Trong thời phong
kiến (trước thế kỷ thứ 20) ở Việt Nam các văn bản đều viết bằng chữ Nho (chữ
Hán) hoặc chữ Nôm (một biến thể của chữ Nho để ghi âm tiếng Việt nhưng còn khó
viết hơn), vì thế các nhà thơ phải là những trí thức có kiến thức cao về văn
hoá và ngôn ngữ. Họ là những nhà nho đó đồng thời cũng là quan lại triều đình.
Và Thơ được giao nhiệm vụ trọng đại là “ngôn chí”, “tải đạo” (đạo đây là đạo
Khổng, ý thức hệ chính thống của chế độ).
Dưới thời kỳ thực
dân Pháp thống trị (1884-1945), các nhà thơ cũng chủ yếu sinh ra từ lớp tinh
hoa, chỉ khác là giờ đây họ là những người Tây học và viết bằng chữ quốc ngữ
theo mẫu chữ latin. Việc phát tán các bài thơ giờ đây tiến hành qua báo chí,
cũng vì thế thơ ca phổ biến mạnh mẽ hơn ở thành thị, đó chính là con lộ thênh
thang cho việc đòi quyền sống cá nhân của lớp thanh niên tân thời. Trong khi
ấy, các nhà hoạt động cách mạng lại có ý thức dùng thơ ca để vận động quần
chúng. Cung cách này đã được nhà lãnh đạo Cộng sản trước 1945 bút danh Sóng
Hồng nói rõ trong bài thơ Là Thi Sĩ: “dùng ngòi bút làm đòn xoay chế
độ”.
Trong thời gian hai
cuộc chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945 - 1975), nhờ tỷ lệ dân
chúng biết chữ khá cao, thơ đã trở thành một hoạt động mang tính quần chúng và
Việt Nam
đã từng được coi như “Đất nước Thơ Ca”. Nhận rõ tác động xã hội to lớn của Thơ,
nhà lãnh đạo Cộng sản đã khai thác các đặc điểm của Thơ - chủ yếu là tốc độ phổ
biến nhanh và khả năng nói lên những chân lý cao xa một cách đơn giản – biến
Thơ thành “vũ khí” huy động quần chúng tham gia kháng chiến. “Nay ở trong Thơ
nên có thép, nhà thơ cũng phải biết xung phong”, cụ Hồ Chí Minh đã viết như thế
trong tập Nhật ký trong tù nổi tiếng (1941-1942).
Kể từ khi có công
cuộc “đổi mới” cuối những năm 1980, thơ ca bắt đầu tách dần khỏi chính trị và
các nhà thơ tập chú hơn vào các giá trị thẩm mỹ của thơ. Thực ra thì ngày càng
ít người đọc thơ do có sự suy thoái chung của văn hoá đọc, thế nhưng các nhà
thơ thì vẫn có mặt khắp nơi, và việc giao lưu ý tưởng và tình cảm qua thơ vẫn
là niềm vui thích của mọi người. Ta bắt gặp Thơ trên báo chí, trên làn sóng
phát thanh, trên màn ảnh nhỏ truyền hình, và qua hàng trăm cuốn sách thơ in ra
mỗi năm (nhà thơ có thể còn nghèo song vẫn bỏ tiền túi ra in thơ). Rất gần đây
thôi, một “Ngày Thơ Việt Nam” đã ra đời, tổ chức vào ngày Nguyên Tiêu, giúp cho
mọi người có cơ hội tôn vinh Thơ vào một Ngày riêng hẳn cho Thơ.
Vậy là Thơ vẫn có
tầm quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam, và nhà nước tuy có
cởi mở hơn với Thơ nhưng vẫn rất cảnh giác với các thứ Thơ “phản động, đồi
trụy” về nội dung và khó hiểu về hình thức.
***
Trong dòng lịch sử
ngàn năm của Thơ VN, Thơ hiện đại chỉ mới là chàng trai có độ tuổi 80.
Thơ hiện đại VN có
thể coi như xuất hiện từ những năm 1930, khởi đầu bằng một cuộc “cách mạng
thơ”có tên gọi là “Thơ mới”. Những nỗ lực hiện đại hoá thơ khởi xướng từ các
trí thức trẻ thành thị, những người muốn tự do thoát khỏi những dàng buộc của
thơ ca truyền thống, sự đúc khuôn về nội dung cũng như hình thức, yêu cầu thơ
phải có nhiệm vụ giáo huấn, phải là công cụ của ý thức hệ.
