việc làm ở  quán bia của Phương teo. Ông chủ người nhỏ thó có đôi mắt biến ảo khôn lường, lúc thì lờ đờ như mắt chó con mới đẻ, lúc lại giảo hoạt như mắt chuột ngày. Ít nói và hầu như không nói gì cả ngày, ông điều hành bằng mắt và hất cằm. Công việc cũng chẳng vất vả gì nếu so với làm ruộng hoặc se hương ở quê. Nhưng thành phố mê hoặc vô cùng, nó rất bạc bẽo nhưng ai đã đến là không bao giờ muốn rời. Hằng ngày, ngoài công việc bưng bê và ghi yêu cầu của thực khách, tôi xăng xái làm cả những việc của người khác như nhặt rau, thái thịt, rửa cốc. Sau hai tháng, tôi đã thấy Phương teo nhìn tôi bằng ánh mắt ấm áp hơn. Ăn uống hơn hẳn ở nhà, tối ngủ luôn tại nhà hàng. Sức trẻ tuổi mười tám và cơm gạo thành phố làm tôi căng tròn rạng rỡ. Phương teo gọi anh quản lý yêu cầu hướng dẫn tôi việc điều hành nhân viên, quản lý nguồn thu và mỗi tối, ông cho tôi hai tiếng học ngoại ngữ. Lương tăng, giúp tôi tự tin đi vào những cửa hàng quần áo sang trọng mà trước đây, trong mơ tôi cũng chưa từng nghĩ đến. Tiếng Anh đã khá, Phương teo giao cho tôi việc quản lý cánh nhân viên chạy bàn và thi thoảng được cùng ông đi đây đó ký hợp đồng cung cấp nguồn hàng. Tôi đã tin vào sự đứng đắn và thầm nghĩ về những nhận định không hay khi mới đến làm việc tại nhà hàng Phương teo. Ông chủ đã có vợ, một người đàn bà trẻ và cũng rất ít nói như ông ta. Trong chuyến đi, ngoài nhắc công việc và đôi lần hỏi han về gia đình tôi, ông không nói gì thêm. Các chuyến đi trong Nam ngoài Bắc có khi ngắn khi dài chỉ có tôi và ông nhưng tuyệt nhiên không hề có sự lợi dụng hay gạ gẫm nọ kia. Mà cũng chẳng sao nếu tôi có ngủ với Phương teo thì cũng rất bình thường. Còn hơn yêu và dâng hiến cho mấy thằng cùng trang lứa. Phương teo rất đúng mực, dù có lần vào tận Cà Mau đặt mua mực ống bãi Vàm Tràm rì rào con sóng. Hai giờ đêm, tôi thấy mình căng cứng và thèm khát. Tôi gọi cho Phương teo nhưng ông ta quát tôi ngủ đi mai còn đi làm sớm. Ngạc nhiên, vô cùng ngạc nhiên. Chẳng lẽ ông ấy không biết tôi đang cần ông ấy hay sao. Dù có ngang bướng và ham chơi nhưng tôi chưa bao giờ chung đụng với gã đàn ông nào. Mười chín tuổi như thế là lạc hậu nhiều rồi.

Tôi ít về quê, dù quê tôi với Hà Nội không xa, xe khách đò giang rất thuận tiện. Tôi dành thời gian học thêm lớp quản trị kinh doanh ngắn hạn của trung tâm liên kết giáo dục nước ngoài. Trẻ trung, xinh xắn, đã có mấy anh chàng trong lớp tán tỉnh xin số điện thoại, mời chào xin hò hẹn. Tôi lạnh lùng từ chối, chỉ chuyên chú vào học hành và làm việc. Nhà hàng ngày càng đông khách. Anh quản lý đã nghỉ việc và tôi là người thế chỗ anh. Phương teo đổi tâm tính, đôi lúc hay nói cười và còn cười đùa với nhân viên. Một hôm ông gọi tôi lên phòng làm việc để nghe ông triển khai kế hoạch mở một cửa hàng phục vụ ăn uống theo phong cách Nga mà chủ đạo là cá hồi. Tôi ngây ngất, không ngờ tôi một con bé học hành láng tráng, ngồi ở góc làng nhìn cao lắm chỉ qua ngọn tre một tí vậy mà xuất ngoại? Xưa nay chuyện đi Tây là chuyện trọng đại, nó là chủ đề xôn xao của làng tôi. Dư âm còn đọng mãi trong những buổi trà dư tửu hậu trong làng. Phương teo đưa tôi đi làm hộ chiếu rất nhanh gọn. Tôi nghỉ một tuần chờ bay. Biết rằng chuyến đi được Phương teo tài trợ mọi chi phí nhưng tôi vẫn mang số tiền gom góp được ra Bờ Hồ đổi sang đô la với dự định sẽ mua quà và những thứ mình thích. Tiền khá nhiều, tôi cũng chú trọng làm đẹp mình cho chuyến đi. Làm tóc, làm răng, làm móng... cũng hơi xót tiền nhưng không sao. Tôi sung sướng khi bắt gặp tôi trong lần đầu tiên làm đẹp.Tôi tự tin và mỉm cười khi nghĩ đến ánh mắt của Phương teo, của đối tác Nga bị cuốn hút theo tiếng cười, bước đi và phong cách mới đầy trẻ trung và xinh đẹp của tôi.

