|
Sớm nay, nhà NCPBVH Chu Văn Sơn gửi qua email cho tôi tập thơ đang dạng bản thảo của Đỗ Trọng Khơi và Lời giới thiệu của anh về tập thơ này với mấy lời giục tôi sớm đọc. Đang bận, nhưng nể bạn, tôi đọc ngay.
Đọc Lời giới thiệu trước rồi mới đọc vào thơ. Thế là bị hút ngay vào việc đọc. Và đọc một mạch. Đọc xong, tôi nói với Chu Văn Sơn hai điều cảm nhận sớm: 1)Thơ lục bát của chúng ta, tính từ sau Nguyễn Bính có Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn, nay mới có người tiếp nối xứng đáng là Đỗ Trọng Khơi; và 2) đọc xong thấy thương Khơi quá, với Khơi, thơ là toàn bộ năng lượng sống của Khơi, nếu không có thơ liệu Khơi có sống được không?...X in trân trọng giới thiệu Chùm thơ của Đỗ Trọng Khơi và bài Giới thiệu tập thơ của Chu Văn Sơn viết cho lần xuất bản sắp tới đây (Văn Giá).
***
Sống ở thế gian bằng lục bát (Lời Tựa tập thơ lục bát Ở thế gian của Đỗ Trọng Khơi)
CHU VĂN SƠN
Thi đàn thời nào cũng vậy, người yêu thơ thì nhiều, người sợ thơ thường ít. Mà chừng như, chưa biết sợ thơ là chưa thật tới thơ, thì phải. Kẻ nặng nghiệp thơ sớm biết sợ hơn ai hết. Bởi hơn ai hết, họ thấm thía rằng gốc của thơ đâu phải chuyện chế câu tạo chữ, trái lại, thơ là phần người được gửi vào ngôn ngữ, là phận người cất thành tiếng, thậm chí, là mệnh người kí trú trong lời. Thơ đòi người thơ phải chưng cất chất người trong mình mà tinh luyện thành ngôn từ. Không thế, dù hoa mĩ đến đâu, cái làm ra cũng chỉ là mớ câu chữ yểu mệnh. Đã nặng nghiệp, thì dấn thân vào thơ hay trốn chạy khỏi thơ, đều khốn khổ như nhau. Với Đỗ Trọng Khơi, dường như thơ mệnh hệ hơn thế cũng thiết thực hơn thế. Thơ là chiếc phao cứu sinh của anh. Thắt ngặt trong cõi đời, anh bơi vào cõi chữ. Cõi chữ hư huyền vô bờ bến lại là miền sống thực của Khơi. Chiếc phao ấy đã cùng anh lênh đênh suốt phận người trong thăm thẳm cõi chữ. Số mệnh khắc nghiệt với anh tới đâu, thơ lại bù chì cho anh tới đấy. Thơ không là chốn dung thân duy nhất, nhưng là cuộc gửi thân cuối cùng! Bấy nhiêu năm thầm lặng sống thơ, miệt mài làm thơ, hồn Khơi ở trọ trong chữ, thường trú nơi chữ, hay đã đồng thể với chữ ? Câu hỏi như thế liệu có cần đặt ra nữa không, một khi thơ và Khơi đã nương náu trong nhau tự bao giờ rồi ?
