Thông báo
Giới thiệu sách
Thống kê truy cập
|
Ảnh hưởng của văn hóa đối với pháp luật(Nguyễn
Trần Bạt) Trước khi đi vào lý giải vấn đề, chúng tôi xin bắt
đầu từ một nền văn hóa được hình thành và phát triển tự nhiên như chính cuộc
sống của con người. Nền văn hóa đó, trước hết, là sản phẩm của tự do. I. Văn hóa - Sản
phẩm của tự doVăn hóa, nhìn chung, hình thành từ sự tích lũy
kinh nghiệm sống của một cộng đồng, một dân tộc, do đó, văn hóa chính là cuộc
sống, nó có mặt trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Quá trình hình thành văn
hóa là một quá trình tự nhiên và khách quan. Từ xưa đến nay, con người luôn
sống và hành động theo những lẽ phải của tâm hồn mình, tức là nhận thức về
"cái tất yếu", kết quả là tạo ra thành tựu. Những thành tựu
đó, cùng với thời gian, đã kết tinh lại và trở thành văn hóa. Một nền văn hóa
hình thành tự nhiên như vậy là một nền văn hóa lành mạnh. Tuy nhiên, điều quan
trọng hơn cần phải thấy là, chất xúc tác cho quá trình hình thành của văn hóa
không gì khác chính là tự do, vì nếu không có tự do thì đời sống tinh thần của con
người không phát triển. Đời sống tinh thần của con người không phát triển thì
không có đời sống văn hóa lành mạnh. Vậy tiêu chuẩn để phân biệt giữa một nền
văn hóa lành mạnh và một nền văn hóa không lành mạnh là gì? Đó chính là tính
đa dạng tự nhiên của cuộc sống. Chúng ta đều biết rằng, bản chất của cuộc sống
chính là tính đa dạng tự nhiên và tự do là điều kiện quan trọng nhất để không
chỉ đảm bảo mà còn phát huy tính đa dạng ấy. Tính đa dạng tự nhiên của cuộc
sống tạo ra một sự cạnh tranh bình đẳng giữa các khuynh hướng của cuộc
sống và sau khi trải qua quá trình sàng lọc một cách tự nhiên, những khuynh
hướng còn lại là những khuynh hướng hợp lý. Nếu con người áp đặt một khuynh
hướng nào đó một cách tuyệt đối thì tức là đã tiêu diệt sự cạnh tranh giữa các
khuynh hướng, cũng tức là tiêu diệt tính đa dạng của cuộc sống. Như vậy, một
nền văn hóa lành mạnh là một nền văn hóa hình thành và phát triển một cách tự nhiên
từ bản chất đa dạng của cuộc sống. Ngược lại, một nền văn hóa không lành mạnh
là một nền văn hóa mà ở đấy người ta sử dụng công cụ nhà nước để áp đặt các giá
trị. Mặt khác, văn hóa thể hiện sự chấp nhận lẫn nhau
và chấp nhận sự bình đẳng giữa các thành tố cấu tạo nên cuộc sống; nói cách
khác, nếu không có sự chấp nhận lẫn nhau và bình đẳng giữa các thành tố cấu tạo
ra cuộc sống thì không có văn hóa lành mạnh. Trong quá trình đi đến sự chấp
nhận đó chắc chắn không thể thiếu sự đấu tranh bình đẳng của các thành tố và do
đó, văn hóa phản ánh cả tính xung đột và tính hòa hợp. Yếu tố đảm bảo sự
hợp pháp của quá trình đấu tranh và hòa hợp giữa các yếu tố của cuộc sống không
gì khác chính là tự do. Tự do đem lại cho con người sự phong phú về nhận thức
và đến lượt mình, sự phong phú về nhận thức sẽ tạo ra sự đa dạng về khuynh
hướng. Khi đó, trong một môi trường có sự bình đẳng giữa các khuynh hướng, con
người được tự do nhận thức và đi đến thỏa thuận. Hơn nữa, hết thảy những gì đẹp
đẽ đều được sáng tạo khi con người tự do, hay khi con người đạt đến trạng thái
tự do và chính những đóng góp đẹp đẽ đó của con người đã tạo ra nền văn hóa
lành mạnh, với tư cách là sản phẩm của tự do. Như vậy, rõ ràng ở đâu nền văn hóa có tính đa
dạng, ở đâu mà sự tồn tại của các khuynh hướng của cuộc sống được tôn trọng,
