Quá trình vận động của lý luận về tiểu thuyết ở Việt Nam

(Nguyễn Văn Tùng)     

Những năm gần đây, sáng tác tiểu thuyết ngày càng chiếm giữ một vị thế quan trọng trong đời sống văn học. Điều đó có cơ sở từ bối cảnh chính trị, xã hội và văn hoá. Chính bối cảnh đó đã góp phần nuôi dưỡng thể loại tiểu thuyết với tính dân chủ, đối thoại của nó.

Trong các yếu tố thúc đẩy sáng tác tiểu thuyết, không thể không thừa nhận vai trò quan trọng của lý luận tiểu thuyết. Với bài viết này, chúng tôi đề cập đến sự phát triển của lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam qua những thời kì phát triển, mối quan hệ tác động của lý luận tiểu thuyết đối với sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết. Sự tổng quan này theo chúng tôi là cần thiết cho sự định hướng phát triển tiểu thuyết Việt Nam.

Lý luận tiểu thuyết (hiện đại) ở Việt Nam là dòng tri thức thể loại được bắt đầu từ thế kỷ XX. Sự hình thành và phát triển của lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam chủ yếu có cội nguồn từ lý luận tiểu thuyết phương Tây chứ không phải nội sinh. Dù được viết dưới dạng chuyên khảo, bài nghiên cứu, giáo trình hay dịch thuật thì phần lớn các công trình đều có cơ sở lý thuyết thể loại từ nước ngoài. Các nhà nghiên cứu Việt Nam đã lựa chọn và vận dụng sáng tạo các quan niệm tiểu thuyết để xây dựng lý luận thể loại của mình, đáp ứng nhu cầu sáng tác, tiếp nhận và phê bình tiểu thuyết ở từng giai đoạn văn học. Bởi thế, sự phát triển của lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam thế kỷ XX là một quá trình liên tục lựa chọn, vận dụng, sáng tạo và không ngừng hoàn thiện.

Nét nổi bật của lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam thế kỷ XX là: mỗi một thời kỳ văn học lý luận tiểu thuyết tập trung giải quyết một nhiệm vụ trung tâm. Thành tựu của lý luận tiểu thuyết mỗi thời kỳ phụ thuộc vào mức độ giải quyết nhiệm vụ đó. Lý luận tiểu thuyết ở Việt Nam cho dù còn non trẻ song từ khi ra đời đến nay đã có những bước chuyển mạnh mẽ và rõ nét.

1. Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến năm 1945, nhiệm vụ của lý luận tiểu thuyết là đặt nền móng và phát triển phục vụ cho công cuộc hiện đại hoá sáng tác tiểu thuyết. Hiện đại hoá tiểu thuyết nhằm đáp ứng nhu cầu bức thiết của đời sống văn học về một thể loại văn xuôi tự sự có khả năng phản ánh được những vấn đề đấu tranh và phân hoá giai cấp, tầng lớp, thế hệ ngày càng trở nên mạnh mẽ và sâu sắc trong xã hội Việt Nam. Chẳng hạn, nhà văn Vũ Trọng Phụng trong bức thư gửi vợ chồng người bạn, đề ngày 31-12-1935, có đoạn viết: “Tôi quan niệm văn chương là một phương tiện tranh đấu của những người cầm bút muốn loại khỏi xã hội con người những bất công, nhen lên trong lòng người nỗi xót thương đối với kẻ bị chà đạp lên nhân phẩm, kẻ yếu, kẻ bị đầy đoạ vào cảnh ngu tối, bị bóc lột, mỗi ngày kiếm ra đủ ăn bữa tối để nhịn sáng hôm sau...” (1). Hoặc Như Phong trong bài viết Cao vọng của tiểu thuyết, báo Mới, 1-7-1939, cho rằng: “Người ta không bắt tiểu thuyết phải là một khí giới trực tiếp để tranh đấu, phải hô hào, phải tuyên truyền; nhưng cho người ta một sự hiểu biết sáng suốt về sự thực, bắt buộc người ta phải suy nghĩ, vạch cho người ta một con đường đi, đem lại cho người ta một chân lý, thế là đủ rồi” (2).

