Toàn cầu hóa và chuyển dịch văn hóa

(Nguyễn Hòa)         
BBT: Ngày 25.11. 2010 Trường Đại học Văn hóa Hà Nội đã tổ chức Hội thảo Quốc tế  với chủ đề: Văn hóa trong thế giới hội nhập. Hội thảo đã thu hút sự tham gia của nhiều nhà nghiên cứu, các học giả đến từ một số quốc gia như Hàn Quốc, Úc, Thái Lan...và từ nhiều Viện nghiên cứu, trường Đại học trên cả nước. Hội thảo cũng nhận được nhiều bản tham luận có chất lượng. Vietvan.vn chúc mừng thành công của Hội thảo và trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc một số tham luận được trình bày trong Hội thảo. Dưới đây là tham luận của nhà NC văn hóa Nguyễn Hòa.

----------------------

Toàn cầu hóa và chuyển dịch văn hóa

Từ việc sử dụng khái niệm chuyển dịch văn hóa là sự thay đổi của các giá trị và chuẩn mực văn hóa trong một lĩnh vực văn hóa hoặc một nền văn hóa, dẫn đến sự thay đổi của một lĩnh vực văn hóa hoặc một nền văn hóa trong khoảng thời gian nhất định, tham luận tập trung phân tích: 1. Vai trò văn hóa và văn minh trong sự chuyển dịch giá trị của cộng đồng văn hóa; 2. Toàn cầu hóa, truyền bá văn minh và sự chuyển dịch theo hướng mở rộng không gian sinh tồn văn hóa của cộng đồng; 3. Chuyển dịch như là sự thích nghi của một số tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển văn minh; 4. Quá trình phóng chiếu giá trị của một số nền văn hóa lớn ra phạm vi thế giới, bài học Nhật Bản; 5. Sự du nhập quan niệm về cá nhân từ những nền văn hóa lấy cá nhân làm bản vị tới những nền văn hóa lấy cộng đồng làm bản vị. 

1. Từ góc nhìn phổ quát, văn hóa trực tiếp liên quan đến mọi ngóc ngách của đời sống xã hội - con người, làm nên phẩm giá, tư cách của mỗi con người, mỗi cộng đồng. Trong diễn trình của nó, để đi từ văn minh nông nghiệp đến văn minh tin học, các bước đi của văn minh trước hết và bao giờ cũng dựa trên nền tảng của văn hóa. Chiếc bàn tính gạt lách cách của người Trung Hoa xưa kia hay chiếc máy tính có thể thực hiện hàng tỷ phép tính trong một giây của hãng IBM ngày nay đều do con người làm ra, giá trị của chúng ra sao phụ thuộc vào phẩm chất nhân văn của người sử dụng. Bởi, máy tính có thể giúp tính toán trong quan hệ mua bán, chế tạo máy bay, ô tô, giúp làm nên các cây cầu, các công trình kiến trúc,... nhưng máy tính cũng có thể giúp làm bom hạt nhân, tên lửa tầm xa để con người sát hại lẫn nhau. Cho nên, với American Airlines, United Airlines thì máy bay Boeing là phương tiện vận chuyển hành khách, còn với những người đã gây nên sự kiện 11.9.2001 thì Boeing lại là phương tiện khủng bố.

Con người phải phát triển văn minh để tăng cường khả năng của mình, để khám phá và chinh phục, để nâng cao mức sống, để hoàn thiện, làm phong phú các phương tiện sống,... nhưng loài người không thể chỉ sinh tồn bằng thành tựu, sản phẩm văn minh. Trên tất cả, văn hóa mới là căn cốt làm nên giá trị riêng của mỗi cộng đồng dân tộc, làm nên sự khác nhau giữa các cộng đồng dân tộc và đòi hỏi phải được tôn trọng. Khi giá trị riêng của mỗi cộng đồng dân tộc gia nhập vào văn hóa nhân loại sẽ làm nên điều Lévi Strauss gọi là “tính đa dạng của các nền văn hóa”, như ông đã viết: “Tính đa dạng của các nền văn hóa con người, có thật trong hiện tại và cũng có thật trong quá khứ, là lớn hơn và phong phú hơn nhiều so với những gì mà chúng ta đã biết tới”(1) và “Tính đa dạng của các nền văn hóa con người không cho phép chúng ta quan sát một cách manh mún. Tính đa dạng ấy tùy thuộc vào sự cô lập của các nhóm ít hơn vào những mối liên hệ thống nhất chúng lại”(2). Qua quan niệm của Lévi Strauss có thể hiểu, cơ sở làm nên mối liên hệ thống nhất các nền văn hóa là cái chung, là các giá trị văn hóa có tính nhân loại phổ biến, cùng vai trò của văn minh. Không thể phủ nhận được ý nghĩa của các thành tựu văn minh, khi chúng đã trực tiếp góp phần tạo nên sự chuyển dịch trong văn hóa nhân loại, thúc đẩy các dân tộc phấn đấu đạt tới mặt bằng chung về trình độ phát triển; song, nếu lấy văn minh làm tiêu chí thay thế văn hóa, con người dễ trượt theo các xu hướng tiêu cực. Sùng bái văn minh, con người sẽ khó có thể lường hết hậu quả. Như chuyện liên quan tới việc CIA truy lùng Osama bin Laden chẳng hạn. Với logich của văn minh, để tìm diệt nhân vật này, Hoa Kỳ đã sử dụng hệ thống theo dõi hiện đại từ không gian, sử dụng máy bay không người lái để tấn công, rồi nghe trộm điện thoại, dùng máy tính phân tích, tổng hợp tin tức và ảnh chụp từ vệ tinh, lập kế hoạch tiêu diệt. Thế nhưng, Osama bin Laden với hệ thống liên lạc cổ xưa như thư tay và chạy bộ, vẫn sống đâu đó, vẫn tiếp tục chỉ đạo hoạt động của Al-Qaeda.


