Vì một lịch sử nụ cười

(Tác giả: Claudio Magris; Vũ Ngọc Thăng dịch)         

 Leopardi nhiều lần đề cập một dự án viết về lịch sử nụ cười, truy cứu nguồn gốc và tính chất của cái mà ông gọi là “năng lực”, qua đó ông nhận ra một tín hiệu cơ bản của con người và phẩm giá của họ, cái tính năng, có lẽ duy nhất, để phân biệt con người với các sinh vật khác.
Nỗi đau là một sự hiện diện phổ quát, người cổ đại thậm chí nghe ra tiếng than van từ những vật thể, mờ đục và có vẻ trung tính, nhưng ngay cả sự vật cũng phải tiến tới sự hủy diệt và sự lãng quên, Virgilio nói: Sunt lacrymae rerum, sự vật cũng có nước mắt của chúng. Thiên nhiên biết khóc; thú vật đau đớn nhưng không biết cười, bởi vì, để sợ hãi trước cái chết, để chịu đựng một sự đau đớn thân thể, hoặc thậm chí một nỗi buồn tình cảm (cô đơn, lạc loài), thì không cần phải có cái khả năng suy ngẫm về chính mình; trái lại, để có thể cười, thì phải cần đến sự suy ngẫm, cái nhìn xuất phát từ trên cao và từ bên ngoài, ngay cả đối với chính mình. Leopardi thấy người nguyên thủy – gần sinh vật hơn là gần người – u sầu và không ý thức về nghệ thuật cười, điều mà theo ông, chỉ đạt tới sau đó qua một sự trưởng thành tâm linh chan hòa. Trong bài dụ ngôn trữ tình “Elogio degli uccelli” (Ngợi ca loài chim), qua một tính cách thanh thoát siêu trần, Leopardi hợp nhất nụ cười với tiếng hót và sự bay lượn, nụ cười chiêm nghiệm thế giới từ trên cao và từ đằng xa, ban phát một niềm hoan lạc cốt yếu, làm “chứng nhân, dù giả cách, cho niềm vui sướng của sự vật”.

Leopardi biết rõ rằng nụ cười – mà sức mạnh của nó cho phép người ta đương đầu với cái tính cách phi lí khắc nghiệt của cuộc sống và của cái chết vốn sẽ cuốn ngợp ai không có khả năng cười trước chúng – thường nảy sinh từ nỗi tuyệt vọng, từ ý thức chán ngán và kiên quyết trước cái ác. Tiến triển lịch sử, theo ông, hẳn đã không chữa căn bệnh u sầu cho người nguyên thủy mà lại mở ra trước mắt họ một nỗi buồn ngày càng gia tăng, tàn phá sức sống của họ. Nụ cười trực thuộc con người, bởi con người là một sinh vật khốn khổ và dằn vặt nhất, vô vọng và có số phận phù du. Một thế kỉ rưỡi sau đó, Martin Esslin hẳn sẽ trả lời – cho những ai mà hỏi rằng, bạn ông, Samuel Beckett, có cái cá tính đặc thù nào nổi bật nhất – rằng trong tất cả những người mà ông quen, Beckett là người cười nhiệt tình và cười thành tâm nhất.


Lịch sử nụ cười, mà Leopardi đã phác thảo những nét chấm phá cực kì thi vị, chưa từng được thực hiện; những lời giải thích nổi tiếng về cơ chế của tính hài hước, từ những lời của Bergson cho đến những lời của Freud, không thể khỏa lấp chỗ trống này, bởi vì, làm ngại ngùng bất kì một sự tinh nhậy nào, chỗ trống ấy luôn luôn dành một khuôn khổ cho sự chưa toại nguyện, cho một chiều kích nụ cười vượt thoát mọi tài năng có hệ thống về diễn giải.


Cùng với nụ cười sinh ra từ nỗi tuyệt vọng, có nhiều dạng thức nụ cười khác: nụ cười cay đắng và nụ cười vui sướng, nụ cười ghét bỏ và nụ cười tươi lành, nụ cười chua cay trịch thượng và nụ cười thân thiết chân tình; có nụ cười sinh ra từ sự phấn kích chan hòa sức sống, có nụ cười xuất phát từ sự hiu hắt cô đơn, có nụ cười như dao cứa chế nhạo, có nụ cười an ủi làm vui, có nụ cười bộc lộ sự xa lạ the thé, có nụ cười xướng lên khúc ca hòa điệu thân tình; có nụ cười buột ra nỗi kinh tởm đời, có nụ cười lai láng tình yêu đời, lai láng sự hòa giải, lai láng sự điều hưởng với cái vòng quay bất ngờ của cuộc đời.