thì ở đó có tự do và khi đó, văn hóa là hệ quả của tự do. Văn hóa ấy hỗ trợ
cuộc sống và chính là môi trường tinh thần của tất cả những gì còn lại của cuộc
sống. II. Nền văn hóa
phi tự nhiên và những khuyết tật của nóMột nền văn hóa hình thành tự nhiên, đảm bảo tính
đa dạng tự nhiên luôn luôn là lý tưởng, nhưng trên thực tế không phải là không
có những sự can thiệp, áp đặt của con người đối với văn hóa. Sự can thiệp đó,
trên bất kỳ khía cạnh nào, cũng là phi tự nhiên vì khi đó, sự đa dạng tự nhiên
của đời sống bị đơn giản hóa, thậm chí tới mức phi lý. Khi con người bị áp đặt
về nhận thức thì anh ta sẽ phản ánh một cách đơn giản về cuộc sống. Sự phản ánh
cuộc sống một cách đơn giản của con người bằng cả hành vi lẫn tư duy, đến lượt
mình, tạo ra sự đơn giản của nền văn hóa hay tạo ra một nền văn hóa méo mó, phi
tự nhiên. Xin hãy lùi về lịch sử để thấy tính không chừng
mực của con người khi ứng xử với văn hóa. Có thời, người ta sử dụng văn hóa như
một công cụ chính trị, tức là họ tước bỏ yếu tố tự do trong văn hóa và thao
túng nó cho những mục đích chính trị. Vì hơn ai hết, các nhà chính trị đều hiểu
rõ rằng, văn hóa là công cụ điều chỉnh trên phạm vi rộng lớn nhất, tinh tế và
mạnh mẽ nhất đối với nhận thức và ứng xử của con người. Chính vì vậy, họ luôn
có tham vọng thao túng về mặt văn hóa để trên cơ sở đó, tạo ra tính ổn định
trong hoạt động cầm quyền của mình. Tham vọng đó, thực ra, cũng có thể hiểu
được vì đảng chính trị nào cũng tuyên truyền, phổ biến nhận thức chính trị của
mình vào trong đời sống. Sự tuyên truyền trong trường hợp như vậy không phải là
không lành mạnh vì nó là đương nhiên. Tuy nhiên, người ta chỉ có thể đi
theo, cổ vũ hay ưu tiên một khuynh hướng chứ không thể dành cho một khuynh
hướng địa vị duy nhất bằng việc phủ nhận các khuynh hướng khác. Việc dành
cho một khuynh hướng địa vị duy nhất sẽ làm biến mất tính đa khuynh hướng, hay
tính đa dạng tự nhiên của văn hóa, mà xét về bản chất, chính là tiêu diệt tính
đa dạng của đời sống tinh thần của con người. Thực ra, về bản chất, con người không thể tiêu
diệt tính đa dạng của cuộc sống hay nói đúng hơn là nếu tính đa dạng của cuộc
sống bị tiêu diệt thì bản thân cuộc sống cũng không tồn tại nữa, hay là cuộc
sống đã chết về mặt tinh thần. Do đó, nếu trong khi cuộc sống vẫn đa dạng, dẫu
là sự đa dạng một cách bất hợp pháp, mà nền văn hóa không phản ánh được điều đó
thì bản thân nền văn hóa đó không có giá trị. Giá trị của một nền văn hóa phi
tự nhiên, nếu có chăng nữa, thì chính là bằng chứng của việc chính trị đã bóp
méo văn hóa. Nói về một nền văn hóa méo mó, phi tự nhiên không
thể không nhắc đến những khuyết tật của nó. Đó là, một nền văn hóa méo mó biến
con người trở nên đơn giản, đơn giản tới mức hết thảy mọi người đều giống nhau
một cách phi lý vì phải tuân theo một khuôn mẫu định sẵn. Cũng chính nền văn
hóa đó biến con người trở nên cực đoan, cực đoan tới mức trở thành nô lệ về mặt
tinh thần cho một người hay một khuynh hướng nào đó. Nó tiêu diệt tính cá nhân
trong con người bằng việc buộc con người phải tôn sùng chủ nghĩa tập thể một
cách tuyệt đối. Và còn nhiều khuyết tật khác nữa mà phạm vi bài viết này không
thể đề cập hết được. Tuy nhiên, chúng ta có thể kết luận rằng, khuyết
tật căn bản nhất của một nền văn hóa phi tự nhiên là tính đơn giản. Người ta đã
lầm tưởng rằng, tính đơn giản đó có thể tạo ra tính ổn định trong nhận thức của