http://www.yfao.gov.cn/UpLoadFile/2007/09/26/200792611273371.jpg


2. Sau mấy thập kỷ, phải nói rằng, quá trình toàn cầu hóa các sản phẩm văn minh công nghiệp, văn minh tin học đã làm thay đổi diện mạo và tính chất của nhiều quan hệ nhân loại. Từ ô tô, máy bay, vô tuyến truyền hình, máy ảnh kỹ thuật số, điện thoại di động,... đến đồng hồ điện tử, tondeur điện, dao cạo râu,... với đủ loại nhãn hiệu khác nhau, với đủ loại giá cả phù hợp với túi tiền từ dân nghèo đến tỷ phú, đã tràn ngập mọi nơi, làm cho bức tranh tiêu dùng của thế giới ngày càng sinh động. Các sản phẩm ấy, với tính hiệu quả và sự hấp dẫn, như đã xóa nhòa các ranh giới địa lý, vượt qua những giá trị mang ý nghĩa bản sắc, làm hình thành kiểu người “sùng bái đồ vật”... Chúng dễ làm liên tưởng tới ngày nhân loại sẽ sống trong một thế giới nhất thể hóa các giá trị.

Cách đây hơn nửa thế kỷ, Lévi Strauss viết: “Cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp phương Tây chỉ nằm trong một thời kỳ bằng khoảng một phần mười nghìn của sự sống đã qua của loài người. Vì thế, nên thận trọng trước khi khẳng định rằng cuộc cách mạng này là nhằm biến đổi hoàn toàn ý nghĩa của sự sống đó”(3). Điều này làm nhớ tới câu chuyện nhà thơ Hữu Nhân kể lần anh đến một gia đình ở xã cuối cùng được sử dụng điện ở Đồng Tháp Mười. Ông chủ nhà bảo, ngày đóng cầu dao điện, bà con trong xã hồ hởi lắm. Đêm đầu tiên, cả xã đèn điện sáng trưng. Nhà ông cũng vậy, để đèn cho thỏa thích. Nhưng đến đêm thì không ngủ được, ông quyết định tắt đèn. Tắt đèn, vẫn không ngủ được. Mấy đêm như thế, ông không hiểu tại sao. Sau nhớ tới chiếc đèn dầu vốn vẫn leo lắt hằng đêm trên bàn thờ ông bà, trước khi tắt đèn điện đi ngủ, ông để một ngọn đèn dầu như trước đây và... ngủ ngon lành. Có thể coi câu chuyện nhà thơ Hữu Nhân kể lại là bằng chứng sinh động chứng minh rằng, sự lan tỏa và sức mạnh của văn minh khó có thể thay đổi nét văn hóa riêng trong tập quán sống của một cộng đồng trong một sớm một chiều. Đơn giản vì, tập quán sống hình thành và được đúc kết theo thời gian, muốn làm cho tập quán đó thay đổi, cũng cần phải trải qua thời gian, khi các thế hệ kế tục thừa nhận sự cần thiết và tính hợp lý của sự thay đổi, để từ đó hình thành nên những tập quán văn hóa mới, và đẩy tới các chuyển dịch văn hóa mới.

