Thông báo
Giới thiệu sách
Thống kê truy cập
|
Bruce weigl – Tiếng hát gọi hòa bình từ bầu trời dây kẽm gai(Lời người dịch - Nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai) Nhân dịp nhà thơ Bruce Weigl sang thăm Việt Nam trong khuôn khổ hoạt động giới thiệu hai tác phẩm của ông mới được xuất bản tại Việt Nam, Khoa Viết văn sẽ tiến hành tổ chức ĐÊM THƠ BRUCE WEIGL “TRỞ VỀ NGÔI NHÀ VIỆT”. Cũng trong đêm thơ này, tập thơ và hồi ký “Sau mưa thôi nã đạn” của Bruce Weigl, do Nguyễn Phan Quế Mai biên soạn và chuyển ngữ (NXB Trẻ ấn hành) sẽ được đến tay bạn đọc. Thời gian tổ chức đêm thơ: 7h30 tối thứ Năm, ngày 16.12.2010; Địa điểm: Hội trường Đại học Văn Hóa HN, 418 Đường La Thành, Hà Nội. Trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ- dịch giả Nguyễn Phan Quế Mai và chùm thơ của nhà thơ Bruce Weigl cùng bạn đọc. Vietvan.vn
Giáo sư Bruce Weigl được biết đến như một hiện tượng của thi ca Mỹ. Từng tham chiến ở chiến trường Quảng Trị từ năm 1967 đến năm 1968, ông đã chứng kiến những sự thật kinh hoàng của cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Trở về sau cuộc chiến, ông đã tìm đến thi ca như một sự cứu rỗi linh hồn. Bruce Weigl tâm sự “chiến tranh đã từng tước đi của tôi rất nhiều, nhưng nó cũng cho tôi thơ ca, một người con Việt Nam và tình yêu đối với đất nước và con người Việt Nam”. Thơ của Bruce Weigl dường như được viết bằng máu và nỗi đau, và đối với những độc giả tinh tế - những người đọc ông một cách kỹ lưỡng - thơ ông còn ẩn chứa sự hài hước và châm biếm. Với ngôn từ giản dị nhưng bao hàm chiều sâu của suy tư và trăn trở, các tác phẩm của Bruce Weigl được công chúng Mỹ nhiệt liệt đón nhận. Ông không chỉ là một cựu chiến binh làm thơ, mà được đánh giá là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất của nền văn học đương đại Mỹ. Bruce Weigl là tác giả của 13 tập thơ riêng, với tập thơ gần đây nhất có tên là The Abundance of Nothing (Đầy những điều vô nghĩa) sẽ được xuất bản trong năm 2011. Ngoài ra, ông còn biên tập ba tập tiểu luận về thơ, và là tác giả của một tập hồi ký nổi tiếng mang tên Vòng tròn của Hạnh (The Circle of Hanh). Bruce Weigl đã nhận được nhiều giải thưởng văn học, bao gồm Giải thưởng Thơ Paterson, Giải thưởng Quỹ Phát triển Nghệ thuật Quốc gia và Quỹ Yaddo. Ông cũng đã hai lần nhận được giải thưởng Pushcart, và giải thưởng dành cho nhà thơ xuất sắc của Viện Thi Ca Mỹ. Ông được đề cử cho giải thưởng Pulitzer vào năm 1988. Vào năm 2006, ông là nhà thơ duy nhất vinh dự nhận được Giải thưởng Văn Học Lannan. Giải thưởng Văn Học Lannan được thành lập để vinh danh những nhà văn có những đóng góp xuất sắc cho nền văn học Anh ngữ. Nhà thơ Bruce