con người và do đó, tạo ra tính ổn định cho hoạt động cầm quyền mà không nhận
ra rằng, tính đơn giản đó đã làm chết cả một nền văn hóa,
"nhổ rễ" cả một dân tộc ra khỏi “mảnh đất tinh thần” của nó và làm
cho những dân tộc sở hữu những nền văn hóa phi tự nhiên đó trở thành những kẻ
vất vưởng về mặt tinh thần. Nhưng, với tư cách là sản phẩm của cuộc sống, văn
hóa mang trong mình một sức sống mãnh liệt, mãnh liệt đến mức không một tham
vọng chính trị nào có thể tiêu diệt được. Chính vì vậy, khi tình hình thay đổi,
các yếu tố văn hóa bị đè bẹp sẽ trỗi dậy và quay trở lại cuộc sống; hiện nay nó
đang quay trở lại một cách mạnh mẽ với tất cả sự quá tải của nó; đó cũng chính
là bằng chứng về sức sống tự nhiên, bền bỉ của văn hóa. Điều đó chứng tỏ, không
thể và không bao giờ có cái chết của một nền văn hóa, mà chỉ có cái chết của
một dân tộc về văn hóa hay về tinh thần nếu chính trị tiếp tục can thiệp vào
quá trình hình thành và phát triển tự nhiên của văn hóa. III. Hệ thống
pháp luật phi tự nhiên - Hệ quả của nền văn hóa phi tự nhiênVăn hóa chính là cuộc sống; do đó, khi làm biến
dạng văn hóa, những người cầm quyền đã làm biến dạng cả cuộc sống. Hệ thống
pháp luật, để có thể điều chỉnh được cuộc sống, cũng bị biến dạng theo; nói
cách khác, để tương thích với một cuộc sống đã bị biến dạng thì bản thân pháp
luật cũng phải méo mó và sự méo mó đáng sợ nhất của pháp luật chính là sự không
thừa nhận quyền sở hữu của con người. Chúng ta đều biết rằng, sở hữu là một trong những
dấu hiệu quan trọng nhất của một xã hội văn minh, sở hữu cũng là quyền con
người căn bản nhất. ở những nơi mà văn hóa bị thao túng, người ta không thừa
nhận sở hữu tư nhân với hy vọng sẽ biến con người trở nên cao quý hơn vì không
còn những tham vọng vật chất. Nhưng, họ đã lầm; họ đã không nhận ra rằng, loại
bỏ sở hữu tư nhân chính là một trong những hành vi phá hoại mạnh nhất đời sống
văn hóa của con người và rằng, khi tiêu diệt quyền sở hữu hay
ý thức sở hữu của con người đối với những vật cụ thể, thì người ta đã đồng thời
tiêu diệt cả ý thức sở hữu của con người đối với những tài sản tinh thần mà pháp
luật là một trong số đó. Con người không cảm thấy mình là chủ sở hữu của
pháp luật; con người ứng xử một cách thiếu chừng mực với pháp luật và dần dần,
con người chà đạp lên cả những tài sản tinh thần của mình. ở những nơi này,
tham nhũng, dưới nhiều hình thức, tồn tại ngang nhiên và có xu hướng ngày càng
tinh vi hơn. Đó chính là kết quả tất yếu của việc không thừa nhận sở hữu tư
nhân. Từ trước đến nay, người ta vẫn cho rằng, tham nhũng là sự suy đồi về đạo
đức, nhưng theo chúng tôi, nếu coi tham nhũng như là biểu hiện của sự suy đồi
về đạo đức, thì tức là chúng ta đang đơn giản hóa tham nhũng và nếu tiếp tục
với nhận thức như vậy thì chúng ta không thể khắc phục được tình trạng lan tràn
của tham nhũng. Hơn nữa, như đã phân tích trong phần trước,
khuyết tật quan trọng nhất của nền văn hóa phi tự nhiên là tính đơn giản; chính
nó đã tiêu diệt sự đa dạng của đời sống. Chính trong môi trường như vậy, cái
chết về mặt tinh thần của con người đã tạo cơ hội cho sự lộng hành của một
khuynh hướng đã được nhà cầm quyền lựa chọn và thậm chí, còn tạo ra nền văn
hóa lộng hành. Sống trong môi trường đơn khuynh hướng ấy, một số người
tưởng rằng mình đang hít thở bầu không khí tự do mà không nhận ra rằng, mình
đang là nạn nhân của sự lộng hành, nạn nhân của sự độc quyền lẽ phải hay độc
