Bruce weigl – Tiếng hát gọi hòa bình từ bầu trời dây kẽm gai

(Lời người dịch - Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai)        

Nhân dịp nhà thơ Bruce Weigl sang thăm Việt Nam trong khuôn khổ hoạt động giới thiệu hai tác phẩm của ông mới được xuất bản tại Việt Nam, Khoa Viết văn sẽ tiến hành tổ chức ĐÊM THƠ BRUCE WEIGL “TRỞ VỀ NGÔI NHÀ VIỆT”. Cũng trong đêm thơ này, tập thơ và hồi ký “Sau mưa thôi nã đạn” của Bruce Weigl, do Nguyễn Phan Quế Mai biên soạn và chuyển ngữ (NXB Trẻ ấn hành) sẽ được đến tay bạn đọc.

 Thời gian tổ chức đêm thơ: 7h30 tối thứ Năm, ngày 16.12.2010; Địa điểm: Hội trường Đại học Văn Hóa HN, 418 Đường La Thành, Hà Nội.

Trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ- dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai và chùm thơ của nhà thơ Bruce Weigl cùng bạn đọc.

                                                                        Vietvan.vn          
     

Giáo sư Bruce Weigl được biết đến như một hiện tượng của thi ca Mỹ. Từng tham chiến ở chiến trường Quảng Trị từ năm 1967 đến năm 1968, ông đã chứng kiến những sự thật kinh hoàng của cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Trở về sau cuộc chiến, ông đã tìm đến thi ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Bruce Weigl tâm sự “chiến tranh đã từng tước đi của tôi rất nhiều, nhưng nó cũng cho tôi thơ ca, một người con Việt Nam và tình yêu đối với đất nước và con người Việt Nam”.

Thơ của Bruce Weigl dường như được viết bằng máu và nỗi đau, và đối với những độc giả tinh tế - những người đọc ông một cách kỹ lưỡng - thơ ông còn ẩn chứa sự hài hước và châm biếm. Với ngôn từ giản dị nhưng bao hàm chiều sâu của suy tư và trăn trở, các tác phẩm của Bruce Weigl được công chúng Mỹ nhiệt liệt đón nhận. Ông không chỉ là một cựu chiến binh làm thơ, mà được đánh giá là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của nền văn học đương đại Mỹ.

Bruce Weigl là tác giả của 13 tập thơ riêng, với tập thơ gần đây nhất có tên là The Abundance of Nothing (Đầy những điều vô nghĩa) sẽ được xuất bản trong năm 2011. Ngoài ra, ông còn biên tập ba tập tiểu luận về thơ, và là tác giả của một tập hồi ký nổi tiếng mang tên Vòng tròn của Hạnh (The Circle of Hanh).

Bruce Weigl đã nhận được nhiều giải thưởng văn học, bao gồm Giải thưởng Thơ Paterson, Giải thưởng Quỹ Phát triển Nghệ thuật Quốc gia và Quỹ Yaddo. Ông cũng đã hai lần nhận được giải thưởng Pushcart, và giải thưởng dành cho nhà thơ xuất sắc của Viện Thi Ca Mỹ. Ông được đề cử cho giải thưởng Pulitzer vào năm 1988. Vào năm 2006, ông là nhà thơ duy nhất vinh dự nhận được Giải thưởng Văn Học Lannan. Giải thưởng Văn Học Lannan được thành lập để vinh danh những nhà văn có những đóng góp xuất sắc cho nền văn học Anh ngữ.


http://www.thanhgiong.vn/UserFiles/5(186).JPG

Nhà thơ Bruce Weigl và nhà thơ Nguyễn Duy

 Bruce Weigl không ngừng cống hiến cho sự hàn gắn quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau chiến tranh. Ông trở lại Việt Nam vào năm 1985, và là một trong những người Mỹ đầu tiên đặt chân đến Hà Nội sau chiến tranh. Ông đã đóng góp cho việc xây dựng bệnh viện, đưa thuốc men về những vùng nghèo khó, xa xôi nơi ông từng tham chiến. Cùng với các cộng sự ở Trung tâm William Joiner (Trường đại học Massachusettes, thành phố Boston), Bruce Weigl đã không mệt mỏi cống hiến cho việc giới thiệu văn học Việt Nam trên đất Mỹ. Ông là đồng dịch giả của bốn tập thơ Việt-Anh, bao gồm: Thơ từ những tài liệu bị bắt giữ (Poems from Captured Documents, dịch cùng Nguyễn Thanh); Sông núi: Thơ từ Chiến tranh Việt Nam (Mountain River: Poetry from the Vietnam Wars, dịch cùng Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung), Người vợ của bầu trời (The Wife of the Sky, thơ của Nguyễn Quyến, dịch cùng Nguyễn Phương), và Trên Đường (On The Road, Trường ca Trần Anh Thái, dịch cùng Nguyễn Phan Quế Mai). Vào tháng 2 năm 2010, Bruce Weigl đã được Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật”, để ghi nhận những nỗ lực và thành công của ông trong việc giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới.