Weigl và nhà thơ Nguyễn Duy Bruce Weigl không ngừng cống hiến cho sự hàn gắn quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ sau chiến tranh. Ông trở lại Việt Nam vào năm 1985, và là một trong những người Mỹ đầu tiên đặt chân đến Hà Nội sau chiến tranh. Ông đã đóng góp cho việc xây dựng bệnh viện, đưa thuốc men về những vùng nghèo khó, xa xôi nơi ông từng tham chiến. Cùng với các cộng sự ở Trung tâm William Joiner (Trường đại học Massachusettes, thành phố Boston), Bruce Weigl đã không mệt mỏi cống hiến cho việc giới thiệu văn học Việt Nam trên đất Mỹ. Ông là đồng dịch giả của bốn tập thơ Việt-Anh, bao gồm: Thơ từ những tài liệu bị bắt giữ (Poems from Captured Documents, dịch cùng Nguyễn Thanh); Sông núi: Thơ từ Chiến tranh Việt Nam (Mountain River: Poetry from the Vietnam Wars, dịch cùng Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung), Người vợ của bầu trời (The Wife of the Sky, thơ của Nguyễn Quyến, dịch cùng Nguyễn Phương), và Trên Đường (On The Road, Trường ca Trần Anh Thái, dịch cùng Nguyễn Phan Quế Mai). Vào tháng 2 năm 2010, Bruce Weigl đã được Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam và Hội Nhà văn Việt Nam trao Kỷ niệm chương “Vì sự nghiệp Văn học Nghệ thuật”, để ghi nhận những nỗ lực và thành công của ông trong việc giới thiệu văn học Việt Nam ra thế giới. Bruce Weigl nhận bằng tiến sĩ tại trường đại học Utah vào năm 1979. Ông từng là giáo sư của nhiều trường đại học tên tuổi như Arkansas, Old Dominion và Penn State. Hiện nay, ông là Giáo sư Danh dự ngành Nghệ thuật và Nhân văn học của trường Cao đẳng Lorain County Community tại thành phố Ohio. Qua các khóa giảng dạy, công việc dịch thuật, cùng với các bài diễn thuyết trong hơn 20 năm qua, Bruce Weigl đã giới thiệu cho hàng ngàn sinh viên và công chúng Mỹ về văn hóa, lịch sử và văn học Việt Nam, với mong muốn mở rộng góc nhìn của họ về đất nước Việt Nam giàu bản sắc văn hóa. Tôi hân hạnh được gặp gỡ và làm việc với nhà thơ, giáo sư Bruce Weigl vào tháng 2 năm 2010 trong khuôn khổ Hội nghị Quốc tế Giới thiệu Văn học Việt Nam. Trong lần ông trở lại Việt Nam vào tháng 5, năm 2010 để tham gia Hội thảo Văn học Việt - Mỹ, Bruce Weigl đã đọc bài thơ Bài hát bom Na-pan trong đêm thơ “Chơi bóng rổ với Việt Cộng”. Bài thơ của ông đã làm tất cả những người trong khán phòng xúc động và là một món quà tinh thần ông dành tặng Việt Nam. Qua tuyển tập này, giờ đây tôi mong muốn giúp Bruce Weigl trao tặng nhiều hơn nữa những món quà của ông đến người Việt, cùng với hy vọng của ông về sự tiếp tục cảm thông, hàn gắn và hòa giải bền vững giữa hai đất nước mà ông cùng yêu quý: Việt Nam và Mỹ. Ba mươi sáu bài thơ trong phần I - Bài hát bom Na-pan được tuyển chọn từ sáu tập thơ Bruce Weigl đã xuất bản, cùng với các bài thơ mới nhất chưa từng được in. Dù Bruce Weigl đã viết thành công về nhiều đề tài khác nhau, tập sách này chỉ quy tụ những bài thơ ông viết về Việt Nam hoặc từ những trải nghiệm liên quan đến chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam. Phần II - Trở về ngôi nhà Việt giới thiệu sáu câu chuyện có thật, ba trong số đó được ông viết riêng cho tập sách này, lần đầu tiên ra mắt bạn đọc. Tôi biết ơn Bruce Weigl đã tin tưởng giao phó cho tôi trọng trách chuyển ngữ các tác phẩm của ông. Tập sách này là kết quả của sự cộng tác chặt chẽ giữa tôi và Bruce Weigl trong nhiều tháng qua. Chúng tôi đã nhiều lần trao đổi thẳng thắn về ngữ nghĩa của mỗi bài thơ, với nỗ lực bảo tồn tinh thần của nguyên tác. Thể hiện sự trân trọng vẻ đẹp của nguyên tác tiếng Anh, và để tạo cơ hội cho các độc giả biết tiếng Anh tiếp cận với vẻ đẹp đó, tôi đã đề nghị nhà xuất bản in song ngữ quyển sách này. Tập sách này không thể ra đời nếu không có sự hậu thuẫn tinh thần của gia đình tôi, những người mà tình yêu vô bờ bến của họ chính là động lực trên mỗi bước đường văn chương của tôi. Tôi biết ơn mỗi thành viên trong gia đình, cùng bạn bè, đồng nghiệp, về sự chia sẻ và đồng cảm của họ. Tôi cũng chân thành cảm ơn nhà thơ Nguyễn Bảo Chân đã giúp tôi đối chiếu bản dịch với các bài thơ gốc và có những ý kiến góp ý quý báu. Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến Nhà Xuất bản Trẻ đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tác phẩm này đến tay bạn đọc. Tình yêu của Bruce Weigl dành cho Việt Nam là một tình yêu thiêng liêng. Tôi tin vào điều đó, trong những lần tôi được nói chuyện qua điện thoại với con gái của ông - cô Nguyễn Thị Hạnh Weigl, người ông đã đón về từ một cô nhi viện từ lúc tám tuổi và nuôi dạy cho đến hôm nay. Lớn lên trên đất Mỹ, trong một gia đình không có ai nói thạo tiếng Việt, Hạnh nói và viết tiếng Việt lưu loát, dịu dàng, chăm chỉ và lễ phép như một cô gái Việt Nam. Cô thật may mắn vì cha mẹ cô đã nuôi cô với một lời hứa mà cha cô - nhà thơ Bruce Weigl đã thực hiện tại Việt Nam hơn 15 năm về trước: “Hôm nay, tôi nhận của quý vị một đứa bé Việt Nam, tôi hứa sau này sẽ trả lại quý vị một cô gái Việt Nam. Tôi sẽ không biến cô ấy thành người Mỹ, nhưng sẽ giúp cô ấy sống hết mình như một người Mỹ và cũng như một người Việt”. Điều duy nhất thôi thúc tôi biên soạn và chuyển ngữ tập sách này là lòng khâm phục dành cho nhà thơ Bruce Weigl về sự dũng cảm viết về sự thật của cuộc chiến tranh đẫm máu, nỗi đau mà nhân dân của hai nước Việt Nam và Mỹ đều phải gánh chịu. Qua những bài thơ về chiến tranh và những câu chuyện có thật, Bruce Weigl gửi những thông điệp mạnh mẽ kêu gọi hòa bình. Ông mong ước chiến tranh không bao giờ xảy ra nữa. Tôi chuyển tới tay quý vị tập sách này với mong mỏi điều ước của Bruce Weigl sẽ trở thành hiện thực. Hà Nội, mùa Thu 2010
Bài hát bom Na-pan (Tặng vợ tôi) Sau cơn bão, sau cơn mưa thôi ào ạt chúng mình đứng ở cửa nhìn đàn ngựa thong thả trên đồi cỏ Qua tấm rèm đen, tầm nhìn bị khoảng cách thay đổi vì thế dường như anh thấy màn sương vó ngựa khuấy lên khi chúng chìm dần như những con ngựa bị cắt rời khỏi thân thể chúng ta
Cỏ chưa bao giờ xanh màu da trời như trong ánh sáng đó cỏ cũng chưa bao giờ tím đến thế Đằng sau thảm cỏ, cây cối đập vụn giọng nói của chúng vào gió Những cành cây đan chằng chịt vào bầu trời dây kẽm gai Nhưng em nói chúng chỉ là những cành cây
Ừ, cũng được. Cơn bão đã thôi dồn dập Anh đang cố gắng nói ra sự thật đó là lần duy nhất lý trí tạm dừng và lấy lại hơi thở sau những kế hoạch điên rồ của chính mình Sau trận mưa to đó anh đã quay lưng lại với những lời nguyền cũ Anh tin rằng những lời nguyền cuối cùng rồi cũng buông tha anh...