Chuyến bay dài, quá cảnh ở Cao Hùng và Nagoia. Từ ô cửa kính máy bay nhìn xuống thăm thẳm một màu xanh ngắt, cái màu xanh được hòa quyện giữa biển và mây tầm thấp tương tác với ánh sáng mặt trời khiến ta có cảm giác ngồi trên tấm thảm bay màu xanh của người Ba Tư cổ đại. Rất mượt và êm dịu. Chiếc loa bên đầu khoang thông báo máy bay đã vào không phận Nga, nếu thời tiết đẹp, quý khách sẽ đến Matcova sau hai tiếng nữa. Lúc này, mưa chờn vờn trên cửa kính, cần mẫn tìm một khe hở nào đó để được lang thang trong khoang máy bay với hành khách. Vô vọng lắm hỡi đám mây ngây thơ và vụng dại kia ơi. Không thể nào lọt vào đây được đâu. Máy bay xô, lắc mạnh. Nó đã vào vùng khí hậu xấu, nôn nao và có phần hoảng hốt. Tiếp viên hàng không liên tục trấn an hành khách. Sau mỗi lần trấn an là những bản tình ca Nga nổi tiếng một thời lại vang lên, minh chứng tình cảm của người Việt mình với dân tộc Nga còn sâu đậm lắm.

Khách sạn chúng tôi ở nằm ở ngoại vi thành phố Maxcơva. Ngạc nhiên nhất là đoàn chúng tôi có đến hai mươi ba cô gái trạc tuổi nhau. Phòng khách sạn rộng, tám đứa một phòng. Phương teo thu lại hộ chiếu và căn dặn chúng tôi không ai được phép ra khỏi chỗ ăn nghỉ. Tôi ngạc nhiên nhưng mệt mỏi đã níu kéo tôi vào giấc ngủ thật sau, ấm cúng trong những đợt bão tuyết đang vốc từng nắm, ném côm cốp vào cửa kính. Tôi bị dựng dậy cùng các cô gái và khoảng bảy, tám gã đàn ông Việt, Nga đeo kính đen mặt mũi rất cô hồn. Tiếng người đàn bà sắc lạnh: thằng Phương teo đã bán chúng mày cho tao rồi. Một trăm ngàn đô một đứa. Đứa nào có tiền chồng ra đây thì được tự do còn nếu không thì từ nay sẽ là người của tao. Tao sẽ nuôi ăn ở nhưng phải làm việc để kiếm tiền trả tao. Không.- Tôi gào lên và đám thanh niên xúm lại đấm đá tơi bời, màng ra mắt hoàn hảo. Hai mươi ba đứa được phân loại chia thành nhóm rồi đi đâu không rõ. Riêng tôi đã được một đàn chị hết thời săn sóc, cơm cháo, xoa nọc rắn vào những vết đòn, rủ rỉ khuyên bảo tôi nên cam chịu và chấp nhận số phận. Tôi bắt đầu cuộc đời làm đĩ trên đất Nga. Tiếp khách không kể ngày đêm, những gã đàn ông Châu Phi đen sì, to đùng và rất khỏe, những tên khách người Hoa keo kiệt và khốn nạn, chúng kì kèo từng rúp rồi vần vò cho chán chê, thỏa mãn, sau lại ra cằn nhằn với tay quản lý thế nọ thế kia để đòi bớt tiền. Khách Việt thi thoảng đến nhưng lấm lét, vội vàng, xong là biến ngay rất nhược tiểu. Khách bản xứ ngờ nghệch, rất dễ moi tiền nhưng họ thường đến khi đã quá say và những tay quản lý thường không thích. Có lẽ chúng sợ tai vách mạch rừng hoặc biết đâu không vừa ý họ sẽ có cuộc đập phá kinh hoàng mất chốn làm ăn. Mấy tháng đi qua không để lại dấu vết gì, tôi không còn biết ngày tháng nữa, tôi đã trở thành cỗ máy kiếm tiền cật lực ngày đêm. Thời gian trong tôi không còn là khái niệm. Tôi đã là con điếm thành thục với đầy đủ các mánh khóe, xảo thuật trong nghề để moi tiền của khách và làm mình đỡ mệt hơn. Nền công nghiệp tình dục đã đào tạo ra những tay quản lý chuyên nghiệp, lọc lõi và những con đĩ thành thục. Tôi thù hận Phương teo. Một ngày tôi đang tiếp khách thì cảnh sát Nga ập vào, dọn sạch ổ mại dâm, tất cả lên xe bịt kín đưa về bót. Chúng tôi không hộ chiếu nên chỉ thẩm vấn qua loa rồi ký quyết định trục xuất. Tôi để ý thấy mụ đàn bà giọng Nghệ An thất thần nhưng đôi mắt sắc lạnh bình thản đến lạ lùng. Mụ và đám quản lý sẽ có thời gian tận hưởng cuộc sống sau song sắt.

Tôi về Hà Nội, thành phố vẫn như lúc tôi đi. Ba năm là một thoáng ngủ trưa của đời người yên ả. Nhưng đối với tôi thì khác, ba năm tủi nhục ê chề, kiệt sức và tàn tạ. Kế hoạch trả thù Phương teo tôi chuẩn bị rất tinh vi, tôi không vác dao đến đâm hắn, không báo công an. Sự có mặt của tôi ở thành phố này hoàn toàn bí mật. Tôi đứng đường bắt khách để sống và  đăng kí học lái xe. Học xong tôi nộp tiền thế chấp xin vào hãng taxi hành nghề kiếm bạc vụn và vẫn đi khách thường xuyên. Việc kiếm sống bằng nghề taxi rất khó khăn và tôi không hề có ý định sống bằng nghề này. Chiều ngày mùng sáu, tháng ba, năm...một vụ tai nạn kinh hoàng xảy ra, vợ chồng Phương teo hớn hở trên chiếc xe SH, thằng bé con ngồi phía trước mặc chiếc áo len đỏ có thêu đôi mèo đang phụng phịu. Tôi nhả côn, nhấn chân ga lao thẳng vào chiếc xe máy từ phía sau vợ chồng hắn bị hất lên nóc xe rồi tụt xuống phía sau, thằng bé con bắn về phía trước. Tôi cài số, lùi nghiến hai bánh sau lên vợ chồng hắn rồi chuyển sang số tiến đè nốt lên thằng bé đang giãy đành đạch như gà nhúng nước sôi. Tôi bỏ xe, chạy vội sang đường biến mất trong ngõ nhỏ thông sang đường lớn bên kia. Tôi vẫy xe ôm đến quán phở quen thuộc. Khói phở bốc lên nghi ngút, tôi dốc nửa chai tương ớt làm bát phở đỏ ối như máu. Tôi biết sẽ phải lâu lắm tôi mới được quay lại đây và có thể sẽ không bao giờ quay lại được nữa. Bát phở làm tôi vừa no nê, vừa nhẹ nhõm. Tôi đi đến công an phường trình báo và tất nhiên là tôi không thể về nhà được nữa.

Tôi phải bóc lịch năm năm trong song sắt nhà tù với đầy đủ những đầy ải trần gian, đói, rét, lao động cật lực. Công lý luôn được thể hiện trên những khuôn mặt lạnh lùng và quyền lực được phô diễn trên những chiếc dùi cui cao su thúc vào bụng, vào háng. Chẳng nghĩa lý gì, đói khát không làm tôi sợ, những trận đòn không làm tôi kêu than. Khổ nhất là kỳ hành kinh, vải vụn được giữ gìn cẩn thận để dùng. Tôi không có người thăm nuôi, tiếp tế nên chẳng bao giờ có được sự ưu ái của quản giáo, chỉ có một lần ngồi lau giày cho một nữ quản giáo mới về trại, chị nhìn quanh rồi gật đầu cho tôi lấy cái khăn lau giày vì ít vải vụn đã mủn. Năm năm qua đi, tôi ra trại và trở lại nghề cũ.