Bruce Weigl nhận bằng tiến sĩ tại trường đại học Utah vào năm 1979. Ông từng là giáo sư của nhiều trường đại học tên tuổi như Arkansas, Old Dominion và Penn State. Hiện nay, ông là Giáo sư Danh dự ngành Nghệ thuật và Nhân văn học của trường Cao đẳng Lorain County Community tại thành phố Ohio. Qua các khóa giảng dạy, công việc dịch thuật, cùng với các bài diễn thuyết trong hơn 20 năm qua, Bruce Weigl đã giới thiệu cho hàng ngàn sinh viên và công chúng Mỹ về văn hóa, lịch sử và văn học Việt Nam, với mong muốn mở rộng góc nhìn của họ về đất nước Việt Nam giàu bản sắc văn hóa.

Tôi hân hạnh được gặp gỡ và làm việc với nhà thơ, giáo sư Bruce Weigl vào tháng 2 năm 2010 trong khuôn khổ Hội nghị Quốc tế Giới thiệu Văn học Việt Nam. Trong lần ông trở lại Việt Nam vào tháng 5, năm 2010 để tham gia Hội thảo Văn học Việt - Mỹ, Bruce Weigl đã đọc bài thơ Bài hát bom Na-pan trong đêm thơ “Chơi bóng rổ với Việt Cộng”. Bài thơ của ông đã làm tất cả những người trong khán phòng xúc động và là một món quà tinh thần ông dành tặng Việt Nam. Qua tuyển tập này, giờ đây tôi mong muốn giúp Bruce Weigl trao tặng nhiều hơn nữa những món quà của ông đến người Việt, cùng với hy vọng của ông về sự tiếp tục cảm thông, hàn gắn và hòa giải bền vững giữa hai đất nước mà ông cùng yêu quý: Việt Nam và Mỹ.

Ba mươi sáu bài thơ trong phần I - Bài hát bom Na-pan được tuyển chọn từ sáu tập thơ Bruce Weigl đã xuất bản, cùng với các bài thơ mới nhất chưa từng được in. Dù Bruce Weigl đã viết thành công về nhiều đề tài khác nhau, tập sách này chỉ quy tụ những bài thơ ông viết về Việt Nam hoặc từ những trải nghiệm liên quan đến chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam.

Phần II - Trở về ngôi nhà Việt giới thiệu sáu câu chuyện có thật, ba trong số đó được ông viết riêng cho tập sách này, lần đầu tiên ra mắt bạn đọc.

Tôi biết ơn Bruce Weigl đã tin tưởng giao phó cho tôi trọng trách chuyển ngữ các tác phẩm của ông. Tập sách này là kết quả của sự cộng tác chặt chẽ giữa tôi và Bruce Weigl trong nhiều tháng qua. Chúng tôi đã nhiều lần trao đổi thẳng thắn về ngữ nghĩa của mỗi bài thơ, với nỗ lực bảo tồn tinh thần của nguyên tác. Thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp của nguyên tác tiếng Anh, và để tạo cơ hội cho các độc giả biết tiếng Anh tiếp cận với vẻ đẹp đó, tôi đã đề nghị nhà xuất bản in song ngữ quyển sách này.

Tập sách này không thể ra đời nếu không có sự hậu thuẫn tinh thần của gia đình tôi, những người mà tình yêu vô bờ bến của họ chính là động lực trên mỗi bước đường văn chương của tôi. Tôi biết ơn mỗi thành viên trong gia đình, cùng bạn bè, đồng nghiệp, về sự chia sẻ và đồng cảm của họ. Tôi cũng chân thành cảm ơn nhà thơ Nguyễn Bảo Chân đã giúp tôi đối chiếu bản dịch với các bài thơ gốc và có những ý kiến góp ý quý báu. Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Nhà Xuất bản Trẻ đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tác phẩm này đến tay bạn đọc.