Nhưng những cành cây vẫn là dây kẽm gai Tiếng sấm vẫn là tiếng súng cối nã đạn Cả bây giờ cả khi nhắm mắt Anh vẫn nhìn thấy bé gái chạy ra từ ngôi làng bom na-pan dính chặt cô vào máu đôi bàn tay cô với ra phía trước nhưng không ai đón cô trong biển lửa trước mặt
Anh có thể cứ tiếp tục sống Anh có thể cứ ở đây bên em Nhưng trong tâm trí anh, bé gái vẫn chạy trên đường Đôi cánh đập trong cô đến khi cô bay lên trên cánh rừng khét lẹt Để nỗi đau của cô vơi đi cùng nỗi đau của em và anh
Nhưng lời nói dối lại lao trở lại Lời nói dối chỉ có hiệu lực trong khoảnh khắc nó được thốt lên Cô bé chỉ có thể chạy tới khi bom na-pan cho phép cô Đến khi ruột gan cô cháy khét da thịt nứt nẻ tạc cô vào vị trí cuối cùng vị trí hoàn hảo của cái chết
Cô bé bị đốt cháy sau võng mạc của anh Không gì có thể thay đổi được điều đó kể cả tình yêu dịu ngọt của em cả không khí mát lành sau mưa và cả rừng cỏ xanh đang trải trước mặt chúng ta
Không điều gì có thể chối bỏ được sự thật đó *** Đêm trước khi nhập ngũ Đêm trước khi nhập ngũ chàng trai bồn chồn lái xe qua những con phố sau nhà Như có cánh cửa đã tồn tại lâu rồi ở đó bây giờ anh có thể tìm thấy nó lách qua trốn vào một cuộc đời khác nơi những ngôi sao không nổ tung vào mặt
Rồi anh uống bia với những người bạn Họ không dám thốt lên lời tạm biệt giản đơn nhất Họ chỉ biết uống thật nhiều chạm vào nhau trong cơn say tối mặt
Nhiều tháng sau, nhiều cuộc đời sau những con vắt sự thối rữa và từ ngữ như một quả bóng sắt trong miệng
Anh nằm cạnh một chàng trai khác trong cỏ lau bụng người ấy rách toang lấp lánh trong ánh sáng xuyên qua những tầng xanh
Anh nhớ về họ những người bị ân huệ cuộc đời ruồng bỏ vĩnh viễn trong cơn gió gào xiết của chiến tranh rồi ném vào anh một chàng trai đang hấp hối tiếng người ấy át cả tiếng trực thăng van xin anh: đừng báo tin cho Mẹ *** Nụ hôn Sau khi nói lời biệt ly tôi lên máy bay và ngồi xuống. Người tôi run nỗi đau phải xa rời tình yêu của những người vẫy tạm biệt tôi qua cửa sổ đông cứng...
(Khi bé, tôi có lần lạc trong trận bão đám mây hình ống khói cuồn cuộn tiến đến gần Xe đạp lao xuống dốc, hất tôi xuống mương Gió dựng dậy bầu trời nhuốm vàng mắt lốc Đôi tay mò mẫm tìm đường tiếng tôi lạc trong gió quất Trong mớ không khí đen đặc chợt từ nơi nào không biết cha tôi cúi xuống, bế tôi lên chạy vào ngôi nhà những người không quen.)
Trên tay những tờ lệnh nhập ngũ tôi bỏ quên hôm đó trên máy bay, cha hiện ra bên tôi Ông cúi xuống, đặt mệnh lệnh vào lòng tôi Rồi trước khi rời xa không một lời từ biệt cha đặt lên môi tôi chiếc hôn mạnh mẽ
Xuyên qua rừng rậm, xuyên qua cao nguyên xuyên qua tất cả cái chết xanh tôi chạm những ngón tay mình vào nụ hôn cha tôi
Nỗi buồn vây bủa trên đường xuống địa ngục Tôi vừa đến Việt Nam trượt trong những đám mây đen mang nặng hơi mưa Những đám mây nở quanh tôi những đóa phong lan
Anh ta đến đưa tôi vào rừng rậm Sự cô độc bao trùm Tôi chưa kịp căm ghét cuộc chiến “cao cả” này Tôi mười tám tuổi và anh ta dạy tôi cách sống sót trong khu rừng nhiệt đới Khu rừng - anh ta nói: sẽ thối rữa tôi
Anh ta cười và nói chúng ta là anh em cùng chí hướng đến khi chúng tôi gặp bà cụ còng lưng cõng bao tải đầy hoa Xe đã đi qua nhưng anh ta phanh gấp Những bánh xe quay ngoắt, tít trong bùn
Anh ta cũng không căm ghét chiến tranh nhưng những lý do khác làm anh ta hét lên Vì thế bà lão dừng lại Hàm răng đen bà cười với chúng tôi Hai tay giơ lên không trung