*
Thơ là trải nghiệm từ những lăn lộn, va xiết trong trường đời. Thơ còn là những chiêm nghiệm về thế sự nhân sinh. Thơ trải nghiệm thường giàu chất sống với những cảm giác, cảm xúc tươi nguyên nhựa đời. Thơ chiêm nghiệm lại nặng đồng cân bởi những suy tư thâm trầm nhằm kết lắng bao nỗi đời thành những lẽ đời. Thơ Khơi thuộc về chiêm nghiệm hơn là trải nghiệm. Đó là lựa chọn của một sở thích cũng là lựa chọn của một số phận. Chiêm nghiệm bằng thơ chính là cách thế sống của Khơi. Bằng cách ấy, Khơi đã xuôi ngược một đời trong cõi chữ. Nhỏ nhoi trên chiếc xe lăn, tù túng ở chốn quê, quẩn quanh góc đời hẹp. Nhưng bằng mối bận tâm sâu xa, Khơi vẫn lặng lẽ mở hồn mình vào thế gian vô cùng, kiên nhẫn mở tầm nhìn bao quát cõi nhân sinh. Cái nhìn ấy từ cái tôi bé nhỏ đã giúp Khơi vượt lên sự bé nhỏ của cái tôi. Khơi suy cảm về phận mình trong thế gian, phận người trong trời đất. Ta là ai ? Ta từ đâu và tới đâu ? Ta có nghĩa lí gì không trong cõi nhân gian này ?... Những câu hỏi thiết cốt từng dằn vặt con người mọi thuở, đến nay dường như cũng không buông tha Khơi. Trầm sâu trong những suy tư như thế, mỗi cá nhân có cơ ngộ ra những lẽ đời bình dị sâu xa sau những nỗi đời bộn bề phiền tạp. Cá nhân có dịp ngộ ra những cái có - cái không, cái còn - cái mất, những thực - hư, thật - giả, được - thua, thành - bại, may - rủi, sướng - khổ, nghĩa lí - vô nghĩa lí... trong cuộc thế phù du này. Theo mạch ấy, người có quan niệm riêng về giá trị sẽ có thể hình thành một nhân sinh quan khác lạ cho mình và không chỉ cho mình. Không có, thì người ta sẽ gặp và sẽ dừng ở những điều về bản thể luận và vũ trụ luận mà bao người đi trước đã từng băn khoăn. Không là triết nhân, Khơi đâu có tham vọng về triết mà ta đòi hỏi những ý tưởng mới cho triết học nhân sinh. Bù lại, Khơi có niềm băn khoăn chân thực của một thi sĩ về những lẽ nhân sinh ấy. Đáng nói, là băn khoăn từ chính đời mình, chính phận mình. Nhờ băn khoăn, Khơi ngộ ra, Khơi thấm thía, Khơi có được tâm thế bình thản để sống giữa những dâu bể, sống với cái sắc sắc không không của cõi này và bình thản ngay cả khi đôi ba lần đã thập thò trên ngưỡng cửa của Hư vô. Băn khoăn, thấm thía ấy chính là nguồn thơ Ở thế gian. Nó đã đem đến cho Khơi những câu thơ khiến người đọc không khỏi giật mình: Ta- phiến đá sống bên đường/ trái tim lặng lẽ thấm hương sắc mùa, Mà đời con nước chân cầu / mà tôi trong cuộc chơi câu bóng mình, Mà giờ thiếu một ta thôi/ bao năm ta lạc ta rồi. Còn em ? Từ ngày biết có chiêm bao/ dắt tay hư ảnh tìm vào gọi tên, Vầng trăng đáy nước ngấn vàng / từ lâu ta đã để tang ta rồi, ... Chả riêng gì những suy tư về bản thể như thế, mà về tạo vật, về cõi người, Khơi cũng có những chiêm nghiệm khiến ta bất ngờ: Hương thơm chẳng nói chẳng rằng / cứ dìu xuân lại ăn năn bên vườn, Xanh về thì vàng ra đi / nhẹ nhàng lá chẳng bấc chì gì đâu, Bây giờ trời cuối một thu / gió như ngàn lưỡi gươm mờ trong sương... hay: Ta về ở ẩn trong ta / tấm thân cát bụi như là... thế thôi, Men dòng nhật nguyệt ta đi / bao nhiêu sắc sắc đã về không không... Men theo mạch ấy, Khơi đã gặp những bậc hiền nhân trong Phật Kinh, những tiền nhân trong thơ thiền Lý Trần, gặp dấu hình còn ấm không gian của những bậc đàn anh như Hàn Mặc Tử, Bùi Giáng, Trịnh Công Sơn, Nguyễn Duy... Nhưng, Khơi không bị rối lòng trước dấu người trước. Khơi nương theo, Khơi đồng hành. Dẫu có lúc lẫn vào những hình bóng ấy, nhưng Khơi vẫn là Khơi với những chiêm nghiệm từ cảnh mình, phận mình, bằng giọng mình. Không thế, làm sao câu chữ có được hồn riêng. Đọc Khơi, thấy tâm hồn anh ngậm ngùi mà tâm trí anh bình thản. Bình thản mà ngậm ngùi, ngậm ngùi mà luôn bình thản, dường như đó chính là điệu hồn của Khơi! Khơi đã phổ trọn vẹn điệu hồn ấy trong mỗi lời thơ Ở thế gian này: Ngợ hư vinh cãi phù du/ trong binh boong tiếng chuông chùa thu không, Mai kia bóng rụng hình rơi/ sống vào cõi chết nhẹ rời bước đi, Một mai cát bụi về trời / nước - non ai gặp bóng tôi cất giùm... Thế nên, trong cõi chữ bao la ấy, người ta vẫn thấy một bóng hình riêng của Khơi và chắc sẽ cất giùm anh bóng hình ấy.