Tính hài hước không bao giờ lạc quan một cách trống không; ai tráo đổi cái vở kịch đời bi hài với một vở kịch hợp lí, trấn an, có hậu, thì không biết cười, nhưng chọc cười mà không biết mình chọc cười, chính là một đối tượng của tính hài hước, giống như những cuộc ghẹo phá và đánh lừa trong những màn kịch vui. Có một khuôn mặt không thể lầm lẫn và tái diễn đều đặn – lúng túng, lễ độ, và bướng bỉnh – vốn biểu đạt cái tính cách khiếm-khuyết của con người. Đó là khuôn mặt của các diễn viên hài vĩ đại; Karl Valentin là một trong những khuôn mặt ấy, tài tử và nhà văn người Monaco sống từ năm 1882 đến năm 1948. Vở Càphê-Ca nhạc Tingeltangel mới xuất bản của ông, là loạt độc thoại, đối thoại và những màn dàn dựng ngắn, được Mara Fazio chủ biên với một tính phê bình trong sáng chính xác và một cường độ biểu đạt tinh tế. Qua những cảnh dàn dựng trong nhà và trong cửa hàng, những cuộc cãi cọ lứa đôi, những câu chuyện phiếm hàng quán, những hiểu lầm về ngôn ngữ và sự nổi loạn của những vật thể, Valentin chứng tỏ ông là một nhà thơ của cái thế giới bị lộn trái. Tính hài hước lạc quan và trừu tượng, dân gian và siêu thực của ông, được nuôi dưỡng bởi phương ngữ, là một cuộc phản kháng tráng kiện trước sự thể cuộc sống đang chứng kiến việc nó bị tước quyền, cú nhái diễu của con người – như nhiều lần đã được đề cập – phát hiện ra chính cái tính cách trật-khớp của con người.


Cái tính cách trật-khớp này là sự thật của chúng ta. Thế giới hiện đại lên án cái vẻ khôi hài ngoài ý muốn của những kẻ cho rằng mình có thể nhận biết dòng mạch của các sự kiện, hoặc thậm chí có thể dẫn dắt và kiểm soát nó: nếu Marx từng bảo rằng những sự kiện lịch sử xảy ra lần đầu qua một hình thái bi kịch, và sau đó được lặp lại qua một hình thái hài kịch, thì giờ đây dường như những sự kiện, mà số phận chúng ta tùy thuộc, lại xảy ra lần đầu qua một tính cách biếm nhại chính chúng. Chiếc mặt nạ hài hôm nay chính là một nhà chính trị, không nhận ra sự thể tại sao các sự kiện đã qua mặt mình, chẳng hạn, trước những tội ác mà hầu như hằng ngày chúng ta được đưa tin, thì những nhà chính trị, quả là đáng chê trách, và đặc biệt, quả là nực cười, đã không tìm cách ngăn chặn hoặc trừng phạt kẻ tội phạm (bọn khủng bố, bọn đầu cơ, bọn mafia), mà lại còn mơ tưởng là có thể hưởng lợi khi dấn mình vào cái cơ chế đã được khởi động bởi tội ác, nhào nặn nó theo lợi ích của mình, lợi dụng nó cho việc thực hiện những dự án mang tính cách mây mù ngay cả cho những ai mộng mơ về chúng. Một nhà thơ của cái tính cách trật-khớp, hoặc một nhà văn hài hước cay độc, có thể tặng chúng ta một chân dung đích đáng về một kẻ đầu cơ chính trị mơ tưởng việc làm chủ những bi kịch lạc quan hằng ngày của chúng ta, của cái tính cách cắm sừng thời nay của lịch sử.