Về đại thể, ngày nay không gian sinh tồn văn hóa của con người đã mở rộng hơn trước, một mặt do tính tất yếu, một mặt do con người có khả năng thực hiện. Đến cuối thế kỷ XX, hầu như trên thế giới không còn những nền văn hóa lựa chọn “bế quan tỏa cảng” làm nguyên tắc sinh tồn, ngay nền văn hóa vốn khá tự tin và khép kín như văn hóa Trung Hoa cũng phải mở cửa đến với thế giới. Toàn cầu hóa đã giúp cho các nền văn hóa tăng cường chiều kích riêng, mở ra cơ hội để tiếp xúc, học hỏi, mở mang. Tính chất thực dụng (theo ý nghĩa nghiêm túc của khái niệm này, đôi khi được nhìn nhận như sự thích nghi) của văn hóa trong thời đại mới, đưa tới một số chuyển dịch trong văn hóa dân tộc, nhất là với một số dân tộc ở châu Á, châu Phi. Nên không còn là điều lạ lẫm khi người Nhật Bản đã thay thế ngày tết cổ truyền theo lịch truyền thống bằng ngày tết theo lịch phương Tây. Tương tự như thế, ở một số nền văn hóa ở châu Á đã xuất hiện các tập quán mới trong sinh hoạt như Valentine's Day (lễ tình nhân), lễ Giáng sinh, thậm chí có nơi linh đình tổ chức lễ hội Halloween (ma lộ hình) dù nhiều người tham dự không phải là tín đồ, thậm chí không biết ý nghĩa đích thực của lễ hội đó là gì. Ngược lại, phương Tây cũng tỏ ra gần gũi với châu Á hơn, nhiều người tin theo Phật giáo, rồi chấp nhận, tôn vinh tác phẩm của các tài năng đến từ châu Á như Trương Nghệ Mưu, Lý An, Trần Khải Ca... Và đó cũng là một con đường, một phương cách để loài người xích lại gần nhau, và hiểu nhau hơn. 

Sự chuyển dịch không gian văn hóa sinh tồn cùng nhiều phương tiện hiện đại của văn minh đã kéo theo sự chuyển dịch của không gian thâu nhận, và sử dụng, sáng tạo tri thức. Hôm nay, tri thức không còn là tài sản riêng của nền văn hóa nào, mà là tài sản chung của nhân loại. Dù sinh sống ở nơi nào trên trái đất, con người cũng quyền tiếp nhận, sử dụng tri thức, sử dụng các phát minh khoa học loài người đã tìm ra, tích lũy được. Do đó, sản phẩm sáng tạo của con người, đặc biệt là sản phẩm thuộc về khoa học - công nghệ, không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi khu vực. Thung lũng Silicon (Silicon Valley) không còn là ước mơ, mà được hiện thực hóa ở Trung Hoa, Ấn Độ. Và khi những chiếc ô tô gắn nhãn hiệu Mercedes, Ford... lăn bánh trên các nẻo đường châu Á thì vô số ô tô mang nhãn hiệu Honda, Toyota, Hyundai,... lại đang lăn bánh trên đường phố Washington, London, Paris... Đó là chưa nói sự chuyển dịch còn đưa tới một số tình huống độc đáo, như trong nhiều đội tuyển bóng đá châu Âu đã có cầu thủ là người da màu; và trong khi có người da trắng say mê, chơi nhạc, trình diễn âm nhạc như người da đen, lại có người da đen “tẩy da” để giống người da trắng; rồi trên tất cả, M. Jackson trở thành thần tượng âm nhạc trên khắp năm châu. Rồi các cặp vợ chồng khác màu da. Rồi hôn nhân đồng giới. Thậm chí vài chục năm trước, phẫu thuật chuyển đổi giới tính còn là điều gì đó bất thường, thì ngày nay, như ở Thailand, người ta còn tổ chức thi hoa hậu thay đổi giới tính...