Khá nhiều cuốn sách bàn về thể loại tiểu thuyết đã được giới thiệu và có ảnh hưởng trong đời sống văn học. Có thể nói, đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam xuất hiện những công trình chuyên bàn và bàn sâu đến thế về lý luận thể loại: Bàn về tiểu thuyết (1921) của Phạm Quỳnh; Theo giòng (1939 - 1940) của Thạch Lam; Khảo về tiểu thuyết (1941 - 1942) của Vũ Bằng; Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan... Cùng với đó là hàng trăm bài viết trao đổi, tranh luận của các nhà tiểu thuyết, nhà nghiên cứu, phê bình văn học trên các báo chí bàn về tiểu thuyết.

Mặc dù đây là giai đoạn khởi đầu, song lý luận tiểu thuyết thời kỳ này đã đáp ứng tốt đòi hỏi của hoạt động sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết theo xu hướng hiện đại hoá ở chỗ:

- Vị thế của tiểu thuyết được khẳng định. Tiểu thuyết được coi là một thể loại chủ đạo của nền văn học, có khả năng ảnh hưởng mạnh mẽ tới đời sống tinh thần của con người.

- Quan niệm về nhân vật tiểu thuyết thể hiện một quan niệm nghệ thuật mới về con người. Con người cá nhân được đề cao. Con người được coi là một thực thể khi tốt khi xấu. Tính cách của con người chịu sự tác động của hoàn cảnh.

- Nhận thức về kết cấu tiểu thuyết có những khía cạnh gần gũi với mô hình của tiểu thuyết đa thanh.

- Cách hiểu về ngôn ngữ tiểu thuyết cho thấy ý thức đề cao vấn đề giọng điệu trong tiểu thuyết.

- Quan niệm về tiểu thuyết nhìn chung nghiêng về tính chất của chủ nghĩa hiện thực.

Hàng loạt những cuốn tiểu thuyết trứ danh của nền văn học Việt Nam đã được ra đời và ngày càng khẳng định giá trị nghệ thuật của nó: tiểu thuyết Tự lực văn đoàn; Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Sống mòn của Nam Cao... Cùng với đó là hàng trăm đoản thiên tiểu thuyết (sau này gọi là truyện ngắn) của Thạch Lam, Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng... đã khẳng định thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam trong giai đoạn đầu thế kỷ XX.

Nhìn chung, ở giai đoạn văn học này vẫn song song tồn tại hai quan niệm tiểu thuyết, bên cạnh quan niệm tiểu thuyết có xu hướng hiện đại hoá là sự tồn tại của quan niệm tiểu thuyết mang tính truyền thống, như tiểu thuyết chương hồi. Mặt khác, bên cạnh việc đề cao những đặc trưng của tiểu thuyết hiện thực là sự bảo vệ quan niệm tiểu thuyết theo khuynh hướng lãng mạn. Những vấn đề này sẽ được tiếp tục giải quyết trong các giai đoạn văn học sau.   

2. Chuyển sang giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám đến năm 1985, nhiệm vụ của lý luận tiểu thuyết là thiết lập, xây dựng hệ thống luận điểm phục vụ cho hoạt động sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết theo khuynh hướng của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Giải quyết nhiệm vụ mới và quan trọng này cũng đồng nghĩa với việc tạo nên một bước ngoặt của lý luận tiểu thuyết. Lý luận tiểu thuyết đứng trước yêu cầu đổi mới và xây dựng nội dung hàng loạt vấn đề, phạm trù, khái niệm. Qua những công trình, bài viết bàn về tiểu thuyết, có thể nhận thấy những luận điểm chính về đặc trưng thể loại là:

- Tiểu thuyết được hiểu là một thể loại tự sự có quy mô lớn, có khả năng phản ánh những bức tranh lớn của hiện thực cuộc sống thông qua những hình tượng điển hình trong những hoàn cảnh điển hình.