Như Buster Keaton, Valentin tuy nghiêm nghị, nhưng cũng chan chứa dịu dàng. Tính hài hước cao nhất cũng gần gũi với nụ cười trìu mến. Nó biết yêu thương cuộc đời mà không che giấu những diện mạo tệ hại và đáng khiếp của cuộc đời. Nó biết nhận ra cái tính cách toàn diện đầy mâu thuẫn của cuộc sinh tồn vốn bao gồm thiện và ác, đắm say và suy sụp, gian dối và sự thật, hung bạo và thân tình. Để thể hiện một cách thuyết phục những cuộc cụng li tại câu lạc bộ Pickwick hoặc những lời than thở của bốn anh “rusteghi” (nhà quê), như Dickens và Goldoni đã thể hiện qua tinh thần trào lộng của các ông, có lẽ phải cần đến một kích thước lớn hơn cái kích thuớc được biểu đạt bởi sự phủ định, vốn hàm chứa sức tác động nhưng lại là một sức tác động mang tính cách một chiều và giản lược.


Khôi hài là cái thường nhật ngáng giò cái siêu phàm, là cái tính trực tiếp chỉnh sửa cái mối bi ai tâm linh và sự khắt khe dồn nén. Sự cảnh tỉnh không chỉ phủ nhận, mà còn tăng lực cho niềm đắm say: qua cái kiểu cách trịnh trọng của Pickwick, Dickens còn cho thấy sự chân chất ngớ ngẩn của một anh tư sản giàu có, không ý thức về những tình cảnh nhỏ nhoi của chính mình, thế nhưng, sự trơ lì này, được quan sát với một thái độ rộng lượng hết sức tỉnh táo, cũng là cái tính cách hào hiệp lễ hội và chân chất của cuộc sống, vốn tiếp diễn – vui nhộn, lễ độ, và đình đám – trước chính những thỏa hiệp của nó.


Trong văn chương và nghệ thuật đương đại, có lẽ cái thiên anh hùng ca này – vô tư bén nhạy với sự khả ái và với sự buồn thảm – thường hiện diện trong điện ảnh hơn là trong văn học: nó là cái cấu thức lí tính của René Clair hoặc của Buster Keaton, khơi gợi những trận cười bể bụng, mang lại tính chính đáng cho cái sự rườm rà ô tạp của cuộc đời, cho cái tính phức tạp nước đôi của nó. Khó mà phát biểu về những gì mà cái cấu thức lí tính này đã khiến người ta không chỉ cười tủm tỉm mà còn cười xả láng, chẳng hạn như phim Un chapeau de Paille d’Italie (Chiếc nón nan Ý) của René Clair hoặc vở Cà phê-Ca nhạc Tingeltangel của Valentin. Viết về một tác phẩm nhiều kịch tính và u buồn, thì dễ; nhưng viết về một tác phẩm hài hước và làm kẻ không-biết-cười cười lên, là cực khó. Minh họa và trình bày dòng chảy u uẩn của thời gian trong một bài viết về tác phẩm L’Éducation sentimentale của Flaubert thì dễ hơn là minh họa và trình bày sự thể hiện phấn kích của ông về những sự cố năm 1848; một nhà phê bình, trong lúc nghiên cứu Musil – bàn về về cái nỗi điên của Clarisse hoặc cuộc xuất thần tình yêu trong chuyến du hành địa đàng – có thể truyền đạt cảm thức thi vị của cặp tình nhân cho ai chưa đọc quyển tiểu thuyết, nhưng không thể nói về sự khôi hài của viên tướng Stumn von Bordwehr một cách có hiệu quả. Một nhà nữ luận văn lớn như Concetto Marchesi có thể phát biểu về Tacito và truyền đạt qua trang viết của bà cái tính thơ thâm u và sắc gọn của Tacito; một nhà luận văn như Bakhtin, khi bàn về Rabelais, giải thích cái thế giới Rabelais một cách độc đáo, nhưng không truyền đạt những trận cười Rabelais.


Hài hước là một cuộc hòa giải tối cao, tới phiên nó, không hòa giải và được chuyển nhượng vào một sự suy ngẫm tiếp sau. Cuộc hòa giải này tự ẩn náu trong sự giả cách của một cuộc đồng nhất toàn diện với cái trực tiếp và dường như bốc hơi ở cái tích tắc ngay sau đó, như sự thú vị của một câu đối đáp bằng tiếng địa phương. Đọc Tingeltangel không đủ, dù qua một bản dịch cực tốt; để cười tới nơi tới chốn thì cần sự hiện diện của tất cả những yếu tố của sự hài hước ấy: không chỉ lời lẽ, mà cả khuôn mặt, cử chỉ, dáng dấp cao ngòng của Valentin, những vật thể lộn ngược, toàn bộ cảnh tượng mà con mắt thu chụp tức thời trong lúc cái sự đọc bắt buộc phải cắt chia, cái không khí của một nhà hát nhỏ ở Monaco được Mara Fazio gợi lại qua bài giới thiệu.