quyền chân lý. Một trong những công cụ mà các nhà cầm quyền dùng để tăng cường,
kiểm soát con người trong môi trường ấy chính là luật pháp. Chỉ có những hệ thống
pháp luật méo mó mới bảo đảm cơ sở tồn tại hợp pháp của sự lộng hành; cũng chỉ
có những hệ thống pháp luật méo mó mới bảo trợ cho những hành vi tham nhũng
tinh thần như vậy. Những hệ thống pháp luật như vậy, do bị
cấy những yếu tố không có khả năng biến thành văn hóa, nên không chỉ tự mâu
thuẫn với nhau mà còn mâu thuẫn với quá khứ và mâu thuẫn với năng lực thực hiện
của xã hội. Những phân tích trên cho thấy ảnh hưởng trực tiếp
của văn hóa đến pháp luật. Tuy nhiên, sẽ là rất phiến diện nếu chúng ta không
phân tích ảnh hưởng ngược lại của pháp luật đối với văn hóa. Với tư cách là
công cụ điều chỉnh hành vi của con người, một hệ thống pháp luật méo mó sẽ tạo
ra những hành vi méo mó. Tư duy cũng là một loại hành vi, và do đó, hệ thống
pháp luật méo mó còn tạo ra cả những tư duy méo mó. Với thời gian, những hành
vi và tư duy méo mó đó trở thành những thói quen méo mó và củng cố thêm cho nền
văn hóa vốn đã méo mó đó. Một dân tộc sở hữu cả nền văn hóa dị dạng lẫn hệ
thống pháp luật méo mó như vậy là một dân tộc đã chết về mặt văn hóa hay chết về
đời sống tinh thần. IV. Hướng tới một
hệ thống luật pháp tiên tiến Những phân tích về một hệ thống pháp luật méo mó
là hệ quả của một nền văn hóa phi tự nhiên cho thấy, một hệ thống pháp luật
tiên tiến phải là một hệ thống pháp luật lành mạnh và được xây dựng trên một
nền văn hóa lành mạnh. Trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, nền
văn hóa lành mạnh ấy còn phải là một nền văn hóa mở. Vậy, làm thế nào để có
được một hệ thống pháp luật tiên tiến như vậy? 1. Tự do - Tinh thần của pháp luật Xã hội nào cũng cần pháp luật như một công cụ
điều chỉnh hành vi của con người trong các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống,
nhưng trên thực tế, con người chịu sự điều chỉnh của văn hóa nhiều hơn là pháp
luật vì con người luôn hành động theo tập quán, theo thói quen... Hơn nữa, ngay
cả trong trường hợp pháp luật được sử dụng để áp đặt hành vi của con người thì
con người vẫn hành động theo thói quen, theo những kinh nghiệm văn hóa của
mình, và do đó, họ vi phạm pháp luật. Vấn đề đặt ra là, pháp luật phải được xây
dựng như thế nào để có thể biến thành văn hóa và đi vào cuộc sống của con
người? Nếu pháp luật không biến thành các giá trị văn hóa thì không có tác dụng
điều chỉnh hành vi của con người? Chúng tôi cho rằng, để làm được như vậy trước
tiên cần phải hiểu tinh thần của pháp luật, đó chính là tự do. Từ thời kỳ Khai sáng, các triết gia đã đi đến kết
luận rằng, pháp luật là những khế ước xã hội, tức là kết quả của hoạt động thỏa
thuận giữa con người với nhau và để tham gia bình đẳng vào quá trình thỏa
thuận, con người cần phải có tự do. Nếu không có tự do thì con người không nhận
thức được cuộc sống, do đó, không thỏa thuận được. Chúng ta đều biết rằng, tính
phức tạp của cuộc sống chính là nguồn gốc của tính phong phú về văn hóa và tính
thực tế của pháp luật. Người không nhận thức được cuộc sống là người không
lường hết được các tình huống của cuộc sống, do đó, không có đủ kinh nghiệm để
tham gia vào quá trình thỏa thuận, là quá trình mà ở đó, người ta hy sinh những
quyền tự do bản năng của mình và tạo ra những quyền tự do mang tính tự giác.