- Nhân vật điển hình chính diện trở thành hình tượng trung tâm của tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa. Ý thức mới về nhân vật tiểu thuyết cho thấy một quan niệm nghệ thuật mới về con người. Khác với giai đoạn đầu thế kỷ, ở giai đoạn lịch sử hào hùng, mang âm hưởng và màu sắc sử thi này, con người tập thể, con người lý tưởng được đề cao hơn bao giờ hết.

- Thể loại tiểu thuyết được nhấn mạnh bởi những đặc trưng nghiêng về tính chất sử thi.

Với những quan niệm thể loại như thế, nên sáng tác tiêu biểu của tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ này như Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Cao điểm cuối cùng của Hữu Mai, Hòn đất của Anh Đức, Bão biển của Chu Văn, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu,... đã tạo nên các hình tượng nghệ thuật điển hình, phản ánh được nhiều khía cạnh, đường nét chân dung tinh thần con người Việt Nam trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Những thành tựu tiểu thuyết đó đã góp phần tích cực khơi dậy chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam trong cuộc chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, thống nhất nước nhà.

Sự phát triển của lý luận tiểu thuyết giai đoạn này là một quá trình liên tục nghiên cứu, thể nghiệm và nâng cao. Thời kỳ đầu - cuối những năm 50, đầu những năm 60 - lý luận tiểu thuyết tập trung bàn về mối quan hệ giữa tiểu thuyết và hiện thực đời sống. Các vấn đề nghiêng về nội dung tiểu thuyết như nhà văn cần xây dựng nhân vật chính diện hay phản diện, phẩm chất của con người mới, cuộc sống mới trong tác phẩm... là một đề tài nóng trên nhiều diễn đàn. Tiêu biểu là công trình lý luận Công việc của người viết tiểu thuyết (1964) của Nguyễn Đình Thi. Sang những năm 70, lý luận tiểu thuyết có xu hướng đẩy mạnh tìm tòi và bổ sung hệ thống luận điểm trên cơ sở tổng kết thành tựu sáng tác cũng như đào sâu nghiên cứu thành tựu lý luận tiểu thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa trên thế giới. Lý luận tiểu thuyết trong khoảng thời gian này đã đi sâu giải quyết nhiều vấn đề bản chất nghệ thuật của tiểu thuyết. Tiêu biểu là những đóng góp trong việc nghiên cứu lý luận tiểu thuyết của Phan Cự Đệ trong Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974 - 1975).

Từ sau năm 1975, nói chính xác là từ cuối những năm 70, khi đất nước đã yên tiếng súng, con người trở lại cuộc sống đời thường, cảm hứng của tiểu thuyết chủ yếu hướng về những mối quan tâm của con người trong đời thường như số phận, hạnh phúc, quyền lợi cá nhân..., cho dù xu hướng tiểu thuyết sử thi vẫn tiếp tục duy trì và phát triển. Bên cạnh kiểu nhân vật thể hiện vẻ đẹp lý tưởng và lãng mạn cách mạng, kiểu nhân vật với tính cách phức tạp và những toan tính đời thường hoặc với một số phận riêng tư nhiều trắc trở... xuất hiện ngày càng nhiều trong các sáng tác tiểu thuyết. Những cuốn tiểu thuyết như Miền cháy (1977), Người đi từ trong rừng ra (1982) của Nguyễn Minh Châu; Gặp gỡ cuối năm (1982), Thời gian của người, Điều tra về một cái chết của Nguyễn Khải; Hạt mùa sau (1984) của Nguyễn Thị Ngọc Tú; Sao đổi ngôi (1984) của Chu Văn đã cho thấy hệ thống luận điểm về thể loại tiểu thuyết của chúng ta khi ấy bộc lộ những điểm “bất cập”.

Vậy là, giữa lý luận và thực tiễn tiểu thuyết đã nảy sinh những vênh lệch, thiếu khuyết, đòi hỏi lý luận tiểu thuyết phải giải quyết. Và đó chính là một nhiệm vụ mà thực tiễn đã đặt ra cho lý luận tiểu thuyết thời kỳ đổi mới.