Chịu ảnh hưởng của
thơ lãng mạn và tượng trưng Pháp thế kỷ 19, sản phẩm của những thanh niên thấm
nhuần ngôn ngữ Pháp từ ghế nhà trường phổ thông, “Thơ Mới” diễn tả tình yêu dịu
ngọt, nỗi buồn và nỗi cô đơn của con người riêng tư, đi theo xu hướng thoát ly
thực tại, trốn vào thiên nhiên và lãng mạn hoá quá khứ. Phần nhiều loại thơ này
theo hướng nghệ thuật vị nghệ thuật. Luồng thơ mới này tự cắt đứt khỏi các niêm
luật Đường Thi và sử dụng một số thể thơ Pháp thế kỷ 19 bên cạnh những thể
truyền thống Việt Nam.
Làn sóng Thơ Mới là tham vọng đầu tiên hiện đại hoá thơ Việt Nam – nó đã thành
công nhờ vào sự tàn lụi rồi chết hẳn của nền văn hoá Nho học và sự nảy sinh của
nền văn hoá tiểu tư sản thành thị dưới thời Pháp thống trị. Làn sóng mới này đi
đến chỗ bị khai tử -- hoặc chí ít là lui vào chỗ nấp kín đáo – khi có cuộc Cách
mạng năm 1945.
Tuy nhiên, trong
những năm 1960, nhất là trong những năm chiến tranh Việt-Mỹ, lại nổi lên những
nỗ lực hiện đại hoá thơ ca ở Sài Gòn, lúc đó thuộc chính quyền thân Mỹ.
Chất men văn hoá Mỹ
và Pháp trong những năm 1960, các phong trào chống đối chính trị, những thể
nghiệm biểu đạt mới, đã có tác động tới những nhà thơ trẻ Sài Gòn những năm đó.
Các nhà thơ làn sóng mới Sài Gòn chủ yếu nằm trong nhóm “Sáng Tạo”. Nhóm này
khai thác và nói to lên thân phận cô đơn của con người sống trong cuộc chiến
tranh không lối thoát, tìm cách có tự do hơn trong những lối biểu đạt mới mẻ,
những câu thơ tự do, những nhịp điệu bất thường, giống như các “thanh khí” của
họ ở phương Tây đi theo tiết tấu nhạc jazz.
Trong khi đó ở miền
Bắc, hệ tư tưởng chính thống yêu cầu Thơ phải là công cụ cách mạng, cũng có
nghĩa là phải có tính quần chúng và phải trung thành với những lệ luật có tự
lâu đời. Trong bối cảnh ấy, ta vẫn ghi nhận một số nỗ lực “bên lề” của số ít
nhà thơ “cứng đầu” muốn giữ quan niệm hiện đại về thơ của mình. Ban đầu có thể
kể đến Nguyễn Đình Thi, Trần Mai Ninh hồi mới bắt đầu kháng chiến chống Pháp.
Trần Mai Ninh qua đời quá sớm, còn Nguyễn Đình Thi thì bị phê phán nên cũng
phải chữa lại nhiều bài thơ cho bớt “tiên phong”. Trong giai đọan 1954-1975, có
thể kể đến một số cách tân của Chế Lan Viên và Thanh Thảo trong loại hình
thơ-văn xuôi, những cách tân này được chính thống chấp nhận do có nội dung
chính trị tốt. Song, sự cách tân triệt để cả về tư tưởng và thi pháp chỉ được
thấy ở vài nhà thơ vốn thuộc nhóm “Nhân văn Giai phẩm”. Sau khi phong trào mang
tên này, phong trào đòi tự do sáng tác, tự do ngôn luận lớn nhất của trí thức
văn nghệ sĩ bị nhanh chóng khai tử, các nhà thơ chủ chốt của phong trào như Trần
Dần, Hoàng Cầm, Lê Đạt, Đặng Đình Hưng bị tước quyền xuất bản các sáng tác của
họ. Lặng câm trong thân phận ngoài lề, họ tập trung tìm con đường đổi mới Thơ.