3. Nếu xem các tôn giáo cũng là một kiểu loại sản phẩm văn hóa của loài người ra đời từ thời quan niệm về “hai thế giới” còn thịnh trị, là nơi niềm tin cố kết theo hệ thống giáo lý chặt chẽ và ít thay đổi; thì ngày nay, trước sự vận động phát triển của kinh tế, chính trị, xã hội và công nghệ, các tôn giáo cũng có một số chuyển dịch, như là để thích ứng với thời đại. Nếu Công đồng Vatican II cố gắng giải thích, đi tìm sự phù hợp giữa xã hội - con người hiện đại với các giáo điều Thiên chúa, thì mấy chục năm qua, Giáo hội Công giáo cũng đã có một số chuyển dịch. Chí ít cũng có thể thấy từ chuyến đi của Giáo hoàng Benedict XVI tới nước Anh và hoạt động của ông tại đây. Một bản tin trên RFI nhận xét: gần năm thế kỷ sau khi cắt đứt quan hệ với Giáo hội Anh giáo (1543), Giáo hội Công giáo muốn thông qua chuyến đi của Giáo hoàng làm dịu căng thẳng quan hệ với Giáo hội Anh giáo(4). Và một số môn phái của Phật giáo lại đi theo con đường khác. Như Làng Mai và Thích Nhất Hạnh, điều gì xảy ra lúc Sư ông này viết: “Khi chúng ta theo dõi và tiếp xúc một cách sâu sắc với cuộc đời và giáo lý của Chúa Giêsu, chúng ta có thể thâm nhập vào sự thật của Thượng đế. Tình yêu, sự hiểu biết, lòng can đảm, sự bao dung, là những biểu hiện của cuộc đời Chúa Giêsu. Thượng đế xuất hiện với chúng ta qua Giêsu Kitô... Tôi thấy chúng ta phải quán chiếu mọi hành động và mọi lời dạy của Chúa Giêsu trong cuộc đời Ngài, như một mẫu mực để chúng ta tu tập... Giêsu không phải chỉ là Chúa của chúng ta. Ngài còn là Cha, là Thầy, là Anh, và là chính chúng ta. Nơi duy nhất chúng ta có thể tiếp xúc với Giêsu và nước Chúa là ở trong nột tâm mình... Nếu muốn sáng danh Chúa Giêsu chúng ta phải tập sống sâu xa, thương yêu và hành động bác ái. Ðạo, con đường, chính là Chúa chứ không phải là một vài ý Chúa nói ra”(5) Còn Osho, để “sống trong hiện tại”, ông khởi xướng “thiền tích cực” (active meditation) và quảng bá sex với nhiệt tình khó có thể tìm thấy trong Phật giáo: “Con đường từ dục tới samadhi là con đường dài. Samadhi là mục tiêu tối thượng; dục chỉ là bước đầu tiên. Và tôi muốn chỉ ra rằng những người từ chối thừa nhận bước đầu tiên, người chỉ trích bước đầu tiên, thì thậm chí không thể nào đạt tới bước thứ hai được. Họ không thể nào tiến bộ được chút gì. Điều bắt buộc là phải tiến bước thứ nhất có ý thức, hiểu biết và nhận biết…(6). Không rõ đây là kết quả đốn ngộ hay tiệm ngộ (?), là ý muốn cách tân Phật giáo cho phù hợp với bối cảnh lịch sử mới (?), là thủ pháp để thu hút tín đồ (?),... thì vẫn có thể đặt ra một câu hỏi: Phải chăng với Thích Nhất Hạnh và Osho, các môn phái Phật giáo này đã xa rời bản nguyên của nó?

Với đạo Hồi, dường như thời đương đại của tôn giáo này khá phức tạp, hẳn vì đây là tôn giáo ngay từ khởi nguyên đã kết hợp chặt chẽ đạo và đời, giữa tôn giáo và chính trị. Khi người đạo Hồi vượt khỏi biên giới Arab, họ vẫn còn ở trong một xã hội có trình độ phát triển thấp, tôn giáo mới đã tăng sức mạnh, nghị lực, tài nghệ cho họ trong cả quân sự lẫn kinh tế. Cuối thiên niên kỷ I, khi phần châu Âu của thế giới còn đang “ngủ yên” thì ở bán đảo Arab và các vùng đất bị chinh phục đã phát triển với nhiều thành tựu về y học, hóa học, toán học, nghệ thuật. Rồi người châu Âu đến Arab, từ các cuộc Thập tự chinh đến chiến dịch quân sự do Napoléon Bonaparte tiến hành, kết hợp với các biến động trong nội bộ,... thế giới Hồi giáo đã có nhiều thay đổi, và tuy cùng một tôn giáo mà ở đó lại thiếu thống nhất về đường hướng phát triển. Sau những cuộc xung đột Arab - Israel, Palestine - Israel, đặc biệt sau hai cuộc chiến tranh ở Iraq do Hoa Kỳ tiến hành, thế giới Arab với linh hồn là Hồi giáo cũng có các chuyển dịch phức tạp.