Bên cạnh dòng lý luận tiểu thuyết mang tính chủ lưu, trong những năm đất nước bị chia cắt, ở miền Nam, lý luận tiểu thuyết cũng có một số công trình đáng chú ý. Nhìn chung, lý luận tiểu thuyết ở miền Nam thời kỳ này có hai khuynh hướng cơ bản: tiếp tục mạch lý luận tiểu thuyết trước năm 1945, tiêu biểu là chuyên luận Viết và đọc tiểu thuyết (1969) của Nhất Linh và khuynh hướng thứ hai là tiếp thu, ảnh hưởng quan niệm thể loại tiểu thuyết phương Tây đương đại, tiêu biểu là Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (1972) của Nguyễn Văn Trung và Văn học và tiểu thuyết (1972) của Doãn Quốc Sỹ.

3. Bước sang thời kỳ đổi mới, nhiệm vụ của lý luận tiểu thuyết là trên cơ sở giữ vững tư tưởng mácxít, mở rộng, đổi mới quan niệm về tiểu thuyết. Mục tiêu đặt ra là đổi mới tư duy về tiểu thuyết, hướng đến một nền tiểu thuyết mà bên cạnh những sáng tác tiểu thuyết thể hiện những bức tranh xã hội hoành tráng mang màu sắc sử thi, tái hiện cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc trong hơn ba mươi năm, phải có được những sáng tác tiểu thuyết nói về cuộc sống hiện tại, thể hiện được những vấn đề mưu sinh, số phận, hạnh phúc... của con người trong thời bình.

Lý luận tiểu thuyết của chúng ta trong thời kỳ đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu. Các nhà nghiên cứu văn học đã có nhiều đóng góp trong việc dịch thuật, nghiên cứu sáng tác, lý luận thể loại tiểu thuyết của phương Tây cung cấp cho nền tiểu thuyết Việt Nam những cơ sở quan trọng xây dựng hệ thống luận điểm về đặc trưng tiểu thuyết, đáp ứng đòi hỏi của sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết trong thời kì mới. Đó là những công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Tiểu thuyết Pháp hiện đại - những tìm tòi đổi mới (1990) và Tiểu thuyết Pháp bên thềm thế kỷ XXI (2001) của Phùng Văn Tửu; Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện đại (2001) của Đặng Anh Đào; Đổi mới tư duy tiểu thuyết (2002), nhiều tác giả; Tự sự học - một số vấn đề lý luận và lịch sử (2004), Trần Đình Sử (chủ biên) và những công trình dịch thuật: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (1992) của Bakhtin do Phạm Vĩnh Cư dịch; Những vấn đề thi pháp Dostoievski (1993) của Bakhtin do Trần Đình Sử, Lại Nguyên Ân, Vương Trí Nhàn dịch; Tiểu luận (2001) của Milan Kundera và Độ không của lối viết (1997) của Roland Barthes do Nguyên Ngọc dịch... Bên cạnh đó, có đến hàng trăm bài viết bàn về lý thuyết và thực tiễn sáng tác tiểu thuyết trên các báo và tạp chí.

Dễ dàng nhận thấy, trong thời kỳ đổi mới, không khí bàn luận về lý luận tiểu thuyết đã tìm lại sự sôi nổi của thời kỳ đầu thế kỷ XX. Với tinh thần cởi mở, lý luận tiểu thuyết của chúng ta đã mở cửa đón nhận nhiều luồng gió mới, tiếp thu có chọn lọc nhiều tinh hoa lý luận tiểu thuyết thuộc các nền văn học khác nhau, trong đó có lý luận tiểu thuyết phương Tây hiện đại, rút ngắn khoảng cách phát triển giữa lý luận Việt Nam và thế giới.

Quan niệm về tiểu thuyết được mở rộng, đổi mới:

- Bên cạnh sự duy trì và phát triển của quan niệm tiểu thuyết nghiêng về tính chất sử thi là sự nhấn mạnh và đề cao quan niệm tiểu thuyết đời tư.

- Tinh thần dân chủ với những biểu hiện đề cao tiếng nói cá nhân, đời sống nội tâm của con người khiến cho quan niệm về loại tiểu thuyết đa thanh, phức điệu trở nên phổ biến.

- Tinh thần dân chủ cũng khiến cho đời sống văn học nâng cao ý thức trân trọng những tìm tòi, thể nghiệm nghệ thuật của mỗi nhà tiểu thuyết.