Tránh va chạm với các vấn đề xã hội-chính trị bằng cách chui vào tháp ngà ngôn
từ, họ đề cao cái phi lý và đời sống tiềm thức, vô thức và những thể nghiệm
hình thức chủ nghĩa theo đường lối của nhiều đồng nghiệp phương Tây. Họ chủ
trương “dòng chữ”, nhấn mạnh hết sức chức năng tạo nghĩa của “con chữ”, “con
âm” – ý niệm khá giống với trường phái “thơ ngôn ngữ” ở Mỹ. Những nỗ lực của họ
chỉ được một nhúm bạn bè thân biết đến, phải chờ 20 năm, thậm chí 30 năm để có
thể tạo ảnh hưởng đến cộng đồng Thơ sau khi Nhà nước áp dụng chính sách “đổi
mới” về kinh tế và phần nào về văn hóa.
Được kích động vì sự
dũng cảm của các nhà thơ “tiên phong” lớp trước, lại được trang bị tiếng Anh cơ
bản cùng với những chiếc máy tính cá nhân và những mối liên hệ với các bạn đồng
nghiệp Việt Nam hải ngoại, nhiều nhà thơ trẻ bắt đầu tạo ra làn sóng hiện đại
hoá Thơ lần thứ ba ở Việt Nam, và công cuộc này đang còn tiếp tục hoàn thiện.
Làn sóng này khá đa dạng, đi từ những khao khát giải phóng cá nhân đến những cố
gắng “lật đổ” vô hại, từ ảnh hưởng của một số cây bút cách tân thế hệ trước đến
sự bắt chước những tác giả “hậu hiện đại” nước ngoài. Cho đến nay, có thể nói ở
Việt Nam
không còn ai không thừa nhận rằng Thơ phải được cách tân, tuy cách tân thế nào
thì còn phải tranh cãi và những sản phẩm cách tân ấy còn phải chờ đợi được công
chúng rộng rãi tiếp nhận. Một số nhà thơ và nhà phê bình mong muốn sự cách tân
thơ, vốn thường chạy theo sau thơ phương Tây, nên khai thác mạnh hơn những đặc
điểm của ngôn ngữ và văn hóa Việt.
***
Tuyển tập mà các
bạn có trong tay có vẻ muốn giới hạn trong khuôn khổ Thơ Việt Nam từ sau 1975 đến
nay, và tập trung vào bộ phận thơ thoát ly nhiệm vụ “phục vụ chính trị”, đi sâu
vào những nỗi niềm riêng tư, những chủ đề nhân bản, những triết lý nhân sinh,
cũng như giới thiệu những phong cách, bút pháp có khuynh hướng hiện đại, từ
những sự khéo léo kế thừa truyền thống cho đến những cố gắng hòa nhịp với
các trào lưu “hậu hiện đại” phương Tây.
Những tác giả cao
tuổi nhất trong tuyển tập: Bằng Việt, Hoàng Hưng, Hữu Thỉnh, Ý Nhi, Nguyễn Duy
là những nhà thơ thành danh trong thế hệ “chống Mỹ”. Trừ Hoàng Hưng, mà khuynh
hướng trăn trở về thân phận con người và hình thức thơ tự do đã thể hiện ngay
từ trong chiến tranh qua những bài thơ chỉ được công bố sau “Đổi mới”, bốn nhà
thơ kia, nổi tiếng như những giọng ca yêu nước, cách mạng, hầu như mới chuyển qua
những suy tư và tình cảm “đời thường” sau khi chiến tranh kết thúc. Nguyễn Duy
là một trường hợp độc đáo: vốn là giọng thơ truyền thống ngọt ngào của tình quê
hương, ông lại gây chấn động với những bài thơ bình luận xã hội – chính trị
đanh thép của thời “Đổi mới”. Nhìn chung, có thể nói lớp nhà thơ trên là dấu
nối truyền thống – hiện đại của thơ VN.
Không phải ngẫu
nhiên mà những nhà thơ xuất hiện sau “Đổi mới” với sự mới mẻ rõ rệt so với các
thế hệ đàn anh: Mai Văn Phấn, Ngô Tự Lập, Nguyễn Quang Thiều, đều là những
người có vốn ngoại ngữ Anh/ Pháp vững vàng và kinh nghiệm giao lưu văn hóa với
Âu Mỹ. Chính họ đã đưa những yếu tố siêu thực, phi lý, phi tuyến tính, hình
thức thơ văn xuôi của thơ hiện đại và hậu hiện đại phương Tây vào những bài thơ
bộc lộ những mảng khuất lấp của đời sống chưa quen được khai thác trong truyền
thống văn chương Việt Nam. Khác với họ, Nguyễn Lương Ngọc chinh phục người đọc
ở nỗi đau thầm kín, sự ám ảnh và nỗi tuyệt vọng ẩn chứa trong những bài thơ đầy
dự cảm về sự mong manh của kiếp người, của cái đẹp, trong khi Nguyễn Bình
Phương có tài nói về những điều mơ hồ, rối rắm trong lòng người, bằng những
đoạn thơ mơ hồ, rối rắm.