*
Thơ lục bát đã thuộc về hồn Việt. Hàng ngàn năm nay, lục bát đã thăng trầm cùng người Việt, thủy chung cùng tiếng Việt. Vào cái thời thiên hạ bị cuốn mạnh vào nhịp sống nhanh này, ngỡ lục bát rất dễ bị đánh rớt, ngỡ lục bát đã đuối sức đeo bám hồn người. Nào ngờ lục bát vẫn dồi dào sung sức. Sự xuất hiện của hàng loạt tập thơ thuần lục bát gần đây thêm một lần nữa minh chứng điều đó. Tập này của Đỗ Trọng Khơi cũng tuyền lục bát. Lục bát đã nâng đỡ hồn Khơi, Khơi cũng thật nâng niu lục bát. Có thể nói lục bát đã giúp Khơi sống chậm Ở thế gian này. Người ta có thể kể, có thể tả, có thể giãi bày, có thể triết lí, có thể hài, có thể quậy... bằng lục bát. Nhưng, dùng độc một chiêu nào trong đó không thôi đều khó. Bởi nguồn lực không sung thì dễ hụt hơi. Nên ít ai diễn độc chiêu, mà thường phải liên tục đổi chiêu. Lục bát của Khơi dường như nghiêng hẳn về một lối: chiêm nghiệm triết lí. Vẫn phải tựa vào kể, vào tả, vào than,... nhưng suy nghiệm, triết lí mới là dáng điệu căn bản của lục bát Đỗ Trọng Khơi. Vì thế đọc thơ Khơi, thấy trĩu nặng tâm sự, tư tưởng. Cho đến bây giờ, không ít người vẫn ngộ nhận rằng phải tư biện "ra mặt" thì mới là thơ tư tưởng. Người ta quên rằng tư tưởng trong nghệ thuật là quan niệm ẩn sau thái độ. Mỗi thái độ thẩm mĩ thực sự đều chứa trong nó một quan niệm thẩm mĩ. Chính những quan niệm ấy là tư tưởng của chủ thể. Còn thứ ngôn ngữ tư biện chỉ là một trong nhiều cách để thể hiện tư tưởng đó thôi. Dạng ẩn sâu mới là dạng thâm hậu của tư tưởng thơ và thơ tư tưởng chứ đâu phải dạng "ra mặt". Người sớm ngộ điều này sẽ sớm có hòa giải: vừa tăng hàm lượng tư tưởng cho thơ mình, vừa tránh được lối "tư tưởng ra mặt". Chọn lối suy nghiệm, thơ thật cheo leo. Bởi nghiêng về suy nghiệm thì thơ dễ cuốn theo lí, mạch thơ dễ thành lí sự, giọng thơ dễ thành thuyết lí, lời thơ, hình ảnh thơ dễ ôm đồm luận lí. Thêm nữa, chỉ thuần chơi một thể vốn nặng căn duy cảm như lục bát, thì khó tránh khỏi khô khan, nặng nề, đơn điệu. Lục bát rất dễ... thất bát. Rất may, các ý tưởng triết lí của Khơi đã từ chối những hình thức tư biện. Vả chăng, tâm sự chân thật của Khơi tự nó đã là một mối băn khoăn đẫm những triết lí về phận người, kiếp người trong thế gian rồi, có cần chi phải "tư tưởng ra mặt" đâu. Thơ bày tỏ mong được sẻ chia, chứ đâu phải thơ biện bác hòng thuyết phục. Suy nghiệm nép mình trong xúc cảm, triết lí chìm trong nỗi niềm, ấy là cách trữ tình của Khơi. Thế nên, Khơi chiêm nghiệm bằng lục bát thật nhuyễn: Từ lâu tôi khinh tôi rồi / từ lâu tôi thả tôi trôi mịt mùng, hay: Tôi câm tôi hát không lời / khép thời gian lại tôi ngồi chơi đêm, Và rằng trời trọ vào tôi / đi tìm cái nghĩa con người thế gian... Một đêm ở trọ nỗi buồn / cùng hòn sỏi với đám sương nằm kề / chợt nghe hòn sỏi nói mê / màu hoa năm ngoái đang về cùng xuân... Những câu lục bát như thế có thể buông neo lâu dài trong cõi chữ của chàng thi sĩ nặng nghiệp thơ này.