Người đàn bà tên Thư quê Thái Bình. Chị kể. Năm mười bảy tuổi chị đỗ vào trường  Trung cấp Văn thư. Hai mươi tuổi ra trường, được ông anh rể xin vào quân đội làm nhân viên đánh máy thuộc ban Bảo mật. Chồng chị, một người lính đen đúa trở về sau tám năm quăng quật trên chiến trường Campuchia. Năm 1989 đất nước vô cùng khó khắn, Liên Xô đang vào giai đoạn cuối của cơn bạo bệnh. Anh trở về đơn vị lạc lõng, thất thần. Thà cứ ở nơi sinh tử trên đất Chùa tháp còn hơn về đơn vị chăn bò. Anh đâm ra chán, xin đi xuất khẩu sang Liên Xô. Đi được hai năm thì Liên Xô sụp đổ, anh bám trụ lại quê người mưu sinh. Từ đó vợ chồng biền biệt nhau. Thư từ không qua lại nữa, rồi anh gửi về đơn ly hôn, mọi việc như đã sắp đặt trước. Chị không buồn vì có buồn cũng chẳng thể níu kéo anh được nữa. Chị lại cắm cúi một mình với công việc dù tuổi thanh xuân vẫn rạo rực trong những đêm khuya vắng. Anh về. Người vẫn thế nhưng có rất nhiều tiền. Chị không hỏi mà anh không bao giờ kể. Họ nhóm lại ngọn lửa lòng tưởng như đã lụi tắt từ lâu. Niềm vui tột cùng khi chị thấy chậm kinh, trong cơ thể người mẹ đã có mầm sống. Anh bàn với chị để anh xuống Hà Nội lập nghiệp kinh doanh nhà hàng ăn uống. Sẵn vốn và kinh nghiệm nên nhà hàng đông khách, thu nhập rất khá. Chị sinh cho anh một bé trai ốm yếu nhưng do thuốc thang tốt, cháu lớn lên cũng khỏe mạnh, kháu khỉnh. Anh nói với chị cho cháu xuống Hà Nội với anh để tiện việc học hành và chăm sóc.  Còn chị, vài năm nữa đủ năm công tác sẽ nghỉ hưu và xuống quản lý nhà hàng với anh. Rồi anh có người đàn bà khác, đứa trẻ cũng không muốn trở về với chị, nó đã quen với phố phường tấp nập và  quên hẳn vùng núi đồi vắng vẻ này. Chị cũng rất buồn. Sau này bình tâm lại, chị nghĩ như vậy lại tốt hơn cho cháu. Nó không muốn quay trở lại nơi sinh ra nó. Thằng bé tinh ranh chứ không ngây thơ như mẹ, nó không bị mê hoặc về một lý tưởng viễn vông, sự cống hiến cho... để đầy ải mình lên vùng “khỉ ho, cò gáy”. Chị đã chết điếng khi được người ta báo tin cháu đã chết cùng bố và dì trong một vụ tai nạn giao thông. Người lái xe trong lúc buồn ngủ đã gây ra tai nạn làm ba người chết tại chỗ.

Ngay buổi tối hôm đó, tôi xếp quần áo rời khỏi nhà người đàn  bà đau khổ ấy. Tôi đi về phía biển, văng vẳng đâu xa tiếng chuông từ ngôi chùa nào không rõ nữa. Phật dạy rằng “lấy ân trả oán” mà con người cứ chồng chất tội lỗi, ngập ngụa trong giành giật, bon chen mà cõi vô vi thì còn xa lắm. Tôi gạt hết nhơ bẩn trên người trong làn nước xanh biếc chảy róc rách bên những bụi lau lách dưới chân một dãy núi sừng sững quanh năm mây phủ.

Lên chùa xin một bữa cơm chay tịnh, lòng nhẹ bỗng thanh tịnh. Người sư trẻ muốn chuyện nữa với tôi về những điều ông thấm nhuần được từ khi giác ngộ nhưng tôi lại đi. Một nấm mồ tươi đất mới, vài vòng hoa trắng muốt vấn đang hé lay động trong màn sương đêm. Tôi dứt từng bông hoa cho vào túi ni lông đầy chặt. Chiếc cầu dây văng vắt qua eo biển nhơm nhớp, trơn tuột, xe cộ vẫn qua lại bật đèn chống sương mù vàng ửng. Những bông hoa được thả xuống trôi đi, trôi đi. Hãy trả lại sự thanh khiết cho dòng sông. Trả lại ân oán cho đời người trần thế. Loài người cứ dẫm đạp lên nhau, gây oán chuốc thù, để rồi khi về hư không lại vần vũ trong cát bụi. Bông hoa cuối cùng là bông hoa thứ ba ngàn sáu trăm năm sáu. Tôi cởi quần áo cho cơ thể thanh thoát bước qua lan can sang mố cầu rồi buông mình xuống dòng sông mờ đục. Cảm giác bồng bềnh trong hư vô. Sương đặc quánh, lớp lớp lưới giăng như níu tôi lại. Phía xa, cậu mợ tôi đang hối hả chèo thuyền. Dòng sông cũng bắt đầu đặc quánh...

---

N.K.T

(Nguồn: Văn Nghệ)


 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
Copyright © 2009 - 2013 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com