Với Nho giáo, năm 1985, L. Vandermeersch viết cuốn sách Thế giới Hán hóa ngày nay, trong đó xác định: các “con rồng châu Á” sở dĩ vươn dậy được là do vai trò của văn hóa Hán, và của chữ khối vuông. Cuốn sách được một số nhà nghiên cứu châu ở Á hào hứng đón nhận, trong đó như có hàm chứa lòng tự hào và niềm tin rằng, các giá trị tinh thần của Nho giáo sẽ giúp vươn lên trở thành “rồng” mà vẫn giữ được cốt cách văn hóa. Dần dà lại thấy, các hội nghị quốc tế về Nho học được tổ chức, chữ khối vuông được đề cao, Học viện Khổng Tử thành lập ở nước ngoài (theo khongtu.com, Học viện Khổng Tử đầu tiên được xây dựng tại Seoul năm 2004, đến cuối năm 2008, đã có 249 Học viện được xây dựng trên 78 quốc gia, vùng lãnh thổ. Trong khi đó, Hội đồng Anh sau hơn 70 năm mới có 230 chi nhánh ở nước ngoài, Viện Goethe sau hơn 50 năm mới có 128 chi nhánh ở nước ngoài). Và lại thấy các thông tin như: Tết Trung Quốc cổ truyền cách tân, Cởi áo giữa phố tìm chồng, Giang hồ Trung Quốc ép nữ sinh khoả thân giữa đường phố, Trung Quốc: Công khai sex shop và các dịch vụ tình dục, Nữ sinh “quyết tử” với thầy giáo ngay trong giờ học... thì khó có thể không nghĩ rằng, ở đất nước sản sinh ra Nho giáo, đã xuất hiện một số hiện tượng xa lạ với Nho giáo. Cùng với các chuyển dịch nằm ngoài sự chi phối của văn hóa Nho giáo ở Nhật Bản, Hàn Quốc, ở Việt Nam,... 25 năm sau ngày cuốn sách Thế giới Hán hóa ngày nay ra đời, liệu có thể đặt câu hỏi: ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo đang trở nên mờ nhạt? Vì dẫu thế nào thì với tư cách là hệ thống quan điểm chính trị, đạo đức và tôn giáo ra đời cách đây hơn 2000 năm và đã được bổ sung, hoàn thiện trong những thời kỳ lịch sử sau này, Nho giáo vẫn khó có thể tồn tại trong xã hội hiện đại nếu không có sự chuyển dịch.

4. Trong lịch sử, các nền văn hóa - văn minh như của người Maya, người Aztec ở Trung Mỹ, văn hóa - văn minh Andes ở Nam Mỹ,... rực rỡ một thời rồi lụi tàn. (Ở đây, khái niệm “văn hóa - văn minh” dùng chỉ sự thống nhất giữa văn hóa và văn minh trong một chỉnh thể, cùng vận hành trong không gian và thời gian lịch sử). Chúng không chỉ lụi tàn về văn minh mà còn nhạt nhòa rồi biến mất về văn hóa, một mặt do chiến tranh tương tàn trong nội bộ, một mặt do điều kiện sống, đặc biệt là còn do không đủ khả năng chống lại sự tàn phá của những người thực dân đến từ châu Âu. Nhìn từ tính nổi trội thì hàng nghìn năm trước, văn hóa - văn minh Trung Hoa, văn hóa - văn minh Hy Lạp - La Mã từng là các điểm sáng của văn hóa - văn minh nhân loại. Tuy nhiên, tác động từ các nền văn hóa - văn minh này để đẩy tới sự chuyển dịch ở các cộng đồng văn hóa khác thường dừng lại trong phạm vi khu vực. Vả lại, tác động đó không phải khi nào cũng là kết quả của quan hệ giao lưu tự nhiên, nhiều khi là kết quả của sự áp đặt, cưỡng bức, tạo ra thái độ đối đầu (tự phát hoặc tự giác) về văn hóa, như là hành động khẳng định sự tồn tại có chủ quyền và có ý nghĩa của mỗi cộng đồng văn hóa. Khi văn minh Trung Hoa và văn minh Hy Lạp - La Mã bị vượt qua, có lẽ chỉ người Trung Hoa vẫn giữ gìn, tiếp tục phát triển văn hóa riêng của mình; còn ở nơi đã khai sinh ra nó, ngoài các công trình kiến trúc, các tác phẩm nghệ thuật, văn hóa Hy Lạp - La Mã xưa kia hầu như chỉ tồn tại như những vang bóng. Từ giữa thế kỷ XX trở đi, thời của các cuộc chiến tranh chinh phục thuộc địa đã qua và không phải khi nào các pháo thuyền lượn lờ bên bờ biển, bắn vài loạt đại bác là có thể làm cho chính quyền và cư dân bản địa sợ hãi. Trình độ tự ý thức về sự tồn tại với tư thế riêng của cộng đồng văn hóa đã đạt tới một tầm mức cao hơn. Nhưng rồi, với sự phát triển của kinh tế hàng hóa và hệ thống truyền thông, các trung tâm lớn của thế giới đã có hai “vũ khí” hữu hiệu để mở rộng ảnh hưởng.