Mặt khác, nếu không có đủ tự do thì con người sẽ vụng về khi thỏa thuận. Kết
quả là, thay vì được lợi từ việc đóng góp phần tự do quý giá của mình, anh ta
sẽ bị thua thiệt. Cảm giác về sự thua thiệt khi tham gia vào quá trình thỏa
thuận sẽ khiến con người cảm thấy pháp luật, thay vì là công cụ bảo vệ quyền tự
do của con người, lại là một thứ nhà tù vô hình đối với con người, hạn chế tự
do của con người. Để tránh tình trạng như vậy, tự do buộc phải là điểm khởi đầu
của mọi quá trình thỏa thuận và cũng chính vì như vậy mà tự do trở thành tinh
thần của pháp luật. Mặt khác, bản chất của cuộc sống là sự đa dạng,
do đó, một hệ thống pháp luật chỉ có giá trị khi nó mang trong mình tính đa
dạng của cuộc sống. Nếu tự do không phải là tinh thần của pháp luật thì pháp
luật không thể chứa đựng trong nó tính đa dạng của cuộc sống. Điều đó cũng đồng
nghĩa rằng, một hệ thống pháp luật sẽ trở nên không tương thích với cuộc sống
khi nó không phải là kết quả của sự thỏa thuận mà là kết quả của việc áp đặt
chủ quan của một người hay một nhóm người. Văn hóa chính là phổ rộng lớn
nhất của pháp luật và không một hệ thống pháp luật nào ngoài văn hóa có đủ năng
lực điều chỉnh tất cả các tình huống của cuộc sống. Chính vì vậy, kinh
nghiệm văn hóa là nền tảng quan trọng nhất để xây dựng pháp luật. Nếu pháp luật
được xây dựng trên những kinh nghiệm văn hóa, tức là thừa nhận cuộc sống chứ
không áp đặt lên cuộc sống, thì tốc độ thâm nhập của pháp luật vào trong cuộc
sống sẽ nhanh hơn, khi đó việc tuân thủ pháp luật trở thành thói quen có chất
lượng văn hóa của con người. Kinh nghiệm về việc xây dựng pháp luật ở các quốc
gia phát triển chỉ ra rằng, pháp luật càng gần với tập quán cũng như thói quen
của con người, càng có chất lượng văn hóa bao nhiêu thì pháp luật càng dễ được
chấp nhận bấy nhiêu. Điều đó hoàn toàn có thể lý giải được bởi nếu chúng ta
không xây dựng pháp luật dựa trên những thói quen, thì con người sẽ cảm thấy
hẫng hụt khi hành động ngược với thói quen. Hành động ngược với thói quen sẽ
tạo ra thói quen mới, đến lượt mình, thói quen mới sẽ mâu thuẫn, phá vỡ các
thói quen cũ và tạo ra mâu thuẫn trong các hành vi của con người. Nói cách
khác, nếu pháp luật không được xây dựng dựa trên những kinh nghiệm văn hóa
thì nó sẽ chia rẽ con người thông qua việc chia rẽ hành vi của con người. Cuối cùng, sở dĩ tự do là tinh thần của pháp luật
còn bởi tự do là công cụ duy nhất có thể điều chỉnh tự do cá nhân trở thành tự
do cộng đồng. Tự do cá nhân là phần sở hữu riêng của từng người còn tự do cộng
đồng là quỹ tự do mà mọi người góp vào. Nếu không có các giá trị văn hóa thì ai
điều chỉnh và kiểm soát quá trình góp tự do? Rõ ràng, góp tự do là kết quả của
sự tự giác. Nếu không có sự giác ngộ về mặt văn hóa thì con người không tôn
trọng các khế ước và tạo ra các vùng bất hợp pháp trong cuộc sống. Các vùng bất
hợp pháp trong cuộc sống vẫn tồn tại ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở những
nền văn hóa không lành mạnh, nơi pháp luật bất lực trong việc bảo vệ tự do của
con người. Do vậy, cách tốt nhất để khắc phục tình trạng bất lực của pháp luật
chính là mở rộng sự giác ngộ về mặt văn hóa của con người. 2. Văn hóa mở - Điều kiện tiên quyết để hội
nhập với pháp luật quốc tế Một nền văn hóa mở, trước hết, cũng là sản phẩm
của tự do. Trong thời đại hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, mỗi một nền văn
hóa, mỗi một quốc gia không thể tồn tại độc lập với thế giới bên ngoài. Điều đó
có nghĩa là, mỗi nền văn hóa, hơn bao giờ hết phải luôn nâng cao năng lực hợp
tác với các nền văn hóa khác, tức là nâng cao tính mở của chính mình. Sự mở của
các nền văn hóa chính là nguồn gốc của trạng thái hòa bình giữa các dân tộc bởi
khi con người hiểu biết và hiểu nhau thì sẽ tránh được rất nhiều sự va chạm.