Tôi không có lý do tha thứ cho mình Tôi ngồi trong xe zíp của người đàn ông đó dưới mưa Nhìn hắn đánh bà lão khuỵu xuống Báng súng M16 bổ gập xuống bà
Tôi vừa tới Việt Nam Những đám mây treo những bông hoa khổng lồ đen những chiếc răng của bà lão cõng hoa *** Bộ
phim Tôi nghe tiếng thét của những đứa trẻ bị bom nổ tung thành nhiều mảnh Những quả bom được chỉ dẫn chính xác vào một căn phòng trong ngôi nhà bên cạnh ở đó một “mục tiêu” đã sống hoặc không sống; vậy đó Những xác chết chồng lên nhau như thể đang chất trên vai tôi Chẳng có chỗ cho phép ẩn dụ Chồng xác chết mọc cao lên, cao lên Chúng tôi không kịp ghi tên họ Tôi bị lôi vào cuộc chiến tranh này! Tôi bị lôi vào cuộc chiến tranh này! Tôi chẳng thể làm gì Để ngăn được cái chết đơn độc Chỉ một cái chết tôi cũng không ngăn được Bộ phim đen và trắng rồi một ngày sẽ bị “thất lạc”. *** Cô gái ở cửa hàng giặt Chu Lai Một ngày trong chiến tranh trung đội khốn khổ của tôi đang rời trận địa Tôi chợt nhớ quần áo mình còn ở cửa hàng giặt
Tôi chạy hai dặm đường đất đội hình quân ngũ đang xếp hàng sau lưng Tôi vấp vào một dãy lều tranh Và một cô gái trong ánh sáng mặt trời tóc bện thành chuỗi đen
Cô không nhìn tôi cả khi tôi bảo cô hãy trả quần áo Cô nói tôi không thể nhận lại vì chúng còn ướt...
Ai nghĩ rằng quả đất ngừng quay chỉ vì chiến tranh Cái nóng nhiệt đới như hận thù Trung đội hành quân bỏ ta lại Quần áo ướt của ta chất đống dưới chân cô gái trong cửa hàng giặt
Một cô gái đẹp tuyệt vì những sự thật mà cô nắm giữ *** Ngôi đền gần Quảng Trị, không có trong bản đồ Hoàng hôn, hàng tầm xuân dày đặc chim sẻ Những tiếng chíu chít di chuyển Đôi cánh vẽ những dòng thư pháp Tầm xuân leo kín hang động Tầm xuân giữ hờ cánh cửa
Người dẫn đường đưa chúng tôi vào Anh nâng những chiếc chậu trắng rửa mặt chiếc bát nhỏ đựng cơm Những chiếc đèn đá và những bức tượng mở ra khuôn mặt chạm trổ đón những nén hương Cả chiếc chiếu cuộn trong góc hang cả chỗ ngồi tụng kinh đều sạch sẽ
Một người đàn ông nhỏ bé ngồi khoanh chân xiên vào bóng tối Bức tường xa nhất tạc bóng ông nửa đối diện căn phòng
Cúi gập, đầu chạm đất Ông đang nói điều gì như với chúng tôi và cũng không phải với chúng tôi Người chỉ huy muốn phớt lờ ông Anh lắp đạn, lên đạn, bắn một tràng vào tường Lần này những viên đạn không đựng đầy gạo rồi ra lệnh chúng tôi rời hang
Một đồng đội tôi tiến tới chỗ ông tò mò muốn biết điều gì ông đang nói Chúng tôi dựng ông ngồi thẳng dậy Mặt ông hiện ra, mắt cúi xuống bọc thuốc nổ buộc giữa răng và sàn
Đàn chim sẻ hoảng hốt tao tác rừng đêm *** Người đàn ông trên xe đạp Trên máy bay trực thăng gần Huế Người xạ thủ đang bị thôi miên Anh là người lái xe ngủ gật khi cầm vô lăng giữa hai thành phố Pittsburg và Cleveland trân trối nhìn đường mòn Hồ Chí Minh
Pháo sáng rụng xuống dòng sông gầm thét Người tôi cứng đờ
Người xạ thủ phát hiện sự chuyển động Phi công lượn mấy vòng trên không Bốn người đàn ông đang vác súng chạy Một người đạp xe
Anh kéo tôi ra khỏi trực thăng nâng tôi rời xa tiếng súng Tôi ngồi sau xe anh hai tay bám vào anh, xiết chặt Hơi thở anh gấp gáp, nặng nhọc Tôi nhảy xuống, đẩy chiếc xe chạy tới
Những hàng cây vút qua Người đàn ông ngừng đạp Anh giơ hai chân chúng tôi cùng lướt lên trên cánh rừng Mũ anh bị gió thổi bay tôi giơ tay bắt lấy Đội mũ lên đầu, tôi sẽ trường tồn!