Đối với các quốc gia lớn trên thế giới, toàn cầu hóa là thời cơ để họ phóng chiếu những giá trị văn hóa riêng, thậm chí như muốn biến cái riêng của mình thành cái chung của nhân loại. Đi đầu trong sự phóng chiếu này là văn hóa Hoa Kỳ, với “đột phá khẩu” thường là tiếng Anh thương mại, là hàng hóa với quần áo bò Levis, mũ bóng chày, Cocacola, sandwich, cửa hàng McDonald, thịt gà Kentucky, Rock and Roll, Rap, Hip-hop, Elvis Presley và phim Hollywood, ... Cường độ, biên độ của quá trình phóng chiếu mạnh và rộng đến mức có người coi quá trình “quốc tế hóa văn hóa” là quá trình “Mỹ hóa”. Rồi, trong khi một số quốc gia còn đang loay hoay tìm kiếm, lựa chọn thì ngoảnh đi ngoảnh lại, văn hóa Hoa Kỳ đã hiện diện trong sinh hoạt xã hội, lớp trẻ náo nức học theo, nhiều người coi đó là tiêu chuẩn của hiện đại. Cùng với Hoa Kỳ, một số quốc gia khác cũng tăng cường quảng bá văn hóa, như ở Việt Nam, có thể thấy sự hiện diện đồng thời của Hội đồng Anh, Viện Goethe, Trung tâm văn hóa Pháp, Nhà Văn hoá - Khoa học Liên bang Nga, Trung tâm văn hóa Hàn Quốc, Trung tâm Thông tin Văn hoá Nhật Bản, và đang có kế hoạch thành lập Học viện Khổng Tử...

Năm 1912, một sự kiện tưởng là bình thường đã xảy ra trong quan hệ Hoa Kỳ và Nhật Bản. Đó là việc Thị trưởng Tokyo lúc ấy là Yukio Ozaki đã gửi tặng nhân dân Washington DC 3000 cây anh đào. Từ đó, cứ đến tháng ba hàng năm là hàng nghìn cây anh đào lại nở hoa rực rỡ tại Công viên West Potomac. Vào thời gian này, người Hoa Kỳ từ mọi nơi lại đến đây để ngắm hoa và dự Lễ hội Hoa anh đào Quốc gia. Vậy là loài hoa “quốc hồn, quốc túy”, tượng trưng cho tâm hồn, cốt cách của người Nhật Bản đã được “cấy” trên đất Hoa Kỳ. Cứ coi đây là động thái ngoại giao, thì điều này cũng làm cho người Hoa Kỳ thích thú, chấp nhận một sản phẩm văn hóa - tự nhiên đến từ Nhật Bản. Với từng bước đi như thế, những sản phẩm văn hóa Nhật Bản như Judo, Karate, Manga (truyện tranh), Anime (phim hoạt hình dựng theo truyện tranh), Ikebana (nghệ thuật cắm hoa),... đã gia nhập văn hóa thế giới, được nhiều người hâm mộ và học tập. Đặc biệt năm 1971, khi ông Daisuke Inoue chế tạo ra Karaoke - “thiết bị giúp con người biết chịu đựng lẫn nhau”, thì một phát minh của Nhật Bản đã được cả thế giới thích thú sử dụng mà có lẽ đến hôm nay, không ít người vẫn ngỡ đó là sản phẩm của văn minh phương Tây. Tuy nhiên, lại có một số sản phẩm của văn hóa Nhật Bản như trà đạo, kịch Nô,... có ít người học theo. Chủ yếu vì đó là các sản phẩm văn hóa chỉ những ai sinh ra, lớn lên trong không gian văn hóa Nhật Bản đặc thù mới có thể cảm thụ hết cái hay, cái đẹp riêng của các giá trị văn hóa này.

Từ giữa thế kỷ 19, dưới thời Minh Trị Thiên hoàng - Mutsuhito Đại đế, Nhật Bản bắt đầu quá trình canh tân để trở thành một cường quốc. Trong phim Võ sĩ đạo cuối cùng (The Last Samurai), lúc bắt đầu sự nghiệp, Mutsuhito Đại đế nói: “Tổ tiên ta đã cai trị nước Nhật này từ 2.000 năm qua. Trong suốt thời gian đó, chúng ta đã ngủ vùi. Đêm qua, khi ngủ ta đã nằm mơ. Mơ thấy thống nhất đất nước. Mơ thấy một đất nước hùng mạnh, độc lập và hiện đại”, khi sự nghiệp có kết quả, ông cảnh báo: “Giờ đây chúng ta đã thức giấc. Chúng ta nay đã có đường sắt và quần áo phương Tây. Thế nhưng, chúng ta không được phép quên chúng ta là ai, đến từ đâu”. Nếu đúng vậy, hẳn là Mutsuhito Đại đế đã dự liệu trước tình huống: sự phát triển theo “kiểu phương Tây” có thể đưa Nhật Bản chệch khỏi truyền thống. Nhưng, đó là điều khó tránh khỏi. Hiện tại, Nhật Bản vẫn là quốc gia chọn con đường “Tây hóa” mà giữ gìn được bản sắc riêng, người Nhật Bản vẫn nhớ mình là ai, vẫn tự hào và bảo tồn truyền thống,... thì văn hóa Nhật Bản vẫn chuyển dịch, trong đó có các chuyển dịch ngoài ý muốn. Nếu như phụ nữ Nhật Bản đã có vị trí bình đẳng hơn so với nam giới, không còn chỉ là của “bên trong” (uchi no), nếu nền âm nhạc hiện đại Nhật Bản đã có dòng riêng với Japanese pop (J-pop),... thì trong khi máy ảnh Canon, đồng hồ Senco, ô tô Toyota, đồ điện tử Sanyo đang thống trị trên “sân khách” thì tại “sân nhà”, người Nhật Bản lại phải đương đầu với giáo phái Aum, với tệ nạn Enjo Kosai, với tình trạng Karoushi... Thế là, một cường quốc có ý thức rất cụ thể, rõ ràng về đạo lý và giá trị dân tộc cũng khó có thể lường trước được tác động ngược chiều từ quá trình hội nhập kinh tế, văn hóa với thế giới.