- Quan niệm về nhân vật tiểu thuyết cũng được mở rộng; bên cạnh kiểu nhân vật điển hình chính diện là sự thừa nhận kiểu nhân vật với tính cách đa diện, phức tạp... Quan niệm về nhân vật cho thấy một sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người. Bên cạnh việc khẳng định con người lý tưởng và con người tập thể, quan niệm về con người cá nhân - đời tư - đời thường ngày càng ảnh hưởng mạnh mẽ hơn trong đời sống tiểu thuyết.

Với quan niệm cởi mở, đổi mới, văn học Việt Nam đã được một mùa tiểu thuyết bội thu. Nhiều tác phẩm tiêu biểu như Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng, Thời xa vắng của Lê Lựu, A n mày dĩ vãng của Chu Lai, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ông cố vấn của Hữu Mai... đã trở thành những “hiện tượng” của tiểu thuyết Việt Nam.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu lớn đó, đời sống lý luận tiểu thuyết hiện nay đang đặt ra vấn đề thống nhất các quan niệm thể loại để tạo nên một hệ hình lý luận tiểu thuyết hiện đại. Hướng đến một hệ hình lý luận tiểu thuyết hiện đại có lẽ sẽ là động lực, nhiệm vụ của lý luận tiểu thuyết trong giai đoạn văn học tới.

*

*    *

Tổng quan bức tranh phát triển của lý luận tiểu thuyết qua các giai đoạn, có thể nhận thấy hình thái vận động của lý luận tiểu thuyết trong thế kỷ XX và đầu thế kỉ XXI. Sự vận động của lý luận tiểu thuyết phụ thuộc vào nhiệm vụ cung cấp công cụ tư duy cho nhu cầu đổi mới sáng tác và tiếp nhận tiểu thuyết của mỗi một thời kỳ. Nhu cầu đổi mới sáng tác và tiếp nhận lại phụ thuộc vào các nhiệm vụ chính trị của đất nước và đời sống nhân sinh. Để giải quyết nhiệm vụ của mỗi một thời kỳ, các nhà lý luận, nhà tiểu thuyết thường kết hợp giữa việc phát huy sức nghiên cứu tự thân và tìm kiếm, tiếp thu các lý thuyết, mẫu hình tiểu thuyết nước ngoài có những điểm phù hợp với nhu cầu của nền văn học dân tộc. Sự vận động của lý luận tiểu thuyết còn phụ thuộc vào sáng tác tiểu thuyết. Các mẫu hình tiểu thuyết khi được nhà tiểu thuyết chuyển hoá vào trong thực tiễn sáng tác thường nảy sinh các vênh lệch, bất hợp lý do đối tượng phản ánh của tiểu thuyết thường xuyên thay đổi. Quá trình giải quyết sự vênh lệch, mâu thuẫn giữa lý luận và thực tiễn sáng tác cũng chính là quá trình phát triển của lý luận tiểu thuyết. Sáng tác tiểu thuyết còn cung cấp những cơ sở thực tiễn để lý luận đúc kết những luận điểm mới. Cứ như vậy, lý luận tiểu thuyết liên tục vận động và phát triển. Sáng tác tiểu thuyết luôn luôn vận động bởi vì sáng tác tiểu thuyết chọn đối tượng phản ánh là thời hiện tại chưa hoàn thành của đời sống xã hội. Còn lý luận tiểu thuyết thường xuyên phải tìm tòi, đổi mới bởi đối tượng nghiên cứu của nó thường xuyên thay đổi. Và khi nào mâu thuẫn giữa lý luận và sáng tác bị đẩy tới cao độ, lý luận tiểu thuyết sẽ có một sự chuyển đổi hệ hình 

--------

N.V.T

(1) Vương Trí Nhàn (sưu tầm, biên soạn) (2000), Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, tr. 107-108

(2) Những lời bàn về tiểu thuyết trong văn học Việt Nam từ đầu thế kỷ XX đến 1945, sđd, tr.121

nguồn: Văn nghệ quân đội

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN TRƯỚC



 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com