 Tình yêu của Bruce Weigl dành cho Việt Nam là một tình yêu thiêng liêng. Tôi tin vào điều đó, trong những lần tôi được nói chuyện qua điện thoại với con gái của ông - cô Nguyễn Thị Hạnh Weigl, người ông đã đón về từ một cô nhi viện từ lúc tám tuổi và nuôi dạy cho đến hôm nay. Lớn lên trên đất Mỹ, trong một gia đình không có ai nói thạo tiếng Việt, Hạnh nói và viết tiếng Việt lưu loát, dịu dàng, chăm chỉ và lễ phép như một cô gái Việt Nam. Cô thật may mắn vì cha mẹ cô đã nuôi cô với một lời hứa mà cha cô - nhà thơ Bruce Weigl đã thực hiện tại Việt Nam hơn 15 năm về trước: “Hôm nay, tôi nhận của quý vị một đứa bé Việt Nam, tôi hứa sau này sẽ trả lại quý vị một cô gái Việt Nam. Tôi sẽ không biến cô ấy thành người Mỹ, nhưng sẽ giúp cô ấy sống hết mình như một người Mỹ và cũng như một người Việt”.

 Điều duy nhất thôi thúc tôi biên soạn và chuyển ngữ tập sách này là lòng khâm phục dành cho nhà thơ Bruce Weigl về sự dũng cảm viết về sự thật của cuộc chiến tranh đẫm máu, nỗi đau mà nhân dân của hai nước Việt Nam và Mỹ đều phải gánh chịu. Qua những bài thơ về chiến tranh và những câu chuyện có thật, Bruce Weigl gửi những thông điệp mạnh mẽ kêu gọi hòa bình. Ông mong ước chiến tranh không bao giờ xảy ra nữa.

Tôi chuyển tới tay quý vị tập sách này với mong mỏi điều ước của Bruce Weigl sẽ trở thành hiện thực.

Hà Nội, mùa Thu 2010
Nguyễn Phan Quế Mai

 

  Bài hát bom Na-pan

                         (Tặng vợ tôi)

Sau cơn bão, sau cơn mưa thôi ào ạt

chúng mình đứng ở cửa nhìn đàn ngựa thong thả trên đồi cỏ

Qua tấm rèm đen, tầm nhìn bị khoảng cách thay đổi

vì thế dường như anh thấy màn sương vó ngựa khuấy lên

khi chúng chìm dần

như những con ngựa

bị cắt rời khỏi thân thể chúng ta

 

Cỏ chưa bao giờ xanh màu da trời như trong ánh sáng đó

cỏ cũng chưa bao giờ tím đến thế

Đằng sau thảm cỏ, cây cối đập vụn giọng nói của chúng vào gió

Những cành cây đan chằng chịt vào bầu trời dây kẽm gai

Nhưng em nói chúng chỉ là những cành cây

 

Ừ, cũng được. Cơn bão đã thôi dồn dập

Anh đang cố gắng nói ra sự thật

đó là lần duy nhất lý trí tạm dừng

và lấy lại hơi thở sau những kế hoạch điên rồ của chính mình

Sau trận mưa to đó

anh đã quay lưng lại với những lời nguyền cũ

Anh tin rằng những lời nguyền cuối cùng

rồi cũng buông tha anh...

 

Nhưng những cành cây vẫn là dây kẽm gai

Tiếng sấm vẫn là tiếng súng cối nã đạn

Cả bây giờ cả khi nhắm mắt

Anh vẫn nhìn thấy bé gái chạy ra từ ngôi làng

bom na-pan dính chặt cô vào máu

đôi bàn tay cô với ra phía trước

nhưng không ai đón cô trong biển lửa trước mặt

 

Anh có thể cứ tiếp tục sống

Anh có thể cứ ở đây bên em

Nhưng trong tâm trí anh, bé gái vẫn chạy trên đường

Đôi cánh đập trong cô đến khi cô bay lên trên cánh rừng khét lẹt

Để nỗi đau của cô vơi đi

cùng nỗi đau của em và anh

 

Nhưng lời nói dối lại lao trở lại

Lời nói dối chỉ có hiệu lực trong khoảnh khắc nó được thốt lên

Cô bé chỉ có thể chạy tới khi

bom na-pan cho phép cô

Đến khi ruột gan cô cháy khét

da thịt nứt nẻ tạc cô vào vị trí cuối cùng

vị trí hoàn hảo của cái chết

 