5. Giao lưu và truyền bá văn hóa vốn là điều bình thường trong quan hệ văn hóa của nhân loại. Trong quá trình giao lưu và truyền bá, các giá trị phù hợp sẽ được tiếp nhận - biến đổi, những giá trị không phù hợp sẽ bị đào thải. Nhưng, khi văn hóa bị đồng nhất với văn minh, hoặc chủ thể tiếp nhận thiếu khả năng phân biệt và lựa chọn, sẽ đưa tới một số chuyển dịch có tính đảo lộn. Lịch sử tiếp nhận - biến đổi văn hóa giữa các cộng đồng cho thấy, con người chỉ có thể “cấy” văn hóa khi “mầm” văn hóa được cấy ghép phù hợp với văn hóa chủ thể; ngược lại nếu không phù hợp, quá trình tiếp nhận - biến đổi không thể diễn ra, hoặc có thể vẫn diễn ra, song thường đưa tới kết quả lạ, nếu không nói là quái dị (để hình dung, có thể liên tưởng tới việc người ta chỉ có thể ghép mầm táo Thiện Phiến lên một gốc táo, chứ không thể ghép lên gốc xà cừ, hay gốc mít!). Trong truyền thống của nó, về cơ bản, văn hóa phương Tây thường lấy cá nhân làm “bản vị”, văn hóa ấy có quan niệm riêng, đi trước một số nền văn hóa khác trong quan niệm về cá nhân, dân chủ. Từ góc độ nhất định có thể nói, đa số sản phẩm vật chất của văn hóa và văn minh phương Tây trước hết nhằm đáp ứng một cách rộng rãi nhu cầu của cá nhân, trong điều kiện cá nhân đã được trang bị hiểu biết cơ bản về quyền lợi và nghĩa vụ của cá nhân trong quan hệ với cộng đồng. Thêm nữa, nhiều sản phẩm đó gắn liền với sự phát triển kinh tế ở trình độ cao, giá trị kinh tế của chúng cũng khác, nên dù thu nhập cao thì không phải bất cứ cá nhân nào cũng có khả năng mua sắm. Đi cùng với toàn cầu hóa, các sản phẩm kể trên tỏ ra rất có “ma lực” trong khi kích thích con người thỏa mãn nhu cầu, nhất là các nhu cầu vốn đã và đang bị hạn chế, như nhu cầu về sex, nhu cầu thỏa mãn vật chất, nhu cầu được tự do lựa chọn cách sống. Thật ra, ngay ở nơi sản sinh ra sản phẩm văn hóa và văn minh đó, tình hình cũng không hẳn sáng sủa, mà cũng nảy sinh một số vấn đề riêng của nó. Thời còn giữ cương vị tổng thống Hoa Kỳ, ông B. Clinton từng viết: “Nhiều truyền thống văn hóa của dân tộc ta đang bị tấn công, nhiều khi do chính những trò giải trí của chúng ta”(7).