Hai người cuối
cùng, đều là nữ: Phan Huyền Thư, Vi Thùy Linh, thuộc thế hệ mới nhất của Thơ
VN, chỉ mới xuât hiện từ cuối thế kỷ trước. Họ không chú ý bứt phá thi pháp
bằng khai thác đến cùng tâm trạng thực, khát khao thực của cá nhân mình. Họ dễ
nhận được sự đồng cảm của thế hệ trẻ mà nhu cầu “nổi loạn” của “cái tôi” – chủ
yếu trong lĩnh vực tình yêu, tình dục – đang đánh dấu sự chuyển mình lớn lao
của xã hội Việt Nam.
***
Trước khi ngừng lời
để mời bạn đọc đi vào thưởng thức các bài thơ, tôi muốn lưu ý rằng: tuyển tập
này không có tham vọng đưa ra một gương mặt đại diện cho thơ Việt Nam đương đại,
cũng như không đảm bảo giới thiệu được những bài thơ thành công nhất của mỗi
tác giả. Một trong các lý do chính của sự khiêm tốn bắt buộc kia là ở khả năng
chuyển ngữ Thơ Việt Nam
sang các ngôn ngữ phương Tây. Thơ có một nửa, nếu không hơn, là âm nhạc của
ngôn ngữ. Tiếng Việt lại là trong những thứ tiếng giàu nhạc tính nhất, nhiều
người nước ngoài nhận xét người Việt nói như hát. Chỉ riêng hệ thanh điệu 6 cao
độ khác nhau của tiếng Việt đủ khiến cho bất kỳ bài thơ nào cũng dễ dàng được
hát lên. Kỹ thuật “chơi chữ” của thơ Việt cũng dựa phần lớn vào yếu tố “chơi
ngữ âm”. Vì thế, ngay cả tuyệt tác bất hủ của Thơ VN: Truyện Kiều của Nguyễn Du
(TK XIX), cũng trở thành câu chuyện văn xuôi nhàm chán khi chuyển qua tiếng
Anh, tiếng Pháp. Các bạn có thể hình dung những hạn chế tất yếu của tuyển tập
này khi nó được chuyển dịch hai lần, qua tiếng Anh hoặc tiếng Pháp, rồi lại từ
đó qua tiếng Thụy Điển.
Song, dù sao tôi
cũng cầu mong các bạn tạm vui lòng, như một ngạn ngữ Việt Nam đã nói: “Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ”, thưởng
thức một phác họa đầu tiên của thơ VN đương đại qua tuyển tập này - thành quả
hợp tác đáng trân trọng của các dịch giả Việt Nam và Thụy Điển. Và hy vọng các
bạn nhận ra trong những tâm sự giãi bày trong đó, những gì rất riêng của người
Việt mà cũng chứa đựng những nỗi niềm chung của con người ở bất cứ đâu trên
trái đất, trong đó có chính các bạn.
---
H.H
(Bản dịch tiếng
Thụy Điển của bài này in trong tập “Mười hai nhà thơ Việt Nam” bằng tiếng
Thụy Điển, NXB Tranan, Thụy Điển 2010)
Danh sách các
nhà thơ trong tập thơ VN dịch ra tiếng Thụy Điển và xuất bản tại Thụy
Điển 2009 (xếp theo thứ tự năm sinh):
1/ Bằng Việt, 1941
2/ Hoàng Hưng, 1942
3/ Hữu Thỉnh, 1942
4/ Ý Nhi, 1944
5/ Nguyễn Duy, 1948
6/ Mai Văn Phấn,
1955
7/ Nguyễn Quang
Thiều, 1957
8/ Nguyễn Lương
Ngọc (1958-1996)
9/ Ngô Tự Lập, 1962
10/ Nguyễn Bình
Phương, 1965
11/ Phan Huyền Thư,
1972
12/ Vi Thùy Linh,
1980
--
Nguồn: lethieunhon.com