Chính vì vậy, xây dựng một nền văn hóa có tính mở chính là nâng cao năng lực
tạo ra đời sống hòa bình của nhân loại. Xét trên khía cạnh hẹp hơn, đối với mỗi cộng
đồng, tính mở về văn hóa sẽ góp phần nâng đỡ các cộng đồng lạc hậu đi qua
những khó khăn về mặt nhận thức hay đi qua ngưỡng của sự chậm phát triển. Đã
đến lúc các cộng đồng văn hóa cá biệt phải nhận ra rằng, cơ hội của họ chắc
chắn sẽ đến từ việc nâng cao tính mở của nền văn hóa, vì mở cửa về văn hóa sẽ
giúp một cộng đồng nâng cao năng lực thu nhận các giá trị tiến bộ và loại bỏ
những gì lạc hậu và cản trở sự phát triển, cũng tức là nâng cao năng lực cạnh
tranh của chính cộng đồng đó. Do đó, một nền văn hóa mở là cơ hội hội nhập vào
cộng đồng quốc tế hay cơ hội phát triển của các dân tộc, đặc biệt là các dân
tộc lạc hậu. Mặt khác, mở cửa về văn hóa sẽ tạo ra môi trường
tinh thần cởi mở. Môi trường tinh thần cởi mở chính là môi trường nâng đỡ các
hệ thống luật pháp tham gia vào quá trình hội nhập. Nếu tạo ra một hệ thống
luật pháp không có năng lực hội nhập thì rõ ràng, chúng ta đang bảo vệ tính khu
trú của cộng đồng. Chúng ta đều biết rằng, trong luật học có một ngành luật rất
nổi tiếng và phức tạp - đó là Luật So sánh nhằm phiên dịch sự khác biệt của các
quy định pháp luật của các cộng đồng, các quốc gia khác nhau. Trong thời kỳ
trước những năm 50, Luật So sánh chỉ nhằm so sánh giữa các quốc gia nhưng đến
nay, Luật So sánh còn phải so sánh cả các bộ luật quốc gia và các bộ luật quốc tế.
Một lúc nào đó, khi sự chênh lệch phát triển giữa các quốc gia được giảm bớt
thì những hoạt động quốc tế sẽ được quy định rất giống nhau ở các bộ luật.
Khuynh hướng các điều luật trở nên giống nhau và tốc độ giống nhau của chúng,
không nghi ngờ gì, sẽ bị chi phối bởi các giá trị mở của nền văn hóa. Việc thừa
nhận các giá trị tự do, dân chủ cũng đồng nghĩa là người ta xây dựng luật dựa
trên thỏa thuận của các thành viên của cộng đồng. Nếu là những thành viên của
một cộng đồng lạc hậu thì không thể có những điều luật tiến bộ được. Do vậy, xây
dựng một nền văn hóa mở chính là hạn chế tính lạc hậu của các cộng đồng dân
tộc, để tạo ra khả năng có thể tiến đến các thỏa thuận tiến bộ cũng như khả
năng hợp tác giữa các dân tộc. Kết luậnTừ những phân tích trên, chúng tôi muốn nhấn mạnh
rằng, chính văn hóa điều chỉnh hành vi của con người mạnh hơn cả pháp luật. Do
đó, pháp luật hay mọi khế ước xã hội phải được xây dựng dựa trên những kinh
nghiệm văn hóa chứ không phải chỉ là những kinh nghiệm pháp lý. Để xây dựng một
hệ thống pháp luật với tinh thần như vậy, chúng ta không có sự lựa chọn nào
khác ngoài việc thừa nhận tính đa dạng tự nhiên của cuộc sống và đảm bảo tính
đa khuynh hướng của văn hóa. Đó là một nền văn hóa lành mạnh - nền tảng của một
hệ thống pháp luật lành mạnh. Nhưng, trên hết thảy, cần phải ý thức được rằng, văn
hóa và pháp luật lành mạnh đều phải hướng tới bảo vệ các giá trị tự do của con
người. Chỉ khi làm được như vậy, con người mới đạt đến trạng thái phát
triển thực sự. --- N.T.B (Nguồn: chungta.com) CÁC TIN TRƯỚCCÁC TIN TIẾP THEO |