Du nhập vào những quốc gia và cộng đồng văn hóa chưa có quan niệm chính xác, đầy đủ và hoàn chỉnh về cá nhân, chưa có ý thức hoàn chỉnh về luật pháp và chấp hành luật pháp, các sản phẩm văn hóa - văn minh ấy tạo ra nghịch lý giữa việc thỏa mãn nhu cầu của con người - trong tư cách là cá thể xã hội, với trình độ phát triển chung của xã hội. Nghịch lý đó hoàn toàn có thể làm nảy sinh mâu thuẫn giữa việc con người tìm mọi cách thỏa mãn nhu cầu dưới khẩu hiệu “quyền cá nhân” với khả năng có giới hạn, với các tiêu chí có vai trò định tính tư cách con người trước xã hội. Mâu thuẫn không được giải quyết, hậu quả sẽ khôn lường. Còn khôn lường hơn khi bộ máy tổ chức, quản lý và điều hành xã hội không kịp thời nắm bắt, không kịp thời hoạch định, không có đối sách thích hợp, tự thị về vai trò mà sản xuất các “hư cấu văn hóa chủ quan” áp đặt lên xã hội. Khi “quyền con người” được hiểu theo nghĩa tự do thái quá hay cực đoan, con người có thể xa rời trách nhiệm xã hội, bột phát hành vi nằm ngoài khuôn khổ của luật pháp. Và tình trạng này không có nghiệm ngoại lai, ngay tại Hoa Kỳ, thì trước các vấn nạn của tinh thần cá nhân cực đoan, B. Clinton đã từng phải cảnh báo: “Thiếu tinh thần trách nhiệm, không một xã hội tự do nào có thể phồn thịnh được... Khi thiếu tinh thần trách nhiệm, quyền tự do cá nhân chỉ là tính ích kỷ”(8) (B. Clinton, Sđd, tr.68). Trong tình huống như thế, với những nền văn hóa vốn lấy cộng đồng làm “bản vị”, xã hội chưa tạo ra các điều kiện để cá nhân ra đời một cách hoàn chỉnh, lại chưa làm quen, chưa thâu nạp một cách bản chất về nội hàm các khái niệm cá nhân và dân chủ, thì nhiều vấn đề phức tạp có thể xảy ra. Và sẽ khó có thể lường hết hậu quả nếu trong việc tổ chức, quản lý, định hướng sự phát triển của xã hội, lại thiếu vắng bản lĩnh và sự tỉnh táo văn hóa.

Tóm lại, từ bất kỳ góc độ tiếp cận nào, mỗi nền văn hóa dân tộc đều chứa đựng trong nó một số giá trị có tính nhân loại phổ biến, dù đã định hình hay mới chỉ là dấu vết sơ khai. Song, trong quan hệ giữa các nền văn hóa, cần nhận thức trước hết là sự khác nhau, tính nhân loại phổ biến dù quan thiết đến mức độ nào cũng không thể thay thế tính dân tộc - yếu tố giúp khẳng định đó là văn hóa của dân tộc này chứ không phải là văn hóa của dân tộc khác. Đây là nền tảng làm nên điều chúng ta thường gọi là “căn cước văn hóa dân tộc”. Toàn cầu hóa đang đưa lại nhiều cơ hội để mỗi nền văn hóa dân tộc phát triển và nâng cao trình độ văn minh; đồng thời toàn cầu hóa cũng có thể đẩy tới một số chuyển dịch có khả năng triệt tiêu “căn cước văn hóa dân tộc”. Nhiều nền văn hóa dân tộc trên thế giới đang phải đối mặt với tình trạng này và ở Việt Nam, sau hơn 20 năm của sự nghiệp đổi mới, chuyển dịch văn hóa cũng đang diễn ra với những sắc thái, sự kiện, hiện tượng phức tạp, mà hệ lụy nhãn tiền là sự lên ngôi của “con người ích kỷ” và nhiều “phản giá trị”. Về vấn đề này, xin sẽ trình bày trong một dịp khác.

  ---------

1. Lévi Strauss - Chủng tộc và lịch sử, Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, H.1996, tr.14.

2. Lévi Strauss, Sđd, tr.18

3. Lévi Strauss, Sđd, tr.71

4. Vatican muốn hòa dịu với Giáo hội Anh giáo qua chuyến đi của Giáo hoàng, RFI ngày 17.9.

5. Thích Nhất Hạnh - Bụt trong ta, Chúa trong ta, langmai.info.

6. Dẫn theo: Hoàng Liên Tâm - Hiện tượng Osho, thuvienhoasen.org.

7. B. Clinton - Giữa hy vọng và lịch sử (sách tham khảo), NXB Chính trị Quốc gia, H.1997, tr.19.

8. B. Clinton, Sđd, tr.68.          

---

NH - 10.2010  

 
 

Ý kiến phản hồi

Gửi ý kiến phản hồi

Họ và tên
Email
Nội dung
 
 

CÁC TIN TRƯỚC



 
Copyright © 2009 - 2017 Viết Văn - Khoa VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - Đại học Văn hóa Hà Nội và các tác giả!
® Ghi rõ nguồn "vietvan.vn" khi bạn phát hành lại thông tin từ website này.
KHOA VIẾT VĂN - BÁO CHÍ - TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI
Địa chỉ: 418 La Thành, Đống Đa, Hà Nội - Điện thoại: 04 8511971 ext 132;
email: sangtacvanhoc@gmail.com