Như ngọn lửa cháy bừng Tuôn chảy xuống đường mòn *** Ngôi nhà của những người dũng cảm Đầu tiên nhiều người chết sau đó nhiều người dũng cảm đến cứu họ rồi họ cũng chết
Giây phút ngắn ngủi kinh hoàng Khói đen dập tắt mặt trời Mũi, miệng, mắt con người ngập bụi vương quốc đã bị nghiến nát
Những khuôn mặt ròng máu Người ta tự lôi mình dậy và bắt đầu rùng rùng bước đi như đoàn quân trên những con đường cao tốc không xe cộ Đi về những ngôi nhà và những chiếc tivi
Họ đã mất quá nhiều Một lỗ thủng xé toang thế giới Để một người đàn ông treo hàng ngàn lá cờ trước ngôi nhà ông ấy
Bạn không thấy đâu là cửa và đâu là cửa sổ
Nhiều cờ quá đến nỗi bạn tưởng chúng tôi là người Mỹ ***
Con gái của bố (Tặng Nguyễn Thị Hạnh Weigl) Thật diệu kỳ khi con không hề sợ hãi mặc dù màn đêm chứa đựng những chiếc bóng cảm động thế này cảm động trong cách ta kiến tạo ra chúng trong tâm trí ta
Con đã làm gián đoạn thời gian cô đơn ngắn ngủi của cha trong giờ phút cha hồi sinh trước cái chết tâm linh
Điều đó với cha thật buồn cười nhưng bây giờ con ở đây trong bộ đồ ngủ sáng màu chúng ta mua từ Hà Nội với những từ tiếng Anh in sai chính tả trước áo Trong cặp mắt đen của con, chảy dòng sông Bình Lục vẫn nổi sóng, dâng lên và vặn mình đổ ra biển lớn ngày con đến với cha
Cha muốn nói rằng con là dòng sông của cha hoặc con là đóa hoa của cha hoặc con là chú chim vàng anh Nhưng cha không muốn chữ nghĩa trói buộc con cách chữ nghĩa thường làm Cha không muốn chữ nghĩa uốn cong con vì thế cha đã im lặng. Cha đã quan sát con – con còn nhớ chứ?- khi con ngồi xổm bên hồ cá kéo chiếc que ngang qua bóng mình in trên mặt nước
Vào thời xa rồi về ký ức một nơi thật xanh đôi khi ta không được phép đặt tên cha đã quan sát con *** Lời thơ tặng Mẹ Nguyễn Thị Vẻ (Viết thay cho Nguyễn Thị Hạnh Weigl) Được sinh ra trong văn hóa lúa Hà Nam đầu tiên là đất thứ hai là nước thứ ba là những ngày dài còng lưng dưới mặt trời thứ tư là thóc giống như cuộc đời Mẹ đã bắt đầu dưới bầu trời vần vũ của chiến tranh
Rồi Mẹ như cây mạ sẵn sàng cho số phận bứng lên từ mảnh ruộng Mẹ đã được gieo để lại được cấy xuống trong hàng hàng những người sống sót Mẹ vươn lên từ bùn, Mẹ vươn lên trong bão táp.
Dậy thì khi lúa trổ đòng bóng tối hậm hực muốn nhấn chìm vẻ đẹp Mẹ vẫn rì rào xanh mướt xanh tự do chảy qua những cánh đồng rễ bám đất cưu mang đòng nặng hạt
Khi lúa chín, Mẹ hái gặt điều thiêng liêng nhất của đời mình bằng tiếng hát bằng yêu thương sâu thẳm trong tim bằng nước mắt, tiếng cười ngày làm mẹ
Nhưng - số phận chia lìa hai ngả Mẹ lặng lẽ gặt mình thành gốc rạ cô liêu trên đồng trống tái màu
Giờ đây Mẹ trở về thóc giống để chúng con cùng nâng niu, cất giữ, gieo trồng để những hạt-gạo-Mẹ chúng con ăn vào cơ thể lại trổ đòng lại xanh mướt xanh
CÁC TIN TRƯỚCCÁC TIN TIẾP THEO |