Cú va chạm khủng khiếp của văn hóa Đông -Tây

(Nguyên Anh)           

“Istanbul – Hồi ức và thành phố” của Orhan Pamuk, nhà văn được giải Nobel 2006, có lẽ là một trong số những cuốn sách thể hiện cái nhìn nghiệt ngã nhất về sự giao thoa văn hóa Đông – Tây, mà kết cục của quá trình đó thực là bi thảm.

Một thành phố mất phương hướng

Bối cảnh của cuốn tự truyện là thành phố Istanbul, nơi tác giả của nó lớn lên. Đây là một trung tâm văn hóa chính trị của Thổ Nhĩ Kỳ, đất nước có vị trí địa lý đặc biệt: một phần thuộc về châu Á, một phần thuộc về châu Âu.

Thành phố cũng gắn với lịch sử của đế quốc Ottoman, một trong những đế quốc đạo Hồi hùng mạnh và trường tồn nhất trên thế giới với lịch sử tồn tại từ năm 1299 đến 1923.

Vào thời cực thịnh của mình, vương quốc mà nó có được, bao gồm lãnh thổ của nhiều nước thuộc châu Á, châu Âu và châu Phi ngày nay. Tài liệu cho thấy, gần 30 quốc gia hiện nay đã được thành lập từ lãnh thổ cũ của Đế quốc Ottoman: Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, Bulgaria, Romania, Nam Tư (sau này phân làm 5 nước độc lập), Hungary, Albania, Syria, Liban, Jordan, Israel, Aden, Kuwait, Ai      Cập, Sudan, Libya, Iraq, Yemen, Tunisia, Algérie, Síp, Armenia,Gruzia, Ukraina và một phần nước Nga.

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/vietnamtime.org.jpg
Tác giả Orhan Pamuck. Ảnh: vietnamtime.org

Đế quốc này đã bị sụp đổ cùng với đại chiến thế giới lần thứ I. Năm 1923, nền cộng hòa được thiết lập và qua đó xóa sổ nhà nước phong kiến vĩ đại Ottoman. Cũng từ đó, vị thế của Istanbul đối với châu Á, châu Âu, thậm chí đối với chính đất nước Thổ Nhĩ Kỳ, chịu nhiều thay đổi.

Cùng với sự sa sút của các gia đình đại quý tộc, vương triều, thành phố xa hoa đã chìm đắm trong cảnh nghèo đói, khốn khó, đổ nát hoang tàn. Istanbul, thành phố được xem là "nơi chốn của một cái đẹp tuyệt trần", trở thành một nơi tràn ngập những lâu đài bỏ hoang, những đường phố chắp vá, với những con người ngơ ngác không biết phải làm gì để thích ứng với cuộc sống mới.

Từ đó, thay vì tìm cho mình một lối đi, thì người ta đổ xô theo lối sống phương Tây. Giới tinh hoa và những người giàu có, quyền lực đều đua nhau sống theo cách của người châu Âu, như một đầu tàu lôi kéo cả xã hội đi theo. Một chi tiết của quá trình "Âu hóa" diễn ra ngay trong gia đình Pamuk: Ngôi nhà 5 tầng của gia đình ông ở trung tâm thành phố có tới ... 5 cái piano, mà điều phi lý hơn nữa là không hề có ai chơi những chiếc đàn đó!

Nỗi sợ hãi về một thế giới mong manh, đổ vỡ đã khiến những người có quyền lực hướng về châu Âu: Người ta học cách sống của người Pháp, tiền bạc làm ra được, thì vội gửi vào nhà băng Thụy Sĩ. Những đứa con của họ cũng được "ký gửi" ở phương trời Tây.

Người một nơi, hồn một nẻo

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/assets/images/sach-Istanbul.jpg

Điều bi kịch ở đây, là một mặc cảm về dân tộc đã bị đè nặng lên con người. Những cái nét riêng của Istanbul, người Âu thích thú khi đến tham quan du lịch, lập tức bị xóa bỏ ngay, bởi người ta không muốn mình trở thành "kỳ lạ" trong con mắt của người Âu. Những đội "Vệ binh thổ" truyền thống, thu hút sự quan tâm của du khách, lập tức bị xóa bỏ.

Trong cuốn Nhật ký được xuất bản của André Gide nhận xét rằng "quần áo của người Thổ thì thật tệ, nhưng giống người Thổ cũng chẳng khá hơn". Một năm sau khi cuốn sách xuất bản, thành phố đã "tiến hành một cuộc cách mạng về ăn mặc, cấm hết mọi thứ quần áo không phải Tây phương".

Sinh trưởng trong một quốc gia có truyền thống Hồi giáo và trong một gia đình quyền thế, nhưng Pamuk chỉ thực hiện việc ăn chay (một nghi thức bắt buộc đối với tín đồ Hồi giáo)  một lần khi cậu còn bé, là vì sự tò mò của chính bản thân mình.

Lối sống trưởng giả của phương Tây không chỉ làm thay đổi văn hóa mà nó còn ảnh hưởng tới đời sống chính trị của thành phố.