Cô bé bị đốt cháy sau võng mạc của anh

Không gì có thể thay đổi được điều đó

kể cả tình yêu dịu ngọt của em

cả không khí mát lành sau mưa

và cả rừng cỏ xanh đang trải trước mặt chúng ta

 

Không điều gì có thể chối bỏ được sự thật đó

 ***


  Đêm trước khi nhập ngũ

Đêm trước khi nhập ngũ

chàng trai bồn chồn lái xe qua những con phố sau nhà

Như có cánh cửa đã tồn tại lâu rồi ở đó

bây giờ anh có thể tìm thấy nó

lách qua

trốn vào một cuộc đời khác

nơi những ngôi sao không nổ tung vào mặt

 

Rồi anh uống bia với những người bạn

Họ không dám thốt lên lời tạm biệt giản đơn nhất

Họ chỉ biết uống thật nhiều

chạm vào nhau trong cơn say tối mặt

 

Nhiều tháng sau, nhiều cuộc đời sau

những con vắt

sự thối rữa

và từ ngữ

như một quả bóng sắt trong miệng

 

Anh nằm cạnh một chàng trai khác trong cỏ lau

bụng người ấy rách toang

lấp lánh trong ánh sáng

xuyên qua những tầng xanh

 

Anh nhớ về họ

những người bị ân huệ cuộc đời ruồng bỏ

vĩnh viễn trong cơn gió gào xiết của chiến tranh

rồi ném vào anh một chàng trai đang hấp hối

tiếng người ấy át cả tiếng trực thăng

van xin anh: đừng báo tin cho Mẹ

  ***


 Nụ hôn

Sau khi nói lời biệt ly

tôi lên máy bay và ngồi xuống.

Người tôi run nỗi đau

phải xa rời tình yêu

của những người vẫy tạm biệt tôi qua cửa sổ đông cứng...

 

(Khi bé, tôi có lần lạc trong trận bão

đám mây hình ống khói cuồn cuộn tiến đến gần

Xe đạp lao xuống dốc, hất tôi xuống mương

Gió dựng dậy bầu trời nhuốm vàng mắt lốc

Đôi tay mò mẫm tìm đường

tiếng tôi lạc trong gió quất

Trong mớ không khí đen đặc

chợt từ nơi nào không biết

cha tôi cúi xuống, bế tôi lên

chạy vào ngôi nhà những người không quen.)

 

Trên tay những tờ lệnh nhập ngũ tôi bỏ quên

hôm đó trên máy bay, cha hiện ra bên tôi

Ông cúi xuống, đặt mệnh lệnh vào lòng tôi

Rồi trước khi rời xa

không một lời từ biệt

cha đặt lên môi tôi chiếc hôn mạnh mẽ

 

Xuyên qua rừng rậm, xuyên qua cao nguyên

xuyên qua tất cả cái chết xanh

tôi chạm những ngón tay mình

vào nụ hôn cha tôi

 

 Nỗi buồn vây bủa trên đường xuống địa ngục

Tôi vừa đến Việt Nam

trượt trong những đám mây đen mang nặng hơi mưa

Những đám mây nở quanh tôi những đóa phong lan

 

Anh ta đến đưa tôi vào rừng rậm

Sự cô độc bao trùm

Tôi chưa kịp căm ghét cuộc chiến “cao cả” này

Tôi mười tám tuổi và anh ta dạy tôi cách sống sót

trong khu rừng nhiệt đới

Khu rừng - anh ta nói: sẽ thối rữa tôi

 

Anh ta cười và nói chúng ta là anh em cùng chí hướng

đến khi chúng tôi gặp bà cụ còng lưng cõng bao tải đầy hoa

Xe đã đi qua

nhưng anh ta phanh gấp

Những bánh xe quay ngoắt, tít trong bùn

 

Anh ta cũng không căm ghét chiến tranh

nhưng những lý do khác làm anh ta hét lên

Vì thế bà lão dừng lại

Hàm răng đen bà cười với chúng tôi

Hai tay giơ lên không trung

 

Tôi không có lý do tha thứ cho mình

Tôi ngồi trong xe zíp của người đàn ông đó dưới mưa

Nhìn hắn đánh bà lão khuỵu xuống

Báng súng M16 bổ gập xuống bà

 

Tôi vừa tới Việt Nam

Những đám mây treo những bông hoa khổng lồ

đen những chiếc răng

của bà lão cõng hoa

 ***


   Bộ phim

Tôi nghe tiếng thét của những đứa trẻ

bị bom nổ tung thành nhiều mảnh

Những quả bom được chỉ dẫn chính xác vào một căn phòng

trong ngôi nhà bên cạnh

ở đó một “mục tiêu” đã sống

hoặc không sống; vậy đó

Những xác chết chồng lên nhau

như thể đang chất trên vai tôi

Chẳng có chỗ cho phép ẩn dụ

Chồng xác chết mọc cao lên, cao lên

Chúng tôi không kịp ghi tên họ

Tôi bị lôi vào cuộc chiến tranh này!