Để thưởng thức tường tận chất hài của cái tính cách trật-khớp hiện sinh được Valentin thể hiện, chúng ta cần phải vượt trên chính chúng ta, nhìn vào chính chúng ta đang va đập với cuộc sống mà cười vui, nhưng có lẽ cũng cần phải có mặt tại cái nhà hát nhỏ ấy, vào thời điểm ấy, ở buổi diễn ấy. Ai cười là người ấy đã có mặt, đã ở đó, đã chứng kiến và đã dự phần. Vài năm trước, trong một buổi tối tuyệt vời mà có lẽ tôi sẽ không bao giờ có khả năng kể lại, tôi đã đến xem một trong những buổi diễn cuối cùng của Charly Rivel, một diễn viên hài thiên tài mà lúc ấy tôi nhớ đã được 83 tuổi, tại một nhà hát nhỏ ở Monaco chật ních khán giả và người ta ngồi cả ra đất. Ông đã hát lên những giai điệu khó có thể xử lí từ những trang nhạc rồi được nhận ra là đã bị đặt lộn ngược trên giá nhạc, ông lặp đi lặp lại qua hằng ngàn cách khác nhau cái cuộc phiêu lưu cổ xưa, khôi hài của con người bị bao vây bởi sự tinh ranh của sự vật; sau giờ giải lao, sự điêu luyện và khéo léo thiên tài của ông có lúc nhượng bộ, ông hiện ra là một cụ già 80, ốm yếu và mệt nhử, nhưng ông lập tức diễn tiếp và chuyển ngay sang màn sau, khiến người xem cười ra nước mắt.


Gregor von Rezzori, ngồi kế bên, chợt quay sang tôi, điểm một nụ cười giễu vui và man mác, chỉ nói “lão suy”, với một giọng nói mà tôi vẫn thấy là một lời bình luận thích hợp nhất cho những gì chúng tôi đã phát hiện ra ở cái buổi tối hôm ấy. Charly Rivel là một sự lão suy thách thức chính nó. Ông biết rằng trong những cú ngã lộn nhào của mình có chứa biết bao khả ái và lớn lao. Có lẽ chính vì vậy mà ở những phút giải lao, khán giả đã chen nhau bao quanh ông, bắt tay cảm tạ ông. Rồi ông trở lên sân khấu và tiếp tục cuộc vật lộn vui nhộn của mình để sắp xếp lại sự vật và mang lại ý nghĩa cho sự vật, như trí tuệ và tâm hồn mong muốn. Cho niềm khát khao nho nhỏ về sự tuyệt đối, cơ thể đã loạng choạng đáp ứng, nhắc nhở rằng con người thì loay hoay và giới hạn, một hữu thể trật-khớp. Trước vẻ cao vời của tâm linh, sự hạn định vật lí chỉ ra cái tính hài hước vốn là một yếu tố cơ bản của tôn giáo, cái cảm thức về sự nhỏ bé đến tức cười của con người trước cái khôn cùng của Thượng Đế. Nhưng nụ cười biến nước cờ bí thành nước cờ chiếu tướng, phát hiện ra những giây phút thoải mái và thú vị trong những pha đấu của một trận bóng chắc chắn rồi sẽ thua. Cho mỗi nhà thơ hài hước, kẻ vốn cho chúng ta thấy cái tính cách trật-khớp của chúng ta, chúng ta xin trao tiếng cảm ơn mà ở cái buổi tối hôm ấy khán giả đã trao cho Charly Rivel.

 

Nguồn: Claudio Magris, “Per una storia del riso”, Itaca e oltre (Ithaca và sau nữa), Garzanti Editore s.p.a., 1982; vietvan đăng lại từ talawas.org, 2005.

 

 

 

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 


 
Copyright © 2009 - 2013 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com