Pamuk phân tích: "Nếu giới trưởng giả Tây phương hóa của Istanbul hỗ trợ những can thiệp quân sự trong bốn chục năm qua, cũng như chẳng bao giờ phản đối sự can thiệp của giới nhà binh vào chính trường, thì đó không phải bởi vì họ sợ một cuộc nổi dậy của phe tả ( những người theo tả phái tại Thổ Nhĩ Kỳ không đủ mạnh để thực hiện một cú như thế); mà đúng hơn, thái độ dung thứ của đám tinh anh đối với bên quân sự là do sự sợ hãi có từ thủa nào, theo đó một ngày các giai cấp thấp kém sẽ liên minh với những kẻ mới trở nên giàu có, từ tỉnh lỵ địa phương ùa vào thành phố, và xóa bỏ cách sống trưởng giả Tây phương dưới ngọn cờ tôn giáo".

Nỗi buồn Istanbul

Bao trùm lên toàn bộ các chi tiết, các câu chuyện trong cuốn sách của Pamuk, kể cả hình ảnh tư liệu minh họa, là một nỗi buồn khó tả. Cái nỗi buồn ấy như một nét đặc trưng của toàn bộ thành phố, đè nặng lên cả những người chạy theo đời sống phương Tây lẫn những người "bảo thủ" cố gắng tìm kiếm lấy những cái gì còn sót lại từ quá vãng của mình.

Nhà văn viết: "Tây phương hóa cho phép tôi và hàng triệu cư dân của thành phố Istanbul được hưởng trò xa xỉ: thưởng thức cái quá khứ của chính chúng tôi như là một thứ "hương xa cỏ lạ", một cảnh đẹp của một đất nước, thành phố xa lạ nào đó".

Những cảnh nghèo đói được cho là nơi có thể nảy sinh tinh thần phấn đấu vượt khó. Những biệt thự điêu tàn lại được xem như là một nét làm đẹp, tô điểm cho thành phố.  Nhưng những cái nhìn lạc quan tếu và đôi khi tàn nhẫn đó không thể xóa nhòa một nỗi buồn là sự thật: "Bởi vì hình ảnh mà người Istanbul ôm ấp trong mình về thành phố thân yêu trong thế kỷ đã qua là hình ảnh một đứa trẻ nghèo đói, bị thất trận, bị tủi nhục, và cái còn lại, chỉ là điêu tàn".

Trong tác phẩm của mình, Pamuk đã dành nhiều trang mô tả và ca ngợi các nhà văn, các nhà báo, trí thức, những người cố gắng vượt ra nỗi buồn đã và đang xâm chiếm và hủy hoại thành phố. Nhưng dường như, những cố gắng gần như tuyệt vọng của họ, không đủ để cứu lấy một trung tâm văn hóa đang ngày càng trở nên thực dụng, trống rỗng, như một con tàu cũ nát không có phương hướng và hải trình mà lênh đênh theo tháng theo ngày.

Bốn nhà văn lớn nhất của thành phố thì "cả bốn ông nhà văn buồn bã này sống và chết, một mình, chẳng bao giờ lấy vợ". "Riêng Yahya Kemal, nhà thơ lớn lao nhất, và ảnh hưởng nhiều nhất của thành phố Istanbul, suốt cuộc đời, ông từ chối cho xuất bản bất cứ tác phẩm nào của ông".

Tác giả đã bỏ giấc mơ trở thành họa sĩ của mình, cũng như bỏ dở chương trình học về kiến trúc, bởi vì ở Istanbul rất hiếm người có thể sống được bằng việc vẽ tranh, hoặc họ bán tranh cho những người mua chẳng mấy hiểu biết về thứ họ mua về. Có thể nói rằng nghệ thuật cũng đã không còn đất để tồn tại ở một xứ sở phồn hoa về nghệ thuật một thời ấy.

Cái nhìn của Orhan Pamuk về Istanbul hay là số phận của một trung tâm văn hóa nổi tiếng của phương Đông, nằm ở nơi tiếp giáp với phương Tây, có lẽ là một cái nhìn sầu thảm và bi kịch. Đọc tác phẩm, người ta hầu như không thấy lóe lên một tia sáng nào, một niềm vui gì, trong cái khung cảnh buồn thương của Istanbul.

Nhưng, có lẽ nỗi buồn thương ấy là cần thiết, để người ta suy ngẫm về lịch sử thế giới trong thế kỷ 20 và có lẽ là cả thế kỷ 21 này nữa, khi những cuộc đại chiến, sự phân chia thế giới, sự thiết lập các trung tâm văn hóa mới và những sự đìu hiu của các nền văn hóa ngoại vi, tất cả đang ảnh hưởng đến rất nhiều quốc gia ở phương Đông và nhiều nơi trên thế giới.

Cuốn sách của nhà văn được trao giải Nobel văn chương 2006, thực sự là một sáng tạo mang hơi thở văn chương hậu hiện đại, nơi người ta vừa có thể thưởng ngoạn những trang viết của nhà văn như những ghi chép báo chí dày đặc, vừa liên tưởng tới chính cuộc sống của mình, tới thành phố của mình với những giấc mơ tưởng như không có thực, trong những cú va chạm kinh khủng của văn hóa Đông - Tây đã và đang tiếp diễn.

---

N.A

(nguồn Tuần Việt Nam)

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com