Tôi bị lôi vào cuộc chiến tranh này!

Tôi chẳng thể làm gì

Để ngăn được cái chết đơn độc

Chỉ một cái chết tôi cũng không ngăn được

Bộ phim đen và trắng

rồi một ngày sẽ bị “thất lạc”.

 ***


 Cô gái ở cửa hàng giặt Chu Lai

Một ngày trong chiến tranh

trung đội khốn khổ của tôi đang rời trận địa

Tôi chợt nhớ

quần áo mình còn ở cửa hàng giặt

 

Tôi chạy hai dặm đường đất

đội hình quân ngũ đang xếp hàng sau lưng

Tôi vấp vào một dãy lều tranh

Và một cô gái

trong ánh sáng mặt trời

tóc bện thành chuỗi đen

 

Cô không nhìn tôi

cả khi tôi bảo cô hãy trả quần áo

Cô nói tôi không thể nhận lại

vì chúng còn ướt...

 

Ai nghĩ rằng quả đất ngừng quay chỉ vì chiến tranh

Cái nóng nhiệt đới như hận thù

Trung đội hành quân bỏ ta lại

Quần áo ướt của ta chất đống

dưới chân cô gái trong cửa hàng giặt

 

Một cô gái đẹp tuyệt

vì những sự thật mà cô nắm giữ

 ***


 Ngôi đền gần Quảng Trị, không có trong bản đồ

Hoàng hôn, hàng tầm xuân dày đặc chim sẻ

Những tiếng chíu chít di chuyển

Đôi cánh vẽ những dòng thư pháp

Tầm xuân leo kín hang động

Tầm xuân giữ hờ cánh cửa

 

Người dẫn đường đưa chúng tôi vào

Anh nâng những chiếc chậu trắng rửa mặt

chiếc bát nhỏ đựng cơm

Những chiếc đèn đá

và những bức tượng mở ra khuôn mặt chạm trổ

đón những nén hương

Cả chiếc chiếu cuộn trong góc hang

cả chỗ ngồi tụng kinh đều sạch sẽ

 

Một người đàn ông nhỏ bé

ngồi khoanh chân xiên vào bóng tối

Bức tường xa nhất tạc bóng ông nửa đối diện căn phòng

 

Cúi gập, đầu chạm đất

Ông đang nói điều gì như với chúng tôi

và cũng không phải với chúng tôi

Người chỉ huy muốn phớt lờ ông

Anh lắp đạn, lên đạn, bắn một tràng vào tường

Lần này những viên đạn không đựng đầy gạo

rồi ra lệnh chúng tôi rời hang

 

Một đồng đội tôi tiến tới chỗ ông

tò mò muốn biết điều gì ông đang nói

Chúng tôi dựng ông ngồi thẳng dậy

Mặt ông hiện ra, mắt cúi xuống

bọc thuốc nổ buộc giữa răng và sàn

 

Đàn chim sẻ

hoảng hốt tao tác rừng đêm

 ***


Người đàn ông trên xe đạp

Trên máy bay trực thăng gần Huế

Người xạ thủ đang bị thôi miên

Anh là người lái xe ngủ gật khi cầm vô lăng

giữa hai thành phố Pittsburg và Cleveland

trân trối nhìn đường mòn Hồ Chí Minh

 

Pháo sáng rụng xuống dòng sông gầm thét

Người tôi cứng đờ

 

Người xạ thủ phát hiện sự chuyển động

Phi công lượn mấy vòng trên không

Bốn người đàn ông đang vác súng chạy

Một người đạp xe

 

Anh kéo tôi ra khỏi trực thăng

nâng tôi rời xa tiếng súng

Tôi ngồi sau xe anh

hai tay bám vào anh, xiết chặt

Hơi thở anh gấp gáp, nặng nhọc

Tôi nhảy xuống, đẩy chiếc xe chạy tới

 

Những hàng cây vút qua

Người đàn ông ngừng đạp

Anh giơ hai chân

chúng tôi cùng lướt lên trên cánh rừng

Mũ anh bị gió thổi bay

tôi giơ tay bắt lấy

Đội mũ lên đầu, tôi sẽ trường tồn!