Đọc Khơi, ta gặp một con người ở thế gian.
Đọc Khơi, chợt thấy mình sợ thơ hơn trước.
--- Làng Quốc tế Thăng Long, Kỉ Sửu
C. V. S
---
Ở THẾ GIAN
Mai kia ngủ giấc thiên thu buông tay bỏ lại tù mù thế gian
Vầng trăng đáy nước ngấn vàng từ lâu ta đã để tang ta rồi
Bây giờ dắt cỏ rong chơi cỏ ơi, những dấu con người còn không?
Bây giờ dắt gió lông nhông gió ơi, đáy của mênh mông chỗ nào?
Từ ngày biết có chiêm bao dắt tay hư ảnh tìm vào gọi tên!...
thu 2008
Ở TRỌ
Một đêm ở trọ nỗi buồn cùng hòn sỏi với đám sương nằm kề chợt nghe hòn sỏi nói mê màu hoa năm ngoái sắp về cùng xuân.

TA VỀ CÕI TA
Ta về ở ẩn trong ta đem thân thoáng chốc làm quà tặng chơi khuất thì khuất một ta thôi ngày đương trưa nắng chia ngôi thật dài
Đời ta không kể ngắn dài tình ta bỏ lẽ đúng sai lại rồi trong bao la một ta ngồi một ta chơi với một người là ta
Không hề trẻ sao lại già không là lá chẳng thành hoa, chẳng gì sinh ra là để mất đi mất đi là để ta về cõi ta
Ta về ở ẩn trong ta tấm thân cát bụi... như là thế thôi.
GIAO THỪA
Xanh về thì vàng ra đi nhẹ nhàng, lá chả bấc chì gì nhau
Giao thừa thời khắc đỏ au lửa hương, tàn pháo, hoa đào, môi son
Giao thừa khoảnh khắc chon von tưởng tan xác, lại vẫn còn tháng năm
Hương thơm chẳng nói chẳng rằng cứ dìu xuân lại ăn năn bên vườn.
Đêm Trừ tịch, Kỷ Mão

CHỮ TÌNH
Thơ vui cho M. cùng N.
Là người khó nữa là tiên ta - thân cát bụi cư miền dương gian Tiên Đồng, Ngọc Nữ là nàng ai xui nhan sắc quá giang xuống trần
Chữ tình vốn lắm phù vân gặp đây nâng chén ân cần tạ nhau rằng phận ta, xá gì đâu e cho đường kẻ sở cầu so đo
Chân sương chớp một cánh cò đặt thẳm lạnh nỗi âu lo lại lòng ta thường cậy rượu cân đong bao nhiêu máu lệ cho bằng sắc hương
Bao nhiêu khổ luỵ trên đường cho bằng một nấm cỏ sương cuối trời!..
26/8/2001
BÊN SÔNG
Đêm lên, khi chạm vầng đông là khi chim sáo sang sông với người
Sông không vì ai ngừng trôi không vì ai cả đổi rời bến xưa
Vẫn màu mây trắng nguyên sơ trên sông ngày ấy bây giờ còn kia
Có người từ lúc người đi thân như nước chẩy, lòng thì núi non.
4/5/2002

KHI TÌNH QUÁ MỘT GANG TAY
Chiều còn chừng một gang tay bên kia vàng nắng, bên này trắng sương một gang...ngỡ mảnh vô chừng mà trăm năm vẫn đôi phương mịt mờ
Cao không quá một câu thơ chữ Tin thì tối, chữ Ngờ thì trong sâu không quá một tấc lòng mà đi không gặp, mà mong chẳng thành
Chiều vàng, chiều tím, chiều xanh đẹp sao đẹp tận mong manh thế này khi tình quá một gang tay thì nghiêng vạt áo gói ngày làm đêm.
24/9/2003
---
Đ.T.K
|