 

Như ngọn lửa cháy bừng

Tuôn chảy xuống đường mòn

  ***


  Ngôi nhà của những người dũng cảm

Đầu tiên nhiều người chết

sau đó nhiều người dũng cảm đến cứu họ

rồi họ cũng chết

 

Giây phút ngắn ngủi kinh hoàng

Khói đen dập tắt mặt trời

Mũi, miệng, mắt con người ngập bụi vương quốc đã bị nghiến nát

 

Những khuôn mặt ròng máu

Người ta tự lôi mình dậy và bắt đầu rùng rùng bước đi

như đoàn quân trên những con đường cao tốc không xe cộ

Đi về những ngôi nhà và những chiếc tivi

 

Họ đã mất quá nhiều

Một lỗ thủng xé toang thế giới

Để một người đàn ông treo hàng ngàn lá cờ

trước ngôi nhà ông ấy

 

Bạn không thấy

đâu là cửa và đâu là cửa sổ

 

Nhiều cờ quá

đến nỗi bạn tưởng chúng tôi là người Mỹ

***

  Con gái của bố

                   (Tặng Nguyễn Thị Hạnh Weigl)

Thật diệu kỳ khi con không hề sợ hãi

mặc dù màn đêm chứa đựng những chiếc bóng cảm động thế này

cảm động trong cách ta kiến tạo ra chúng trong tâm trí ta

 

Con đã làm gián đoạn thời gian cô đơn ngắn ngủi của cha

trong giờ phút cha hồi sinh trước cái chết tâm linh

 

Điều đó với cha thật buồn cười

nhưng bây giờ con ở đây

trong bộ đồ ngủ sáng màu chúng ta mua từ Hà Nội

với những từ tiếng Anh in sai chính tả trước áo

Trong cặp mắt đen của con, chảy dòng sông Bình Lục

vẫn nổi sóng, dâng lên và vặn mình đổ ra biển lớn

ngày con đến với cha

 

Cha muốn nói rằng con là dòng sông của cha

hoặc con là đóa hoa của cha

hoặc con là chú chim vàng anh

Nhưng cha không muốn chữ nghĩa trói buộc con

cách chữ nghĩa thường làm

Cha không muốn chữ nghĩa uốn cong con

vì thế cha đã im lặng. Cha đã quan sát con

            – con còn nhớ chứ?-

khi con ngồi xổm bên hồ cá

kéo chiếc que ngang qua bóng mình in trên mặt nước

 

Vào thời xa rồi

về ký ức một nơi thật xanh

đôi khi ta không được phép đặt tên

cha đã quan sát con

 ***


   Lời thơ tặng Mẹ Nguyễn Thị Vẻ

                              (Viết thay cho Nguyễn Thị Hạnh Weigl)

Được sinh ra trong văn hóa lúa Hà Nam

đầu tiên là đất

thứ hai là nước

thứ ba là những ngày dài còng lưng dưới mặt trời

thứ tư là thóc giống

như cuộc đời Mẹ đã bắt đầu

dưới bầu trời vần vũ của chiến tranh

 

Rồi Mẹ như cây mạ

sẵn sàng cho số phận bứng lên từ mảnh ruộng Mẹ đã được gieo

để lại được cấy xuống trong hàng hàng những người sống sót

Mẹ vươn lên từ bùn, Mẹ vươn lên trong bão táp.

 

Dậy thì khi lúa trổ đòng

bóng tối hậm hực muốn nhấn chìm vẻ đẹp

Mẹ vẫn rì rào xanh mướt xanh

tự do chảy qua những cánh đồng

rễ bám đất cưu mang đòng nặng hạt

 

Khi lúa chín, Mẹ hái gặt điều thiêng liêng nhất của đời mình bằng tiếng hát

bằng yêu thương sâu thẳm trong tim

bằng nước mắt, tiếng cười ngày làm mẹ

 

Nhưng - số phận chia lìa hai ngả

Mẹ lặng lẽ gặt mình thành gốc rạ

cô liêu trên đồng trống tái màu

 

Giờ đây Mẹ trở về thóc giống

để chúng con cùng nâng niu, cất giữ, gieo trồng

để những hạt-gạo-Mẹ chúng con ăn vào cơ thể

lại trổ đòng

lại xanh mướt xanh

 

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 


 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com